TRẦN HUỲNH DUY THỨC & Con đường nào cho Việt Nam – Phần 13

TRẦN HUỲNH DUY THỨC & Con đường nào cho Việt Nam – Phần 13

PHẦN III

Con đường Việt Nam –

Con đường phát triển đất nước trên nền tảng quyền con người

Giới thiệu về cuốn sách

“Con đường Việt Nam”

“Dâng tặng Mẹ Việt Nam tất cả tri thức Mẹ đã ban cho đứa con Lạc Hồng này.

Thương tặng Má, người chưa từng dạy con một tiếng yêu nước nhưng cách Má chăm sóc cọng cỏ, ngọn cây, con gà, con chó và lòng thương người của Má dành cho những người nghèo khổ đã truyền cho con tình yêu quê hương chẳng biết tự bao giờ.

Kính tặng Ba, người đã truyền cho con lời dạy: “Phải học để trở thành người tốt”.

Thân tặng gia đình yêu thương và những người đã dành tình yêu và sự ủng hộ cho tôi.”

Đó là những dòng chữ đầu tiên mà Trần Huỳnh Duy Thức đã viết khi khởi sự biên soạn cuốn sách Con Đường Việt Nam. Tình yêu quê hương, đất nước là động lực to lớn thúc đẩy Trần Huỳnh Duy Thức biên soạn cuốn sách này. Càng nghiên cứu sâu về tình hình kinh tế – chính trị – xã hội của Việt Nam, Trần Huỳnh Duy Thức càng nhận ra những nguy cơ nghiêm trọng đe dọa đất nước ngày một tới gần và tất yếu sẽ diễn ra nếu không có những biện pháp chấn chỉnh, đối phó kịp thời. Thế nhưng những lá thư cảnh báo gửi cho những người lãnh đạo đất nước chỉ nhận được một sự im lặng. Ý thức được rằng cuộc khủng hoảng kinh tế – chính trị – xã hội sắp diễn ra sẽ đe dọa đến vận mệnh đất nước, trực tiếp tác động lên cuộc sống của hàng chục triệu người dân, Trần Huỳnh Duy Thức quyết định phải nghiên cứu để tìm cho ra bản chất của các vấn đề mà đất nước đang gặp phải, qui luật của sự phát triển thành công của các nước trên thế giới và quan trọng hơn cả là con đường nào phù hợp với Việt Nam để phát triển thành một nước thịnh vượng, văn minh thực sự.

Đầu năm 2008, nhóm nghiên cứu Chấn quyết định viết quyển sách Con Đường Việt Nam.

Trần Huỳnh Duy Thức đảm nhận trách nhiệm điều hành kiêm phụ trách phần “Sách lược phát triển Kinh Tế”. Lê Công Định phụ trách phần “Cải cách Tư Pháp và Hành Chính”, gọi tắt là cải cách pháp luật. Lê Thăng Long phụ trách phần “Biển Đông”. Ngoài ra để hoàn thành công trình này, nhóm nghiên cứu Chấn dự định mời thêm nhiều nhân sĩ, trí thức cùng hợp tác. Với tiêu chí duy nhất là lòng yêu nước và cùng trăn trở cho vận mệnh và tương lai của đất nước, nhóm Chấn đã mời nhiều nhân vật có uy tín, có tiếng, thuộc các thành phần khác nhau, không phân biệt quan điểm chính trị.

Trong giai đoạn này, nhóm Chấn cũng đã tiếp xúc với ông Nguyễn Sĩ Bình (một người lãnh đạo của đảng Dân chủ Việt Nam) để nhờ ông giúp đỡ tìm kiếm các số liệu, dữ liệu nghiên cứu và mời hợp tác viết cuốn sách Con Đường Việt Nam.

Vào lúc bị bắt hồi tháng 5 và 6 năm 2009, Thức, Định và Long vẫn còn đang viết dở dang phần của mình phụ trách trong cuốn sách. Các dữ liệu chính lưu trữ trong máy tính cá nhân đều bị thu giữ để làm bằng chứng kết tội, các máy tính cá nhân này sau đó đều bị sung công đem ra bán. Tuy nhiên, cuốn sách đã không vì vậy mà dang dở toàn phần. Rất may gia đình của Trần Huỳnh Duy Thức đã tìm được một phần đang viết dở của Thức lưu trữ trong một USB và công bố nội dung này. Về phần mình, ý thức được tầm quan trọng của việc hoàn thành cuốn sách trong giai đoạn nguy cấp này, Trần Huỳnh Duy Thức đã tận dụng mọi cơ hội để viết tiếp công trình còn dang dở của mình mặc những khó khăn chốn lao tù. Thức đã trình bày nội dung cuốn sách trong đơn kháng cáo. Năm 2011 khi đã bị chuyển đến trại giam Xuân Lộc, anh tiếp tục viết lại nội dung tóm lược những ý chính của cuốn sách dài 50 trang giấy. Lúc đó, Lê Thăng Long đã chép lại nội dung này xen kẽ trong các lá thư gia đình và mang ra khi mãn hạn tù.

Cuốn sách Con Đường Việt Nam là tâm huyết của Trần Huỳnh Duy Thức và những người bạn cùng chí hướng của anh dành cho đất nước và dân tộc. Cái giá phải trả cho những tấm lòng yêu nước này là những bản án tù đày khắc nghiệt, làm mất đi cơ hội hoàn thành cuốn sách tâm huyết của họ. Nhận ra ý nghĩa to lớn của cuốn sách xét trong hiện trạng xã hội hiện nay, Phong trào Con Đường Việt Nam quyết định biên tập lại nội dung của cuốn sách từ những tài liệu thu thập được. Chúng tôi tin rằng  những tư tưởng và giải pháp trong cuốn sách rất có giá trị, đúng đắn và thích hợp để đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng và nguy cơ bị thôn tính, do đó cuốn sách Con Đường Việt Nam được biên tập lại với ước nguyện chuyển tải đến quý độc giả nội dung các tác giả muốn gửi gắm. Hy vọng một ngày không xa các tác giả sẽ có cơ hội hoàn thành cuốn sách tâm huyết của mình.

Bố Cục

Ở phần III này, tức nội dung cuốn sách Con Đường Việt Nam được biên tập lại, bố cục sẽ gồm các phần sau:

Chương I: Đặt vấn đề – các câu hỏi cần suy xét trước khi nghiên cứu, tìm ra con đường để chấn hưng và phát triển đất nước. Đây cũng chính là những trăn trở luôn nung nấu trong lòng tác giả suốt 5 năm trước khi quyển sách Con Đường Việt Nam ra đời.

Chương II: Những nhận thức tiền đề – sẽ trình bày những nguyên lý vận hành của các qui luật khách quan trong các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội của con người, bao gồm những qui luật đã được thừa nhận rộng rãi, những qui luật được rút ra từ các học thuyết của Mác và cả những qui luật mới được phát hiện trong quá trình nghiên cứu tìm lời giải cho Con Đường Việt Nam. Trong số những cái mới này có cái được thực chứng thông qua số liệu thực ở nhiều nơi trên thế giới nhưng có nhiều cái được phát biểu ở dạng tiền đề (không thể chứng minh được) để làm nền tảng lý thuyết cho việc lý giải nhiều sự kiện phổ biến trên thế giới. Các tiền đề dù không chứng minh được nhưng đó là kết quả của một quá trình quan sát kỹ các hiện tượng phổ biến trên thế giới, phân tích sâu vào bản chất của chúng và suy luận rộng mối quan hệ của các bản chất này thành những nguyên lý mang tính qui luật. Điều quan trọng là những nguyên lý này phải lý giải được các hiện tượng tương tự một cách logic biện chứng. Đây cũng là nguyên tắc nghiên cứu được cuốn sách Con Đường Việt Nam áp dụng để phát hiện các qui luật khách quan nhằm giải đáp những câu hỏi ở quá khứ và tìm lời giải cho những vấn đề của hiện tại và tương lai.

Tìm ra sức mạnh và cơ hội từ những góc nhìn mới là mục tiêu của Chương II – những nhận thức tiền đề.

Chương III: Giải pháp và chiến lược – sẽ kiến nghị một mô hình quản lý nhà nước nhằm tạo ra cách thức quản trị đất nước thuận theo các qui luật khách quan nên sẽ hiệu quả và hợp lòng dân; sẽ lý giải và chứng minh cách thức như vậy tất yếu tạo ra một nền tảng chính trị dân chủ. Phần này cũng sẽ kiến nghị một chiến lược phát triển được theo mô hình quản trị chiến lược thông qua việc xác định 2 đích nhắm chiến lược đơn giản nhưng hiệu quả.

Chương IV – Các sách lược tập trung – sẽ đề cập đến 5 lĩnh vực: kinh tế, giáo dục, cải cách hành chính và tư pháp (gọi tắt là pháp luật), biển Đông và Tây Nguyên. Đây cũng là 5 vấn đề mà chắc chắn Việt Nam sẽ phải đối mặt căng thẳng một khi khủng hoảng nổ ra. Chúng được lựa chọn tập trung vì vừa mang tính cấp bách để đối phố với khủng hoảng, vừa mang tính lâu dài để phát triển đất nước bền vững. Dựa trên những nhận thức tiền đề ở Chương II và giải pháp chiến lược ở Chương III, Chương IV này cũng sẽ đưa ra các sách lược cụ thể cho 5 lĩnh vực/vấn đề nêu trên nhằm không những để đất nước tránh được thảm họa mà còn nhanh chóng phát triển bền vững sau đó. Sách lược kinh tế sẽ giới thiệu một mô hình phát triển kinh tế dựa trên một chiến lược gọi là điểm cân bằng: tận dụng các lợi thế và sức mạnh từ bản sắc văn hóa, lịch sử của dân tộc và địa chính trị của đất nước để biến Việt Nam thành một trung tâm giao lưu kinh tế, giao thoa văn hóa giữa các xu thế đông và tây. Con Đường Việt Nam sẽ lý giải vì sao những sự giao lưu và giao thoa như vậy sẽ tự động hướng tới và hỗ trợ tạo ra sự cân bằng giữa các xu thế đó, nhờ vậy mà Việt Nam hưởng lợi, đồng thời góp phần tạo ra sự ổn định, hòa bình cho thế giới. Bốn sách lược còn lại cũng được xây dựng trên quan điểm chung này.

Chương V – Tóm tắt các kiến nghị – sẽ hệ thống hóa lại tất cả những đề nghị đã nêu trong các Chương II, III, IV, đồng thời cũng đưa ra lưu ý một số hành động cần thực hiện ngay để hãm phanh tình trạng trầm trọng đang càng xấu đi cũng như một số việc cần tránh vì có thể sẽ làm trầm trọng hơn tình hình trong lúc xảy ra khủng hoảng.

Con đường phát triển đất nước
trên nền tảng quyền con người

(Nội dung tóm lược cuốn sách“Con đường Việt Nam”)

Chương I – Đặt Vấn Đề

Vì sao Việt Nam đã đổi mới và có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao liên tục trong hơn 23 năm qua nhưng vẫn còn là nước nghèo? Vì sao rất nhiều nước đã có thể chế chính trị đa đảng hơn nửa thế kỷ rồi mà vẫn dậm chân ở mức thu nhập trung bình trong hơn 20 năm qua, thậm chí nhiều nước vẫn còn nghèo đói và đầy rẫy các vấn nạn tham nhũng cường quyền? Tại sao Trung Quốc chỉ có một đảng cầm quyền lại có thể tạo  ra sự phát triển nhanh chóng liên tục hơn 30 năm qua, nhưng phải đến hơn 40 năm nữa (2050) mới chỉ tới được giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội? Liệu nước này có tránh được cái bẫy thu nhập trung bình nhiều nước đã bị mắc vào để tiếp tục phát triển đạt được sự dân chủ và thịnh vượng, hay sẽ sụp đổ bất ngờ như Liên Xô trong giai đoạn đầu phát triển đã có sự tăng trưởng nhanh chóng và những thành tựu lớn hơn nhiều những gì Trung Quốc làm được 30 năm qua? Làm sao mà đảng Dân chủ tự do (LDP) tại Nhật và Hành động nhân dân (PAP) tại Singapore là đảng duy nhất cầm quyền liên tục trong một thời gian dài ở các nước này lại đưa đất nước họ phát triển bền vững, nhanh chóng để trở thành các nước thuộc thế giới thứ nhất trong thời gian cầm quyền của những đảng đó? Vì sao mà nghèo đói, tham nhũng, cường quyền có thể tồn tại phổ biến và hoành hành tại bất kỳ nước nào dù ở đó có một hay nhiều đảng chính trị, bất chấp ý thức hệ chính trị khác nhau,và dù ý thức hệ nào cũng đều hướng tới những mục đích tốt đẹp vì con người và được khẳng định, bảo vệ bằng hiến pháp?

Một nền dân chủ được hình thành chỉ bởi ý muốn chủ quan của con người hay tồn tại những qui luật khách quan chi phối sự vận hành của xã hội loài người trong quá trình vận động của nó để đạt đến một nền dân chủ? Và liệu một xã hội dân chủ có tất yếu dẫn đến một xã hội thịnh vượng không? Có hay không những qui luật khách quan chi phối sự vận hành của một thế giới toàn cầu hóa tương tự như qui luật kinh tế thị trường đối với các hoạt động kinh tế? Những đặc tính căn bản của toàn cầu hóa là gì, và có những đặc tính nào từ bản sắc và văn hóa của dân tộc Việt Nam phát huy được thế mạnh do phù hợp với đặc tính của toàn cầu hóa này hay không? Liệu sự hình thành và phát triển của các hình thái xã hội loài người từ lúc nguyên thủy đến phong kiến, tư bản,… là tất yếu theo một qui luật khách quan nào đó bất chấp ý muốn chủ quan của con người, hay các hình thái này chỉ là sản phẩm của nhân sinh quan? Mức độ tồn tại và ảnh hưởng của các tính chất đối ngược nhau trong một xã hội (như lạc hậu và văn minh, cường quyền và dân chủ, tham nhũng và công bằng) có tuân theo những qui luật khách quan nào đó mà con người cần hiểu biết nếu muốn thiết lập những cơ chế hiểu quả để giảm thiểu cái xấu và phát huy cái tốt không? Có những chỉ dấu nào của một xã hội mà có thể đo lường được dễ dàng nhưng lại cho thấy và dự báo tốt mức độ ổn định/bất ổn, phát triển bền vững/khủng hoảng sụp đổ của xã hội đó không?

Vì sao chủ nghĩa Mác bị mất tính hấp dẫn trong khi lý tưởng mà chủ nghĩa này hướng đến là rất cao đẹp, và Mác lại là người đầu tiên dự báo chính xác được hình thái và bản chất của thế giới toàn cầu hóa ngày nay? Vì sao Liên xô sụp đổ? Đây là minh chứng cho sự sai lầm của chủ nghĩa Mác hay đó là bài học quý giá để tránh sự giáo điều, duy ý chí, áp đặt quan điểm chủ quan (của những người vận dụng chủ nghĩa Mác) trở thành qui luật khách quan mà không hề đảm bảo tính logic biện chứng của chính Mác đưa ra? Vì sao khá nhiều nước liên tục thay đổi hiến pháp theo hướng tốt hơn nhưng vẫn bất ổn hoặc càng bất ổn, không phát triển được nữa? Những động lực gì sẽ dẫn đến sự thay đổi và phát triển xã hội một cách tốt đẹp và ngược lại? Làm sao để những động lực này thuần túy kinh tế có thể thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển xã hội một cách cân bằng và công bằng?

Làm sao để Việt Nam phát triển bền vững, nhanh chóng thành một nước dân chủ thịnh vượng? Làm sao lý tưởng “Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” trở thành thực tế? Làm sao để Việt Nam không bị biến thành một dạng nô lệ kiểu mới trong thời đại toàn cầu hóa?

Những câu hỏi trên là những vấn đề phải được phân tích sâu sắc vào bản chất để giải đáp trong quá trình tìm lời giải của Con Đường Việt Nam nhằm rút ra được những nguyên lý, qui luật liên quan của chúng.

Chương II – Những Nhận Thức Tiền Đề

*

*        *

THUỘC TÍNH VÀ QUY LUẬT

Thuộc tính bất biến của tự nhiên

Liệu một hình thái xã hội nào đó có gắn chặt với một thuộc tính bất biến của nó, chẳng hạn như “bản chất của chủ nghĩa tư bản là xấu xa và người bóc lột người”, hoặc “bản chất của chủ nghĩa xã hội/chủ nghĩa cộng sản là tốt đẹp và luôn vì nhân dân”?

Chỉ có những yếu tố nào được định tính bởi Tạo hóa mới có tính bất biến – chính là bản chất của chúng. Con người không thể kiểm soát hoặc thay đổi các bản chất này, chẳng hạn như các nguyên tố hóa học, trọng lực và quyền con người. Tất cả thuộc tính của những gì con người có thể kiểm soát được thì luôn có thể thay đổi, tùy thuộc vào thời đại, sức mạnh con người và quan trọng nhất là vào luật lệ liên quan của Tạo hóa. Ví dụ, con người có thể sản xuất nhiều loại thép khác nhau: rỉ hoặc không rỉ; những chiếc máy bay khác nhau: cánh quạt hoặc phản lực; và những xã hội trái ngược nhau: cường quyền à tham nhũng à nghèo khổ à lạc hậu, hay dân chủ à công bằng à thịnh vượng àvăn minh. Con người sáng tỏ và tuân thủ càng nhiều quy luật tự nhiên và kiến thức của các quy luật này thì thép, máy bay và xã hội được làm ra càng tốt, và càng có nhiều người chấp nhận các sản phẩm của mình một cách thuyết phục. Nói một cách chính xác, sức mạnh của nhân loại tùy thuộc và tỷ lệ thuận với sự hiểu biết của con người về các quy luật của Tạo hóa. Đây là sức mạnh chính đáng và bền vững.

Sự phát hiện của Newton về quy luật Vạn vật hấp dẫn đã không chỉ khai tử chân lý áp đặt sai lầm của Giáo hội La Mã: “mặt trời xoay quanh trái đất” và kéo theo tòa án dị giáo phục tùng của nó, mà còn khởi tạo nên một sự khai sáng vĩ đại về thế giới vật lý cho nhân loại, rồi dẫn đến cuộc Cách mạng Khoa học Kỹ thuật. Và sự thịnh vượng của thế giới đã phồn vinh vô số kể từ sau sự ra đời của Sự thịnh vượng của các quốc gia – một tuyệt tác của Adam Smith đã giúp cho con người hiểu rõ các quy luật tự nhiên về kinh tế. Ông gọi chúng là “hệ thống tự do tự nhiên” mà sau đó được áp dụng rộng rãi bởi nhiều nước tư bản chủ nghĩa một cách rất thành công dưới thuật ngữ ngày nay: “các nguyên lý kinh tế thị trường tự do”. Do vậy, một số người tôn Adam Smith là người sáng lập của chủ nghĩa tư bản. Nhưng đây là một ý kiến sai. Ông đã không khởi xướng một học thuyết cho một chủ nghĩa trong quyển Sự thịnh vượng của các quốc gia của mình, và thuật ngữ chủ nghĩa tư bản chỉ xuất hiện gần một thế kỷ sau tác phẩm của ông. Thay vào đó, ông đã tìm ra những động lực kinh tế nằm ở đâu, chỉ ra cách các động lực này vận hành và làm sao để điều khiển chúng, chính phủ nên làm sao và không nên can thiệp như thế nào để đảm bảo chúng vận hành đúng đắn và tự nhiên (tức là theo đúng bản chất của chúng). Tất cả những điều này bàn đến các quy luật về bản chất của kinh tế, hoặc những nguyên lý của các bản chất kinh tế.

Thuộc tính biến đổi của các hình thái xã hội và lý tưởng của chủ nghĩa

Trên thực tế, chủ nghĩa tư bản không hề được hình thành bởi một bản tuyên bố của một học thuyết được định dạng hoặc đóng khuôn sẵn, đặt ra các quy tắc áp đặt cứng nhắc đối với những người theo nó. Mà nó được thành hình tự nhiên, tức là những ai ủng hộ nó đã tôn trọng các bản chất của kinh tế và những sự tiến hóa diễn ra theo các quy luật của các bản chất này theo chiều hướng của các hoạt động phổ biến. Làm như vậy từng bước, nó đã dần hình thành nên nhiều hình thái xã hội (không chỉ một cái duy nhất) có tên chung là tư bản chủ nghĩa (gợi liên quan đến người sở hữu vốn) và có chung các luật lệ cốt yếu nhằm ủng hộ sở hữu tư nhân để khuyến khích động lực cá nhân cho sản xuất hàng hóa hay dịch vụ vì lợi nhuận, duy trì thị trường tự do cạnh tranh để bàn tay vô hình điều tiết các hoạt động kinh tế, và điều tiết những gì bàn tay vô hình không phát huy tác dụng. Dù đã lan rộng khắp thế giới, xây nên nhiều quốc gia dân chủ và thịnh vượng với sự đa dạng theo thời đại, văn hóa, chính trị, địa lý, tuy vậy những người theo nó đã tạo ra nhiều phiên bản bị lỗi như: những công xưởng bóc lột khắc nghiệt ở Châu Âu và chế độ nô lệ đáng xấu hổ ở Mỹ vào nửa đầu thế kỷ 19, hoặc rất nhiều chính phủ tư bản thân hữu tham nhũng như hiện nay.

Do vậy, rõ ràng là không có thuộc tính bất biến được gắn liền với một hình thái xã hội nhất định và được quyết định bởi học thuyết của nó hoặc chỉ đơn giản bằng cái tên của nó. Thuộc tính của nó sẽ không bao giờ là một tính chất hay đặc trưng được định trước hoặc bẩm sinh, mà là một thuộc tính biến đổi theo mức độ tuân thủ của người dân đối với các luật lệ của Tạo hóa và các hoạt động của họ, đặc biệt là của những người nắm quyền lực.

Lịch sử đã cho thấy nhiều ý thức hệ vốn được ra đời bởi thiện chí và lòng tốt của những người khởi xướng, nhưng đã kết thúc bằng những sự tồn tại ngày càng tệ hại, gây tai họa tràn lan cho cả triệu dân. Đó là do lỗi bẩm sinh lúc thiết kế ra chúng không phù hợp với các nguyên lý tự nhiên hoặc do sự chủ quan áp đặt của những người thực hiện chúng vi phạm tính khách quan của các nguyên lý này. Đó chính là trường hợp của chủ nghĩa Mác và sự thực hiện nó của Lê Nin. Do vậy, không thể nói rằng bản chất của chủ nghĩa cộng sản hoặc chủ nghĩa xã hội là tốt hay xấu. Các thuộc tính của những biểu hiện khác nhau của nó có lúc xấu và tốt nhưng người ta có thể nói rằng lý tưởng, và chỉ là lý tưởng của nó mãi tốt đẹp và vì nhân dân. Tuy nhiên, lý tưởng không phải lúc nào cũng khớp với thực tiễn, chỉ những lý tưởng nào tìm ra con đường đúng thì mới khớp được.

Lực và động lực tự nhiên

Dân châu Âu đã thoát được thảm họa giáo điều của tòa án dị giáo nhờ sự khai sáng của Newton. Hàng tỷ người trên thế giới thoát khỏi thảm họa đói khổ nhờ Bàn tay vô hình của Adam Smith. Đây là những phát hiện vĩ đại nhất của nhân loại. Sự vĩ đại là ở chỗ tìm ra được các lực tự nhiên trong thế giới vật lý và động lực tự nhiên trong thế giới kinh tế. Chính các bản chất này – lực và động lực đã giúp con người tạo nên sức mạnh phi thường, làm nhân loại tiến nhảy vọt từ đó.

Hẳn phải có những lực và động lực và các quy luật của chúng trong thế giới của các vấn đề toàn diện về kinh tế, xã hội, chính trị mà con người nên hiểu rõ để tránh được thảm họa phi dân chủ từ sự giáo điều tương tự, và để các nước đang phát triển tăng trưởng nhanh chóng tham gia thế giới dân chủ, thịnh vượng, và đương nhiên là văn minh nhờ đó.

Động lực cá nhân

Tính cách luôn mưu cầu lợi ích là một động lực phổ quát và tự nhiên của con người. Dù không phải tất cả mọi người đều như thế nhưng xu thế chung áp đảo sẽ luôn là như vậy – một thực tế khách quan và không phải là điều xấu. Thiếu loại động lực này thì xã hội loài người đã không thể hình thành và phát triển.

Những động lực này không cần biết đến các giá trị tốt đẹp trên danh nghĩa được quy định trong các văn bản luật, chỉ thị, nghị quyết hay lý tưởng mà nó chỉ chịu tác động và vận hành theo các giá trị đang tồn tại trong thực tế (theo đúng thực chất của hiện trạng) của các mặt kinh tế, chính trị, xã hội. Đây chính là sự vận động theo các quy luật tự nhiên khách quan: Kết quả được tạo ra dựa trên vấn đề thực chất và giá trị thực tế mà thôi.

Không có động lực của con người thì sẽ không có sự thay đổi xã hội. Các cuộc cách mạng bạo lực có thể tạo ra động lực cưỡng bức nhưng không bền vững. Còn cải cách thì luôn cần phải có động lực tự nhiên – những cuộc cải cách thành công đều phải dựa trên những giải pháp hướng được những động lực này đến những mục tiêu lành mạnh. Tạo ra động lực lành mạnh là đòi hỏi thiết yếu của cải cách tốt đẹp.

Quyền con người

Quyền con người được định nghĩa là những quyền mà chúng ta có được vì chúng ta là con người. Các triết gia Hy lạp cổ đại như Plato, Socrates, Aristotle đã mổ xẻ, phân tích bản chất tự nhiên của con người để thấy rằng con người khác xa với bất cứ loài động vật nào khác trên trái đất. Chúng ta có những phẩm chất rất riêng mà chỉ con người mới có được: chúng ta biết suy nghĩ, biết tự nhận thức, chúng ta có tình cảm và có lòng tự trọng, chúng ta sống trong cộng đồng xã hội có chuẩn mực về đạo đức…Và vì vậy mà chúng ta có những nhu cầu đặc biệt của loài người về hạnh phúc, về tự do, về danh dự, về sở hữu, về trật tự xã hội… Các quyền con người chính là những điều mà chúng ta được làm, được đòi hỏi để bảo vệ nhân phẩm và các nhu cầu tự nhiên đặc biệt của con người.

Các triết gia cận đại như Thomas Hobbes, John Locke đã khẳng định: quyền con người thuộc loại quyền tự nhiên gắn liền với bản chất tự nhiên của con người. Vì chúng là quyền tự nhiên nên có tính phổ quát toàn cầu cho mọi người một cách bình đẳng, không phân biệt. Nhà nước không phải là cơ quan cấp các quyền này cho người dân mà ngược lại nhà nước được người dân ủy quyền để bảo vệ các quyền của mỗi người không bị người khác xâm phạm, để mỗi người có cơ hội được sử dụng tối đa các quyền của mình.

Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế (UDOHR) của Liên Hợp Quốc tuyên bố và tin rằng con người chỉ thực sự tự do khi không phải sợ hãi và không bị thiếu thốn. Nhằm mục đích này, bản Tuyên ngôn đã được cụ thể hóa thành Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCE) nhằm bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản này trên toàn thế giới. Các quyền này liên quan đến quyền sống, quyền tự do và bình đẳng, quyền được pháp luật bảo vệ, quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tự do ngôn luận, được giáo dục, hưởng các chế độ phúc lợi xã hội, làm việc và nghỉ ngơi, tham gia quản lý đất nước… Các quyền này là thiêng liêng và do Tạo hóa ban cho để con người được sống với đúng phẩm giá của một con người. Do vậy ủng hộ các quyền này tức là tuân theo các qui luật tất yếu khách quan, chính là các luật của Tạo hóa.

Không phải ngẫu nhiên mà hầu hết các nước thuộc thế giới thứ nhất tôn trọng trước tiên và bảo vệ trên hết các quyền đó trong hiến pháp của họ một cách đầy đủ, và làm cho chúng có hiệu lực trong thực tế. Chính cách thức này đã đưa các quốc gia này trở thành những đất nước dân chủ và thịnh vượng nhất thế giới.

Tính toàn vẹn của các quyền con người

Một máy bay sẽ không thể cất cánh nếu nó được thiết kế bởi những qui tắc không nghiêm ngặt tuân thủ luật vạn vật hấp dẫn, định luật Bernoulli, v.v… Ngay sau khi giành được chủ quyền từ Vương quốc Anh, người Ấn Độ đã ủng hộ quyền chính trị cho nhân dân bằng một chế độ đa đảng. Nhưng quyền kinh tế của họ lại bị hạn chế một cách khắc nghiệt nên họ chỉ có được một sự tự do khuyết tật, vì vậy không tạo ra được một nền dân chủ thực chất. Do đó, họ chìm đắm trong cơ hàn cho đến khi họ hủy bỏ cơ quan cấp phép khổng lồ vào năm 1991, khởi đầu cho sự dân chủ trong hoạt động kinh tế. Hàng chục triệu người Ấn đã thoát khỏi sự bần cùng hóa từ đó, kéo theo các thành tựu khác về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, công nghệ, quốc phòng, v.v… Điều này giải thích vì sao Châu Phi vẫn còn đầy rẫy các dân tộc khốn khổ bất chấp sự tồn tại tràn lan lâu nay của rất nhiều đảng chính trị.

Trung Quốc và Việt Nam tạo ra một phiên bản khác về sự vi phạm tính toàn vẹn của các quyền con người. Hai nước này đã thừa nhận quyền kinh tế cho người dân nhưng vẫn tước đoạt không khoan nhượng quyền chính trị của họ, gây nên một kiểu tự do què quặt khác. Mặc dù mô hình này có thể tạo nên sự tiến bộ kinh tế và các thành tích ấn tượng về xóa đói giảm nghèo, nhưng nó cũng đồng thời nuôi dưỡng bất bình và suy thoái xã hội rồi nhốt chúng lại. Khi sự trầm trọng này trở nên mục rỗng thì nó sẽ dẫn tới việc bộ máy chính trị tự dân chủ hóa hoặc sẽ kết thúc trong sụp đổ toàn diện về kinh tế, xã hội, chính trị và một chế độ bị lật nhào. Đây là tiến trình tất yếu vì nó phá vỡ sự toàn vẹn của các quyền con người vốn thuộc về luật của Tạo hóa. Dưới tác động của toàn cầu hóa và xã hội Internet, tiến trình này sẽ diễn biến rất nhanh, nhanh hơn đã từng chứng kiến trong thời gian chiến tranh lạnh dẫn đến sự tan rã của hệ thống Đông Âu và Liên Xô.

Quyền con người phủ rộng không chỉ các nhu cầu của một cá nhân: từ quyền sinh ra tự do và bình đẳng, quyền sống và mưu cầu hạnh phúc, quyền sở hữu tài sản, quyền hưởng an sinh xã hội, làm việc và nghỉ ngơi, được giáo dục và chăm sóc y tế, không bị tra tấn, bóc lột, được pháp luật bảo vệ, hưởng thụ các thành tựu văn hóa và kỹ thuật; mà nó còn thể hiện mối quan hệ giữa con người và xã hội: quyền được lập hội, biểu tình, được thành lập và tham gia công đoàn, được tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, quyền tham gia vào việc quản lý đất nước. Mỗi quyền đóng một vai trò nhất định trong cuộc sống của mỗi người, tổng hòa trong một trật tự xã hội tạo ra sự phát triển tự nhiên và cân bằng. Không thể viện dẫn lý do về văn hóa, thể chế chính trị để biện minh cho sự cắt xén, hạn chế các quyền con người ở riêng một quốc gia nào như điều khoản cuối cùng của bản Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế đã viết: “Không được phép diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong Bản tuyên ngôn này theo hướng ngầm ý cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia vào bất kỳ hoạt động nào hay thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm phá hoại các quyền con người nêu trong Bản tuyên ngôn này”.

This entry was posted in Ebook THDT&CĐVN. Bookmark the permalink.

One Response to TRẦN HUỲNH DUY THỨC & Con đường nào cho Việt Nam – Phần 13

  1. Việt Hưng says:

    “Phản bâc lại Thuyết Địa Tâm của Aristotle được truyền bá bởi Giáo Hội Công Giáo La Mã là Thuyết Nhật Tâm do Corpecnics khởi xướng và được Galileo Galilei kiểm chứng sau những quan sát và tính toán của nhà thiên văn này dựa vào phát minh ra kính viễn vọng của Galilei. Việc công bố phát kiến này đi ngược lại với Giáo Hội luôn coi Trái đất là trung tâm vũ trụ.”
    Một chút đóng góp xin được gửi đến website.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s