TRẦN HUỲNH DUY THỨC & Con đường nào cho Việt Nam – Phần 3B

TRẦN HUỲNH DUY THỨC & Con đường nào cho Việt Nam – Phần 3B

Vì là công nghệ rất mới trên thế giới nên sự tương thích với các chuẩn viễn thông là một vấn đề lớn. Trên lý thuyết, nó được thiết kế để phù hợp với các tiêu chuẩn Việt Nam sử dụng, nhưng thực tế lại không hề đơn giản. Các thiết bị truy cập digital mà Duy Việt nhập về không vận hành được với mạng điện thoại của  Việt Nam. Hãng Racal và Bay Networks đã gửi các chuyên viên đầy kinh nghiệm từ Singapore và Mỹ qua Việt Nam để trực tiếp lắp đặt và tương thích hoá nhưng đều thất bại. Công ty Duy Việt lại đứng trước một nguy cơ vỡ nợ còn lớn hơn trước nhiều lần. Nếu không hoàn thành được hợp đồng thì sẽ mất bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bị phạt và khiến nhà quản lý của các công ty cung cấp dịch vụ Internet bị dèm pha do đã không đủ kinh nghiệm nên mời công ty Việt Nam dự thầu. Racal và Bay Networks thông báo rằng họ cần 3 – 6 tháng để xử lý vấn đề này từ khâu sản xuất. Thời gian đó đủ để tiêu tan mọi cơ hội còn lại của Duy Việt. Không chịu thất bại, Thức họp ngày đêm với nhóm kỹ sư của công ty với mục tiêu phải tự giải quyết bằng được những giải pháp tương thích hóa của chính mình. Trách nhiệm được giao cho Tăng Thanh Phong, người sau này trở thành phó tổng giám đốc công nghệ của công ty, nhưng khi đó còn chưa tốt nghiệp Đại học Mở. Dưới sự chỉ huy của Phong, nhóm kỹ sư Duy Việt đã đưa ra được giải pháp và sau đó “ăn nằm lì” tại phòng thiết bị trung tâm của công ty Điện toán truyền số liệu VDC ở Hà Nội mấy ngày đêm liền. 12h khuya vào một tối nóng oi ả, Phong điện thoại cho Thức nói đơn giản: “Chạy rồi anh, giờ tụi em về ngủ bù”.
Nhưng họ đã không thể ngủ. Mấy lời ngắn gọn ấy như một tin thắng trận được truyền nhanh chóng từ Bắc chí Nam, đánh thức mọi người trong công ty rằng “chúng ta sống rồi”. Có người đã nói vui: “Anh Phong giống như Wellington báo tin thắng trận ở chiến trường Waterloo về vậy”. Mà cũng gần như thế, nếu Wellington thất bại trước Napoleon trong chiến dịch đó thì cục diện châu Âu giờ chắc chắn khác. Nếu Phong và các kỹ sư Duy Việt đã không thành công vào đêm hôm ấy thì xu thế “Việt hóa” các nhà cung cấp giải pháp công nghệ cho hạ tầng mạng Internet sẽ bị ảnh hưởng rất xấu. Cũng phải ghi nhận rằng những xu thế và thành công đó có phần đóng góp rất ý nghĩa của những nhà quản lý doanh nghiệp quốc doanh có lòng yêu nước như anh Vũ Hoàng Liên, giám đốc công ty VDC lúc đó, đã dám tin và mạnh dạn chọn các công ty Việt Nam thắng thầu – một cách làm không theo truyền thống vào thời đó của tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT), công ty mẹ của VDC.

OC-OpenGlobe

Khai trương One Connection toàn cầu (Singapore)

Đến năm 2000, công ty TNHH Tin học Duy Việt đã trở thành nhà tích hợp hệ thống mạng công nghệ thông tin (Networking Systems Integrator in Information Technology) hàng đầu nổi bật, không chỉ ở thị trường của các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông Internet mà còn cho các ngân hàng, các hãng hàng không và nhiều khu công nghệ phần mềm, khu công nghiệp, v.v..

Nhưng Duy Việt đã không ngừng lại ở sự thỏa mãn với khả năng nắm bắt và chuyển giao công nghệ từ ngoài vào, bởi hoài bão muốn sở hữu công nghệ riêng của người Việt. Tháng 6 năm 2000, Duy Việt chuyển đổi thành Công ty cổ phần Công nghệ thông tin EIS (EIS, Inc.) với tuyên bố sứ mệnh: “Tiến công mạnh mẽ vào thị trường CNTT quốc tế, chuyển tri thức Việt Nam thành những giá trị cao trong nền kinh tế tri thức thế giới” – và mục đích “Đơn giản hóa việc sử dụng mạng Internet” (“Symplifying the Internet”).

Tận dụng thời cơ khủng hoảng dotcom ở Mỹ, EIS chọn mua một công ty sắp phá sản đang sở hữu công nghệ điện thoại Internet dang dở. Cách làm này cho phép rút ngắn thời gian và giảm chi phí đáng kể so với làm từ đầu. Công ty tập trung đầu tư nhân lực, tài lực, trí lực tiếp tục phát triển công nghệ này trong 2 năm. Đến gần cuối năm 2002, EIS đã hoàn thành và đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Đội ngũ nghiên cứu phát triển (R&D) của EIS, Inc. có mặt ở ba nơi: San Jose (California, Mỹ), Sài Gòn (Việt Nam) và Singapore để đảm bảo công nghệ này luôn được cập nhật và hỗ trợ tốt nhất. Cuối năm 2002, EIS, Inc. lập ra cùng lúc hai công ty con có cùng tên gọi One-Connection: ở Việt Nam là công ty cổ phần Internet Một kết nối – OCI (One Connection Internet) và công ty One Connection Toàn Cầu hay còn gọi là One Connection Singapore có trụ sở ở Singapore; với mục đích áp dụng công nghệ cung cấp dịch vụ điện thoại Internet được đặt tên là Infex – Innovation for explosion – Sáng tạo để đột phá.

Trong khi ở Việt Nam công ty One Connection Việt Nam bị nhiều ngăn trở lớn bởi các rào cản giấy phép và những lo ngại về an ninh quốc gia thì tại Singapore, One-Connection đã nhanh chóng nổi lên thành một nhà cung cấp dịch vụ viễn thông trên môi trường Internet toàn cầu. Khi khai trương vào tháng 2 năm 2003 One-Connection Singapore đã có các hãng viễn thông ở Malaysia, Nga, Mỹ ký hợp đồng làm đại lý bán hàng địa phương. Các hãng thông tấn, truyền hình quốc tế và Singapore đưa tin rầm rộ sự kiện công nghệ Việt Nam xuất hiện cạnh tranh vững chãi trên thị trường toàn cầu. Kênh truyền hình Channel Asia lớn nhất Singapore phát lại 3 lần bản tin về One-Connection trong vòng 24 giờ với thông điệp chính: “One-Connection từ Việt Nam thách thức các dịch vụ viễn thông truyền thống”. Các tạp chí công nghệ nổi tiếng thế giới thì giật tít “Việt Nam ghi bàn”, “Bước đột phá ngoạn mục trong cách sử dụng và mô hình kinh doanh điện thoại Internet từ Việt Nam”, v.v… Kể từ đó Trần Huỳnh Duy Thức thường được mời và đối đãi trọng thị bởi cơ quan phát triển kinh tế Singapore theo chính sách thu hút nhân tài và đầu tư của họ.

Họp báo khai trương dịch vụ mới

  OC-Open

Một bài báo giới thiệu đăng trên tờ Singapore Today

Newspaper

Trong lúc One Connection Singapore mang lại nhiều thành quả tốt đẹp ở ngoại quốc thì tại quê nhà, One Connection Việt Nam tuy có cùng mô hình nhưng đã không có được vận may đó. EIS – công ty mẹ của One Connection – đã gặp nhiều trở ngại trong các dự án đấu thầu hạ tầng mạng cho các doanh nghiệp dịch vụ viễn thông và Internet tại Việt Nam. Những dự án này đã không được tuyển chọn vì những lý do không thể minh chứng, có thể coi như không hợp lý. Trong những trường hợp trúng thầu thì công ty cũng gặp khó khăn trong việc thực hiện hợp đồng vì những cản trở không nguyên do. Các công ty đối tác ở các nước như Singapore, Đài Loan dự định làm đại lý cho One Connection Việt Nam khi họ tham gia thị trường thường gặp những cản trở và cảnh báo với lý do ảnh hưởng đến “an ninh quốc gia”.

Dưới sức ép của báo chí, đến gần cuối năm 2003 dịch vụ điện thoại Internet được cấp phép hoạt động tại Việt Nam nhưng khống chế giá sàn 10 UScent/phút. Điều này làm cho các công ty trong nước, trong đó có One-Connection Việt Nam bị trói tay thua cuộc trước các công ty nước ngoài cung cấp giá cạnh tranh mà không bị ràng buộc gì về qui định của Bộ Bưu chính Viễn thông. Thẻ lậu vì vậy mà nở rộ tràn ngập thị trường Việt Nam. Mãi đến cuối năm 2006, do có việc chuyển đổi bộ này thành Bộ Thông tin Truyền thông và thay đổi lãnh đạo ở đó, One-Connection mới quyết định tập trung vực dậy thị trường trong nước. Chỉ trong vòng 6 tháng One-Connection Việt Nam đã đánh bật hoàn toàn thẻ lậu ra khỏi thị trường Việt Nam, tăng đáng kể doanh thu cho mình và giúp chống thất thu thuế cho nhà nước. Đến cuối năm 2008, One-Connection Việt Nam đã chiếm lĩnh đến hớn 60% thị phần điện thoại Internet Việt Nam nhờ ưu thế sở hữu công nghệ riêng của công ty mẹ EIS, Inc.

AdsOnLine

Tại hội nghị giới thiệu chuẩn mực công nghệ mới cho quảng cáo trực tuyến

Cuối năm 2008, trong thời gian One Connection Singapore đang phát triển mạnh mẽ sang thị trường các nước Mỹ, Úc, Canada, Thức đã thuyết phục hội đồng quản trị EIS, Inc. thông qua quyết định đưa doanh số ở nước ngoài về Việt Nam. Vì tấm lòng luôn hướng về đất nước, Thức muốn qua việc này giảm giá thành dịch vụ cho dân trong nước đồng thời tăng phần đóng góp cho ngân sách Quốc Gia. Lúc đó One Connection Singapore được chuyển thành dạng tổng đại lý bán hàng cho One Connection Việt Nam và toàn bộ doanh thu sau chiết khấu được chuyển hết về One Connection Việt Nam. One-Connection Việt Nam trở thành chủ thể cung cấp dịch vụ cho các khách hàng ở nước ngoài và chuyển các trung tâm bán hàng, hỗ trợ khách hàng về Việt Nam. Đây là một mô hình kinh doanh được đánh giá là rất hiệu quả nhờ tận dụng lợi thế cam kết của các nước khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO (World Trade Organization).

Trong lúc mô hình này đang được triển khai tốt đẹp thì vào tháng 3 năm 2009, Sở Thông tin Truyền thông thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định buộc One-Connection Việt Nam ngừng cung cấp dịch vụ và xử phạt hành chính, tiếp theo đó tịch thu các máy móc thiết bị của công ty. Lý do nêu ra của việc xử phạt này là vì các dịch vụ điện thoại Internet cho khách tiêu thụ ở Mỹ, Canada, Úc, Singapore,… là phone-to-phone và mô hình này chưa được cho phép tại Việt Nam. One-Connection Việt Nam là một doanh nghiệp Việt Nam nên phải tuân thủ theo các luật lệ Việt Nam, vì vậy đã vi phạm pháp luật.

Nhận thấy có sự vô lý trong quyết định đó nên One-Connection Việt Nam đã khiếu nại lên Bộ Thông tin Truyền thông. Việc này dấy lên một cuộc chiến pháp lý trên Đài truyền hình Việt Nam (VTV) và một số báo. Sở Thông tin Truyền thông thành phố Hồ Chí Minh khi đó lại thay đổi lý luận và viện dẫn lý do “an ninh quốc gia” một cách mơ hồ. Cùng lúc đó, dưới sự chỉ huy pháp lý của luật sư Lê Công Định, One-Connection Việt Nam đã hoàn tất hồ sơ khởi kiện Sở Thông tin Truyền thông thành phố Hồ Chí Minh ra tòa án hành chính của thành phố và cũng đang nghiên cứu để đệ đơn kiện ở tòa án Singapore.

Dự định nộp chính thức hồ sơ khởi kiện vào ngày thứ hai 25/5/2009, Trần Huỳnh Duy Thức đã ký và hoàn tất hồ sơ vào ngày thứ bảy trước đó (23/05/2009). Nhưng anh đã bị bắt vào Chủ Nhật 24/05/2009 với lý do ban đầu là “trộm cước viễn thông”. Theo sau đó, Lê Thăng Long và Lê Công Định cũng lần lượt bị bắt, khởi đầu cho một vụ án “lật đổ chính quyền” chấn động dư luận lúc đó.

Cáo buộc trộm cước viễn thông đã không tìm ra bất kỳ bằng chứng nào sau hàng tháng cơ quan điều tra sục tìm hệ thống thiết bị và sổ sách công ty. Sau đó chính quyền đã chuyển sang khởi tố “kinh doanh trái phép”. Nhưng đến tháng 12 năm 2009 lý do khởi tố này cũng đã không tìm được bằng chứng nên đã buộc phải hủy.

Song song với các điều tra trên, One-Connection Việt Nam và EIS, Inc. còn bị thanh tra thuế toàn bộ quá trình hoạt động hàng chục năm của hai công ty này. Sau ba tháng thanh tra trong tình trạng liên quan đến “xâm phạm an ninh quốc gia”, cơ quan điều tra đã không tìm ra bằng chứng nào để buộc các công ty này vào tội trốn thuế. Thế nhưng sau đó công ty One-Connection Việt Nam đã bị rút giấy phép hoạt động, và dự án mở rộng của EIS, Inc. ở Đà Nẵng để làm trung tâm hỗ trợ khách hàng toàn cầu đã không được cấp giấy phép. Các công ty này không còn lựa chọn nào khác hơn là giải thể và phá sản. Điều an ủi là nhân viên của hai công ty này đã tìm được dễ dàng những công việc tốt tại nhiều công ty lớn trong và ngoài nước. Có những người đã tìm được việc với mức lương đến 5000 USD/tháng, có những người thành lập doanh nghiệp và cũng khá thành đạt. Tất cả đều ghi nhận EIS là một lò đào tạo nhân tài và Trần Huỳnh Duy Thức, tổng giám đốc EIS, One Connection Việt Nam và One Connection Singapore, không chỉ là người lãnh đạo có tầm nhìn mà còn là một người thầy tận tụy, một huấn luyện viên giỏi, luôn biết truyền cảm hứng, nhiệt huyết và lòng tự hào về Việt Nam cho họ.

10thYearEIS

Kỷ niệm 10 năm thành lập EIS (3/5/2003)

US-OC-Open

Khai trương One Connection tại Mỹ (18/05/2004)

 

This entry was posted in Ebook THDT&CĐVN. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s