TRẦN HUỲNH DUY THỨC & Con đường nào cho Việt Nam – Phần 2

TRẦN HUỲNH DUY THỨC & Con đường nào cho Việt Nam – Phần 2

Từ nhỏ không ai nghĩ Thức lớn lên sẽ là một doanh nhân, huống chi là một nhà đấu tranh vì sự bình đẳng, dân chủ và thịnh vượng cho đất nước. Thức rất say mê khoa học, phát minh, sáng chế, Thomas Edison là người mà anh ngưỡng mộ từ nhỏ và muốn lớn lên mình làm được như ông ấy. Ngay sau khi biết đọc chữ thành thạo thì những quyển sách gối đầu nằm của Thức là Toán học vui, Vật lý vui và Hóa học vui. Thức tò mò khám phá bất kỳ máy móc thiết bị gì xung quanh mình, kể cả những cái bị cấm vì nguy hiểm. Thức thường đặt ra những câu hỏi để giải thích các hiện tượng tự nhiên mà nhiều cái thầy cô không trả lời được. Dù phải la chừng nhưng ba Thức kể rằng ông không bao giờ quở trách khi anh mở tung khám phá một món đồ gì đó. Ông còn tỏ thái độ thích thú và khuyến khích. Có lẽ do vậy mà Thức có được một tính cách luôn đào sâu đến tận cùng bản chất của vấn đề từ nhỏ.

Năm 1973, lúc Thức mới 7 tuổi, ba Thức đi tu nghiệp ở New Zealand mang về một đồ chơi xe lửa chạy bằng điện trên đường ray, dù còn mới  nguyên nhưng không chạy được. Ba Thức nhờ thợ điện sửa nhưng cũng không chạy. Thế mà Thức lại làm nó chạy ngon lành. Cả nhà ai cũng ngạc nhiên nhưng vẫn nghĩ Thức mày mò và gặp may. Nhưng Thức đã giải thích nguyên lý của động cơ điện một chiều đọc được trong sách Vật lý vui và chỉ ra chỗ lắp sai ở toa đầu kéo. Càng lớn Thức càng cho thấy khả năng đặc biệt của mình trong việc tìm hiểu sâu vào bản chất bên trong của các hiện tượng để nắm vững nguyên lý vận hành của chúng, rồi phát triển các nguyên lý đó thành qui luật tự nhiên.

Thức say mê nghiên cứu, sáng chế những đồ dùng, đồ chơi từ những kiến thức học được. Gần như không chấp nhận lý thuyết suông, Thức phải thực nghiệm để chứng kiến kết quả của chúng thì mới hài lòng. Những năm còn đi học điều kiện thực hành lúc đó rất khó khăn nên Thức luôn tự sáng tạo ra các thiết bị thực hành cho mình từ bất kỳ những gì xung quanh mà mình có, kể cả chấp nhận nhịn ăn sáng lấy tiền ra chợ lạc xoong tìm mua vật liệu cần thiết. Khi vừa học xong lớp 9 thì Thức đã biết lắp ráp và sửa chữa thành thạo các thiết bị điện tử như radio, TV, amplifier. Nhờ đó Thức có được một cái nghề để kiếm tiền mua sách và những dụng cụ học tập khác cho đến lúc tốt nghiệp đại học.

Thức trúng tuyển ngay lần thi đầu tiên vào đại học Bách khoa Tp.HCM năm 1984 với điểm cao và được chọn vào lớp điện toán đầu tiên của trường này (lớp 84 ĐT-2). Khi mà các bạn đồng trang lứa vùi đầu vào ôn, luyện thi đại học thì Thức lại rất ung dung chỉ học vừa đủ để nắm được những nguyên lý cốt lõi, không bao giờ chạy theo học cách giải các đề thi mẫu. Theo hoàn cảnh chung vào thời đó, ba mẹ của Thức lo lắng, không biết Thức không tập trung luyện thi như vậy thì làm sao vào được đại học Bách Khoa, một trường rất khó đậu vào thời kỳ đó mà lại còn có lý lịch không được ưu tiên. Ba cứ gặng hỏi Thức học hành thế nào, Thức chỉ trả lời là: “Con sẽ đậu, ba đừng lo”. Trong lúc đó, Thức lại đọc rất nhiều các tác phẩm văn học. Thời kỳ ấy những tác phẩm văn học phương Tây rất bị hạn chế nhưng Thức vẫn tìm đến chợ sách cũ để mua những cuốn lúc đó bị cấm để đọc. Dù say mê khoa học kỹ thuật nhưng Thức lại rất cân bằng với các kiến thức xã hội. Thức đọc cả sách triết học và tôn giáo dù Thức có tư tưởng vô thần mãi đến hơn 30 tuổi. Đọc sách là một sở thích lớn của Thức, đọc ở bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu có thể.

ThucNienThieu

Trần Huỳnh Duy Thức thời niên thiếu

 

Sau năm 1975, Thức theo má hồi hương về quê ở vùng Đất Đỏ, Bà Rịa – Vũng Tàu. Sáng đi học, chiều đi chăn bò, tối đi canh trộm thuê cho một vườn cây ăn trái rộng hơn một mẫu. Đọc sách trên lưng bò, ở sân trường hay chong đèn bão nằm đọc trên tấm phản tre giữa đêm hoang vu, giá lạnh là hình ảnh mà những người ở quê thường thấy ở Thức thời thơ ấu.

Năm Thức đang học lớp bảy, ba Thức từ Sài Gòn về quê lúc trời đã chập tối. Nghe Thức đã đi canh trộm thuê ở một khu vườn tại Long Hải cách nhà gần mười cây số, ba Thức tức tốc đạp xe ra đó và thấy Thức đang ngồi tựa gốc cây đọc quyển “Thép đã tôi thế đấy” dưới ánh đèn bão leo lét. Ba kéo Thức lại xoa đầu và nói: “Nhà mình nghèo lắm, ba má không có của cải gì để lại cho các con. Nhưng sẽ bằng mọi giá cho các con học. Hãy ráng học để có kiến thức mà trở thành người tốt và có ích”. Sau lần đó, dù khó khăn rất nhiều nhưng gia đình vẫn quyết tâm đưa Thức trở lên Sài Gòn để có điều kiện học hành tốt hơn. Lời dạy của cha đã theo Thức như một hành trang trong suốt cuộc đời sau này, cả sau khi đã rời đại học.

Trong tù Thức đã làm một bài thơ tặng ba mình nhân Ngày lễ các Người Cha:

 

Tôi có báu vật quý nhất cuộc đời

Bên tôi không rời bất chấp phong ba

Giúp tôi vượt qua trùng trùng giông bão

Giữ mãi vươn cao công lý niềm tin

Tôi có báu vật không bao giờ mất

Chẳng thể ra đi như của cải vô thường

Mãi không hao mòn chia bao người sử dụng

Phong phú hơn thêm dù tặng mãi cho đời

Báu vật đó, lời cha dạy năm xưa

Vào cái thuở tôi còn thơ bé dại

Phải ráng học làm vốn sống đời con

Nên người tốt mang cho đời lợi lạc

Lớn theo thời gian lời cha thành di sản

Truyền mãi muôn đời cho thế hệ mai sau

Bất tận như sông luôn đổ về biển cả

Mãnh liệt như tình cha dành mãi cho tôi

Dù cho thời gian có làm nhòa tất cả

Di sản cha truyền mãi ghi khắc lòng tôi

Dù cha có về nơi tổ tiên nguồn cội

Di sản cha truyền sẽ vẫn mãi xanh tươi

Có một lần, Thức bỏ nhà đi bụi suốt mấy tháng hè hồi lớp tám. Chính nhờ lời cha dạy, phải học để làm người có ích đã kéo Thức ra khỏi những tháng ngày hư hỏng, trở lại mái trường với một quyết tâm học cho giỏi để gia đình không phải lo lắng vì mình.

Ba Thức nói rằng ông cũng không dạy anh yêu nước. Ông chỉ hướng cho con mình sống có nhân cách và có ích, đừng vì mình mà làm tổn thương người khác, thì tự nhiên trẻ con lớn lên sẽ sống có trách nhiệm với mình và đất nước. Những hạt giống như vậy đã nảy nở trong con người của Trần Huỳnh Duy Thức và cứ lớn mãi, thành những giá trị có ích cho đời rồi truyền cho thế hệ kế tiếp.

Trong tù anh viết thư dạy cho con:

Như vậy sự học chân chính phải xuất phát từ khát khao có được những kiến thức để hiểu biết cuộc sống nhằm mang lại lợi ích cho nhiều người, từ đó tạo ra lợi ích cho chính mình. Nếu học mà chỉ để lấy bằng cấp, học vị để tạo ra cái danh cho mình và mưu cầu lợi ích của riêng mình thì người học đã tự tạo ra một giới hạn làm họ không thể hiểu biết được cuộc sống và đóng góp cho nó. Ngược lại, một người vì hoàn cảnh mà không được học cao, học nhiều nhưng với khát khao chân chính thì người đó luôn vượt qua được những giới hạn của hoàn cảnh để làm nên được những điều lớn lao, có ý nghĩa cho cuộc sống. Còn những kẻ học cao có bằng cấp học vị nhưng trọng danh và chỉ vì có lợi ích của riêng mình thì sẽ không ngần ngại đạp lên người khác để đạt được mục đích của mình, gây tại họa cho cuộc sống. Mà người ta được gọi là có văn hóa khi họ cư xử tốt với người khác, cho nên có học vị, bằng cấp chưa chắc đã có văn hóa.

ThucDaiGD

Trần Huỳnh Duy Thức (ngoài cùng, bên phải) cùng đại gia đình

Thức là người có khả năng tự học khá đặc biệt. Ngoài những kiến thức phổ thông và chuyên môn kỹ sư công nghệ thông tin hấp thụ từ trường học, còn lại tất cả đều do Thức tự học lấy từ sách vở và từ bất kỳ ai mà Thức quen biết. Thức học với phương châm để có sự hiểu biết thật sự chứ không phải để có bằng cấp. Từ một người thợ, người thầy hay một người bạn, thậm chí từ những người bất hạnh và không may mắn trong cuộc sống, Thức vẫn khiêm nhường học hỏi. Khả năng đó không chỉ có được nhờ những nỗ lực muốn học hỏi, mà những ai làm việc chung với anh sẽ nhận ra rằng nó còn nhờ vào tấm lòng luôn nghĩ đến người khác.

Lê Thăng Long đã viết trong một bài tặng sinh nhật bạn:

Nhiều người ngạc nhiên về sự hiểu biết sâu rộng của Thức. Anh có khả năng tự học rất đặc biệt nhờ luôn quan sát kỹ, phân tích sâu và suy luận rộng các hiện tượng để thấu rõ bản chất cốt lõi của chúng. Nhưng gần Thức rất lâu nên tôi hiểu rằng khả năng đó trước hết xuất phát từ một tính cách luôn nghĩ đến người khác của anh. Nghe, thấy một hiện tượng hoặc sự kiện nào đó, việc đầu tiên anh luôn đánh giá xem tác động của nó đối với những đối tượng khác nhau chịu ảnh hưởng như thế nào. Từ đó, anh mới phân tích sâu xa nguyên nhân của các tác động, ảnh hưởng đó và nghĩ ra các giải pháp tối ưu cho vấn đề. Đó có thể là những việc không thuộc trách nhiệm thường xuyên của mình nhưng anh vẫn luôn nghĩ đến nó. Còn nếu là những vấn đề quốc kế dân sinh thì anh chẳng bao giờ bỏ qua.

Ba Thức nói không bao giờ gây ra áp lực bắt ép anh học vì thành tích, vì tranh đua để trở thành người nổi bật. Ông chỉ cố hình thành ý thức trách nhiệm rồi truyền cảm hứng bằng tình yêu để tạo động lực học hành cho con. Chắc hẳn cũng nhờ thế mà Thức có được tính cách như trên.

Cũng do vậy mà Thức rất chủ động và tự lập. Ba Thức là thầy giáo Anh ngữ nhưng không trực tiếp dạy anh bao giờ. Thức có cách học tiếng Anh thật lạ. Bước vào lớp 10, Thức tự chế một cái radio đơn giản bằng ống nghe điện thoại ngày xưa, cắm vào dây nguội của ổ điện ở nhà làm ăng-ten và chỉ bắt được đúng một đài VOA tiếng Anh. Hàng đêm trước khi ngủ Thức áp sát ống nghe đó vào tai và cứ để như thế tới sáng, suốt 3 năm như vậy. Sau này những người nói tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ thấy Thức nói chuyện, thuyết trình giữa các hội nghị quốc tế, họ cứ nghĩ Thức là Việt kiều sống ở Mỹ từ nhỏ.

Năm 1987, em trai kế Thức – Trần Huỳnh Duy Linh mất vì tai nạn xe cộ trên đường đạp xe chở gạo từ Long An về Sài Gòn bán kiếm tiền phụ giúp gia đình. Biến cố này đã thay đổi ước mơ trở thành một nhà khoa học, phát minh sáng chế của Thức. Lúc đó Thức đang học đại học năm thứ ba. Nếu tiếp tục theo đuổi ước mơ và đam mê khoa học của mình thì sẽ không thể kiếm ra nhiều tiền để thay đổi hoàn cảnh sống của gia đình. Thời đó phải mất hàng chục năm để một kỹ sư ra trường có chỗ đứng tương đối trong xã hội. Từ đó Thức quyết định trở thành doanh nhân dù vẫn tiếp tục học hết kỹ sư ở đại học Báck khoa. Thức có lúc đi làm thợ canh lò bánh mì vào mỗi sáng sớm để vừa kiếm thêm tiền vừa quan sát cách người Hoa Chợ Lớn làm ăn.

Có lẽ ít ai biết được doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức thành đạt trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin đã khởi nghiệp từ một xưởng sản xuất các vật dụng bằng cao su vào năm 1990, thời điểm mà những ngành tiểu thủ công nghiệp đó hoàn toàn do người Hoa Chợ Lớn kiểm soát. Nhưng chính họ đã chỉ dẫn và giúp đỡ Thức bước vào nghề đó dù Thức không nói được tiếng Hoa.

Đến năm 1993 Thức sang lại xưởng cao su, nhựa để lấy tiền lập nên cửa hàng tin học EIS, rồi sau đó thành lập công ty Công nghệ Thông tin EIS cùng với Lê Thăng Long vào năm 1995. Từ lúc này, ước mơ trở thành nhà khoa học thời niên thiếu của Thức đã phải gác lại mãi.

This entry was posted in Ebook THDT&CĐVN. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s