TRẦN HUỲNH DUY THỨC & Con đường nào cho Việt Nam – Phần 4A

TRẦN HUỲNH DUY THỨC & Con đường nào cho Việt Nam – Phần 4A

Dấn thân vì yêu nước

Định mệnh buộc người ta rẽ vào một con đường, nhưng điểm đến cuối cùng không dừng tại điểm rẽ đó”.

Trần Huỳnh Duy Thức đã nói như vậy từ chính sự trải nghiệm của cuộc đời mình. Ước mơ cháy bỏng thời niên thiếu của Thức là trở thành một nhà khoa học để phát minh sáng chế, nhưng vì muốn đưa gia đình thoát cảnh nghèo khổ mà anh đã trở thành doanh nhân. Bản tính anh hồi nhỏ không thích kinh doanh lẫn chính trị. Nhưng anh đã trở thành nhà hoạt động đấu tranh vì khát khao một tương lai tươi sáng cho đất nước và vì một Việt Nam dân chủ và thịnh vượng. Có thể nói tình yêu đã tạo ra động lực cho những quyết định của những ngã rẽ định mệnh như vậy. Yêu gia đình anh trở thành doanh nhân. Yêu nước anh trở thành nhà hoạt động đấu tranh chính trị.

Tình yêu là một sức mạnh nhưng chỉ có những tình yêu cao thượng mãnh liệt mới khiến người ta từ bỏ cái tôi mình thích để làm những gì người khác cần, thậm chí phải chịu thiệt thòi vì những điều ấy. Lòng yêu nước của Thức là một tình yêu như thế.

Đầu năm 2002, Trần Huỳnh Duy Thức bay ra Hà Nội công tác và hẹn trước với Lê Thăng Long ở đó: “Tôi đang bị thôi thúc trước một quyết định rất quan trọng nên muốn trao đổi với ông. Hãy dành cả buổi tối này nhá”. Tối đó cũng là một đêm đông, trời rất lạnh nhưng Long luôn cảm thấy mình được sưởi ấm và thôi thúc bởi nhiệt huyết của Thức. Thức bức xúc với sự thờ ơ của Bộ Bưu chính Viễn thông trước những đề nghị của công ty EIS về những công nghệ và dịch vụ mới nhằm mục đích giảm giá cước viễn thông quốc tế. Thức tin rằng viễn thông – Internet là hạ tầng tối quan trọng trong nền kinh tế tri thức, tương tự như hạ tầng giao thông trong nền kinh tế hàng hóa. Một hạ tầng kém đi kèm  với giá cước cao sẽ hạn chế sự lưu chuyển của luồng thông tin và kiến thức giữa nước ngoài và Việt Nam. Từ đó sẽ đưa đất nước đến thế cô lập và bị đẩy ra ngoài luồng cơ hội của xu thế tri thức hóa nền kinh tế thế giới.

Vào thời điểm đó EIS, Inc. đang hoàn tất công nghệ điện thoại Internet với thiết kế riêng của mình và chuẩn bị thiết lập một trung tâm điều hành dịch vụ toàn cầu cho One-Connection tại Việt Nam. Tuy nhiên Bộ Bưu Chính Viễn Thông đã tỏ ra hoàn toàn vô cảm trước những kiến nghị và hồ sơ xin phép của EIS, mặc dù Pháp lệnh Bưu Chính Viễn Thông, số 43/2002/PL-UBTVQH10, ngày 25 tháng 5 năm 2002, đã có hiệu lực. Pháp lệnh khuyến khích những mô hình kinh doanh như vậy, nhưng các cơ quan liên hệ luôn trả lời là phải chờ nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh. Quan điểm vi hiến như trên là kiểu tư duy rất phổ biến của các quan chức Việt Nam.

Sau nhiều lần thúc giục và chỉ nhận được câu trả lời “chờ nghị định” mà không có khái niệm thời gian, Thức đã chọn một cách hành động khác. Thức nói với Long rằng có một giải pháp là EIS sẽ đặt trung tâm điều hành dịch vụ toàn cầu tại Singapore, từ đó có thể gây áp lực ngược trở lại trong nước để được Bộ Bưu Chính Viễn Thông cấp giấy phép sử dụng và cung cấp cho dịch vụ điện thoại Internet tại Việt Nam.

Thức ý thức được rằng làm như vậy thì EIS sẽ không có lợi đối với thị trường trong nước nhưng người dân sẽ được hưởng lợi lớn và các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có cơ hội giao lưu mở rộng quan hệ làm ăn ra nước ngoài nhiều hơn. Một khi điện thoại Internet hiện diện trên thị trường, nó sẽ làm cho giá cước tất cả các loại dịch vụ viễn thông Internet khác giảm nhanh chứ không chỉ có cước viễn thông quốc tế.

Thức nói: “Chúng ta phải hành động nhưng không phải vì lợi nhuận. Điều này sẽ mang lại lợi ích quá lớn cho đất nước để có thế toan tính thiệt hơn. Nếu điều này không xảy ra trong năm sau thì Việt Nam sẽ đánh mất một cơ hội lớn giống như lỡ một chuyến tàu”.

Nhưng điều này sẽ còn gây khó khăn cho chúng ta ở các thị trường cung cấp giải pháp hạ tầng mạng viễn thông và Internet trong nước nữa.” – Long đặt vấn đề.

Thức đáp: “Chắc chắn như vậy, nhưng phải phát triển nhanh thị trường nước ngoài để bù đắp. Nhưng đó không phải điều tồi tệ nhất. Cái khiến chúng ta sẽ trả giá nhiều hơn là ở chỗ việc này sẽ làm dính dáng đến vấn đề chính trị mà lâu nay chúng ta vẫn tránh. Nó sẽ gây cho chúng ta nhiều phiền phức hơn việc phải nỗ lực làm việc nhiều hơn để mở rộng thị trường nước ngoài. Đó là điều tôi muốn ông ý thức rõ trước khi quyết định”.

Long bảo: “Tôi hiểu và sẵn sà̀ng chấ́p nhậ̣n. Làm thôi.” Và Long nói thêm: “Ông không thích nhưng lại có khiếu chính trị lắm đấy”.

Giữa năm 2002, Thức và Long hẹn gặp anh Nguyễn Mạnh Hùng và anh Hoàng Anh Xuân lúc đó là phó giám đốc và giám đốc Công ty Viễn thông Quân đội Viettel. Sau khi được giới thiệu và trực tiếp dùng thử dịch vụ điện thoại Internet bằng chính công nghệ của EIS, anh Hùng và anh Xuân rất ngạc nhiên về chất lượng cũng như khả năng mở rộng ứng dụng các dịch vụ gia tăng của loại mô hình này. Nhưng cả hai anh đều nhận định rằng Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông (VNPT) sẽ tìm mọi cách để ngăn cản nó. Thức nói: “Đó chính là lý do vì sao tụi em gặp các anh để cùng nhau vượt qua sự ngăn cản đó”.

Rồi Thức và Long trình bày về ý định sẽ thiết lập trung tâm điều hành dịch vụ này tại Singapore, tổ chức khai trương ở đó và sẽ mời rộng rãi báo chí cả bên ngoài lẫn từ trong nước qua tham dự.

Thức nói tiếp: “Em tin rằng Bộ Bưu chính Viễn thông sẽ buộc phải mở ra. Điện thoại Internet sẽ là đích nhắm chiến lược đột phá đầu tiên vào sự độc quyền của VNPT đối với các loại hình dịch vụ viễn thông cho người dùng. Điều này cũng sẽ dẫn đến việc phải đưa Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông vào thực hiện”. Long tiếp lời: “Tuy nhiên khi điều này xảy ra thì tụi em sẽ không còn cơ hội đối với thị trường trong nước. Mà nếu không có các công ty viễn thông mới trong nước tập trung thúc đẩy các loại hình dịch vụ và mô hình kinh doanh mới để đối trọng với VNPT thì sự gỡ bỏ độc quyền về pháp lý cũng sẽ không có nhiều ý nghĩa”. Rồi Thức kết luận: “EIS tin rằng Viettel đủ sức để làm đối trọng như vậy nên mới chia sẻ với các anh ý định này. Tụi em sẽ xuyên thủng một lỗ nhỏ và các anh sẽ khoan phá nó ra thành một không gian rộng lớn”.

Anh Xuân khẳng định chắc nịch theo đúng kiểu của một người lính: “Vậy chúng ta cùng chiến nhé!”.

Việc hóa giải độc quyền của ngành viễn thông đã có được một sự xúc tác quan trọng như vậy đó. Tuy không thể kể xiết nhưng mọi người đều thấy được thành quả của việc này quá lớn. Ngành viễn thông công nghệ thông tin của Việt Nam là một ngành kinh tế dịch vu ̣lớn nhất Việt Nam hiện nay. Đây là lĩnh vực có chỉ số giá tiêu dùng liên tục giảm trong cùng giai đoạn mà mức độ lạm phát chung của cả nước tăng lên gấp đôi. Là ngành có tốc độ tăng trưởng hàng năm cao nhất nhưng không hề tạo ra gánh nặng đầu tư công mà còn nộp ngân sách rất nhiều cho quốc gia. Thành công của nó không chỉ tạo ra một ngành kinh tế mạnh mẽ với hàng ngàn doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không hạ tầng (SBO – Service Based Operator) xung quanh các nhà cung cấp dịch vụ có hạ tầng (FBO – Facility Based Operator) lớn của nhà nước như VNPT, Viettel, mà còn tạo nên một môi trường thuận lợi cho các ngành kinh tế khác thông thương hiệu quả với thế giới bên ngoài và làm nền tảng quan trọng cho kinh tế tri thức phát triển.

Cách đây mười năm, ít ai có thể tưởng tượng rằng Việt Nam, từ một nước có mức cước viễn thông Internet cao nhất thế giới, đã trở thành một nước thuộc hạng rẻ nhất hiện nay và đa dạng nhất trong một thị trường cạnh tranh toàn cầu. Thành tựu vượt bậc này không thể có được nếu người dân không có tự do lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ nào mang đến lợi ích cho mình.

Nhưng nó cũng không thể xảy ra nếu đã không có những con người tiên phong dám chấp nhận rủi ro và thiệt thòi như Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long và những nhà quản lý doanh nghiệp tài ba như Hoàng Anh Xuân và Nguyễn Mạnh Hùng của Viettel, những doanh nghiệp nhạy bén như FPT và cả những quan chức cấp tiến có tầm nhìn như cựu thứ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông Mai Liêm Trực cùng thứ trưởng đương nhiệm bộ này là Lê Nam Thắng đã âm thầm nhưng quyết liệt ủng hộ thúc đẩy gỡ bỏ độc quyền viễn thông cho đất nước.

Những lo ngại của các quan chức bảo thủ ở Bộ Bưu Chính Viễn Thông (VNPT) như sau đây đã không xảy ra: “VNPT sẽ chết trong khi nó là trụ cột của ngành viễn thông quốc gia”, “Lấy gì để bù lỗ cho ngành bưu chính để đảm bảo duy trì dịch vụ tem thư giá rẻ cho quần chúng”, “Làm sao đảm bảo an ninh quốc gia khi có quá nhiều các công ty cung cấp dịch vụ không phải của nhà nước”,v.v… Đây là những lý do được đưa ra để bảo vệ và trì kéo sự độc quyền của bộ này và các quan chức tham nhũng đã cổ súy cho những luận điệu này để trục lợi lớn.

Trên thực tế thì thị trường cạnh tranh đã tự giải quyết mọi vấn đề trên và đã giảm được rất nhiều công củ̉a điều tiết, bù lỗ và nhiều quyết định sai lầm. Số lượng doanh nghiệp đã tăng lên hàng trăm lần, quy mô ngành kinh tế cũng tăng lên hàng chục lần và hoàn toàn không xảy ra sự cố mang tính cách “đe dọa an ninh quốc gia”.

Hiện giờ VNPT không còn độc quyền nhưng vẫn chiếm thế thượng phong sau khi bị buộc phải tự cải tổ chính mình để ngày càng mạnh hơn. Đầu năm 2003 khi tranh luận với một Vụ phó của Bộ Bưu Chính Viễn Thông, Thức đã nói: “VNPT sẽ không chết. Chắc chắn như vậy vì nó sẽ buộc phải cạnh tranh và nhờ thế mà nó lớn mạnh. Nó sẽ không còn độc quyền trong một cái ao nhà chưa đến vài trăm triệu đô nhưng nó sẽ chiếm không dưới 50% những con sông đang đổ ra biển lớn tới hàng chục tỷ đô”.

Hình ảnh này bây giờ không còn là viễn cảnh mà là thực tế hôm nay. Viettel không những đột phá thành công trên sân nhà mà đã cạnh tranh vững chắc trên thị trường quốc tế. Ở trong tù, khi xem những tin tức và hình ảnh về Viettel hãnh diện tiến bước vào các nước Nam Mỹ và Châu Phi, Thức đã vui ra mặt. Anh nói với Long: “Nếu Việt Nam giải tỏa được nút thắt chính trị thì ngành ICT[1] của Việt Nam sẽ còn bứt phá ngoạn mục nữa và vươn lên hàng đầu thế giới. Đồng thời các ngành kinh tế khác của đất nước cũng sẽ phát triển mạnh mẽ, người dân sẽ không còn phải luôn than phiền về việc tăng giá điện, giá xăng và nhà nước sẽ đỡ phải vật lộn với hiện tượng lạm phát”.

Thức là như vậy. Anh không bao giờ thôi trăn trở về sự phát triển của đất nước trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Trong tù, các sĩ quan công an thường nói với Thức, Định và Long rằng các anh đã rất thành đạt, có quá nhiều điều kiện để làm giàu và sống sung sướng cho gia đình, lo nghĩ chi đến chuyện chính trị để rước họa vào thân.

Sự “độc quyền lo lắng” như trên, thâm nhập vào một phần quần chúng và giới chức, đã dẫn đến một kết quả rõ ràng trong xã hội ngày nay. Cuộc sống của hàng chục triệu dân đang ngày càng cơ cực mà chưa biết đến bao giờ tình trạng đang ngày càng suy kém này mới chấm dứt. Đây là hậu quả mà Thức đã nhìn thấy từ năm 2006. Anh đã không tiếc sức để cảnh báo, phê phán và đưa ra những cách thức để hầu có thể tránh được nó. Vì lý do đó anh chỉ ngủ mỗi ngày 3 – 4 giờ để dành thời gian nghiên cứu và viết về một con đường dẫn đất nước đến một tương lai tươi đẹp. Và cũng vì thế mà anh đã bị bắt và bị kết án mười sáu năm tù do không thừa nhận những việc mình làm là sai trái và phạm tội.

Tháng 9 năm 2010 khi chuyển về trại giam Xuân Lộc, các sĩ quan của Tổng cục An ninh đã đến nói chuyện với anh Thức. Họ bảo: “Chắc anh thù ghét những anh em bên an ninh lắm hả?”. Thức cười nói rằng: “Các anh chỉ là những người thừa hành phải cố gắng thực hiện những chủ trương sai lầm. Tôi chỉ đấu tranh để thay đổi những đường lối đó để đất nước không rơi vào thảm họa và phát triển tốt đẹp như tôi đã từng làm ở lĩnh vực viễn thông chứ chẳng bận tâm đến vấn đề cá nhân nào cả”. Một sĩ quan đã thừa nhận những đóng góp rất lớn cho ngành viễn thông của công ty EIS và One-Connection cũng như cá nhân Thức. Anh này còn cho biết doanh nghiệp gia đình anh từng là đại lý của One-Connection Việt Nam, nhưng anh ta vẫn cho rằng không nên cầm đèn chạy trước ô tô.

Những vần thơ Thức làm trong tù cũng chẳng vương vấn chút gì của lòng thù hận, mà còn hướng đến sự hòa hợp:

…Vui lên em xinh rạng rỡ đón anh về

Sắp hết rồi những tháng ngày xa cách

Sắp tới ngày giông bão bước cùng anh

Đưa anh đi giữ trọn vẹn câu thề

Dẫn anh về nơi bình yên hạnh phúc…

Con đường giải độc cho vận mệnh đất nước đương nhiên là gian nan hơn nhiều so với ngành viễn thông. Cái giá phải trả cũng đắt hơn nhiều lần. Từ những năm 2004, khi quan sát các chính sách kinh tế vĩ mô, Thức đã nhìn thấy những nguy cơ cho tương lai của đất nước. Nó đã khiến anh từ một người không thích chính trị và chỉ hiểu về kinh tế vi mô tầm mức doanh nghiệp đã miệt mài tự học để có được kiến thức và tầm nhìn về nền kinh tế vĩ mô và chính trị – xã hội. Nhìn ra những khủng hoảng rất nguy hại về kinh tế – chính trị – xã hội đang tới rất gần mà Đảng Cộng sản Việt Nam không thể tự giải quyết các vấn đề này khi các thế lực cơ hội, tham nhũng đang phát triển rất nhanh và kiểm soát quyền lực.

Thức nhìn thấy nguy cơ đất nước rơi trọn vào tay những kẻ cơ hội và ngoại bang là cực kỳ lớn. Xuất phát từ đó với tấm lòng yêu nước mà không hề toan tính thiệt hơn cho bản thân, Thức đã đề ra một chiến lược với hai điểm chính như sau:

– Cảnh báo nguy cơ một cách rộng rãi, phê phán mạnh mẽ những kẻ cơ hội và chỉ ra những âm mưu tiếp tay cho ngoại bang.

– Nghiên cứu để đưa ra một cách thức hóa giải nguy cơ này khi nó xảy ra để xoay chuyển tình thế đất nước theo hướng tiến bộ của dân chủ và thịnh vượng.

[1] Information & Communication Technology/Công nghệ thông tin & Truyền thông

This entry was posted in Ebook THDT&CĐVN. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s