TRẦN HUỲNH DUY THỨC & Con đường nào cho Việt Nam – Phần 4B

TRẦN HUỲNH DUY THỨC & Con đường nào cho Việt Nam – Phần 4B

Chiến lược hai điểm này đã được đưa ra từ đầu năm 2006, trước đại hội thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Điểm thứ hai đã dẫn đến việc viết một quyển sách được đặt tên là “Con đường Việt Nam”. Còn điểm thứ nhất thì Thức đã bàn với Lê Công Định, Lê Thăng Long và thống nhất như sau:

– Thức sẽ chịu trách nhiệm viết các thư cảnh báo gửi cho các lãnh đạo cao cấp của đất nước để chỉ rõ các nguy cơ nói trên. Đồng thời sẽ lập blog để đăng tải các bài viết cảnh báo về các nguy cơ này.

– Định chịu trách nhiệm viết đăng các bài báo trong và ngoài nước để cảnh báo nguy cơ, đồng thời tiếp xúc với các tổ chức chính trị ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam để chia sẻ quan điểm về nguy cơ cũng như cách thức hóa giải nó một cách tốt đẹp cho đất nước.

– Long chịu trách nhiệm mở rộng quan hệ với các thành phần trí thức trong và ngoài nước để cảnh báo nguy cơ, đồng thời học hỏi và tham khảo ý kiến từ họ về cách thức hóa giải.

Ba người đã miệt mài thực hiện những việc trên trong suốt những năm 2006-2008. Trong quá trình đó Thức thường nói với Long và Định rằng cần ý thức với cách hành xử pháp luật lâu nay thì những việc này có thể dẫn đến những rủi ro lớn cho cá nhân nên cần giảm thiểu khả năng xấu nhất. Nhưng nếu bị bắt thì phải biến sự kiện đó thành một dịp để mọi người biết nhiều hơn về những nguy cơ của đất nước và cách thức hóa giải nó. Riêng Thức thì đã chuẩn bị bàn giao chức tổng giám đốc cho người khác nhưng chưa kịp thực hiện dự tính này thì anh đã bị bắt.

Từ khi vào tù, anh đã tận dụng mọi cơ hội để chuyển tải thông điệp về nguy cơ và cách thức hóa giải, dù là trong lời khai, bản tường trình, nói trước tòa, viết trong đơn kháng án, thậm chí trong những đoạn phim do cơ quan an ninh dàn dựng để phân phát rộng rãi cho công chúng. Đến cả khi bị đưa về trại giam Xuân Lộc anh vẫn tiếp tục viết “Con đường Việt Nam”.

ThucTaiToa

Trần Huỳnh Duy Thức trước tòa.

Vào ngày 24/05/2009 Trần Huỳnh Duy Thức bị bắt, tiếp theo Lê Thăng Long bị bắt ngày 04/06/2009 và Lê Công Định bị bắt vào ngày 13/06/2009.

Vụ án nhanh chóng được nhà cầm quyền Việt Nam dựng lên thành một vụ án an ninh quốc gia với tội danh “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều luật 79.

Thức đã nói với hai bạn của mình cố chịu đựng “nhận tội” để có thể nhanh chóng được thả, tiếp tục con đường mà cả ba đã vạch ra. Còn bản thân mình, Thức kiên quyết không nhận mình có tội dù có bị nhục hình ép cung hay được hứa hẹn sẽ được giảm án nhằm mục đích bảo toàn chính nghĩa việc làm của mọi người. Và bản án khắc nghiệt, bất công “16 năm tù giam, 5 năm quản chế ” đã dành cho anh.

Đoán trước kết quả đó, nhưng Thức vẫn không nao núng lên án sự cường quyền bạo ngược diễn ra trong cuộc sống của nhân dân ngay tại phiên tòa. Anh dõng dạc tuyên bố: Tôi không lật đổ chính quyền gì cả. Tôi chỉ chống cường quyền và tôi sẽ còn chống nó đến khi nào còn thấy nó.

Sau khi đã nhận một bản án tàn nhẫn như vậy và được khuyến dụ nhận tội, xin khoan hồng tại phiên tòa phúc thẩm nhưng anh vẫn hiên ngang ngẩng đầu:

Canh Dần khai đại cuộc

Cứu chúng tầm chân như

Khí như tùng bách mộc

Vươn thẳng giữa trời cao

Chống cường quyền hung bạo

Đối mặt phá cuồng phong

Quyết không làm nô lệ

Xứng Nam quốc Lạc Hồng

Tám câu thơ trên Thức làm vào thời khắc giao thừa Tết Canh Dần 2010, chỉ vài tuần sau khi nhận bản án tàn nhẫn dành cho mình. Và khi bị đưa đi tù ở một nơi xa xôi hẻo lánh, đã ba năm tù trôi qua nhưng chí khí đó vẫn không hề nhạt phai trong anh:

…Tháng năm rồi em nhỉ

Bão sắp về lũ lại sắp tràn đê

Giông lại nổi gieo bao nhiêu tai họa

Rắc kinh hoàng trùm nỗi sợ khắp trần gian

Em yêu hỡi cho anh thêm nghị lực

Anh quyết đạp bằng sóng dữ phá cùm gông

Phá u minh phá cường quyền xua sợ hãi

Cưỡi thác ghềnh thuần giông bão trải bình yên…

Bản án kinh hoàng đã làm nhiều người lo sợ cho anh. Nhưng chính Thức lại là người bình thản nhất khi đối mặt với bản án ấy. Anh là người động viên ngược lại cho người thân, gia đình mình đừng quá đau buồn. Bởi vì trong anh có niềm tin vững chắc vào con đường mình đã chọn, vào kết quả tốt đẹp cho một sự thay đổi của đất nước đang tới gần. Lòng yêu nước đã giúp anh đứng vững được trước chông gai, thử thách và sẵn sàng chấp nhận những hy sinh to lớn của bản thân mình.

Dù ngã rẽ này đã dẫn anh đến một định mệnh khắc nghiệt, nhưng anh vẫn bình thản đón nhận nó với một niềm tin vững chắc:

… Chốn lao tù thân xác anh xiềng xích

Nhưng Con đường anh vẫn bước dưới trời thu

Bão tố mưa giông sóng dữ thác ghềnh

Không ngăn được anh đi về phía trước

Em hãy vui lên bão dữ sắp qua rồi

Anh đã thấy bến chờ em đứng đợi

Gió đông chiều thoảng hoa rừng thơm mát

Biết chăng em xuân đang đợi én về…

Khó ai có thể bác bỏ được sự kiên cường, vững vàng của Trần Huỳnh Duy Thức trước cường quyền và lòng quyết tâm chống lại nó của anh. Nhiều người vẫn thường nghĩ rằng đó là điều ít người làm được và hay vinh danh họ như những anh hùng hiếm có không biết sợ là gì. Văn hoá phương Đông thường thần thánh hoá những người như vậy và dẫn đến sự sùng bái thần tượng. Nhưng hãy nghe đoạn đối thoại sau đây giữa Long và Thức khi hai người ở cùng nhau tại trại giam Xuân Lộc:

– Sau khi bị bắt có lúc nào ông cảm thấy sợ không? – Long hỏi.

– Có chứ. Vì đã chuẩn bị tinh thần trước nên ngay khi bị bắt tôi không hề nao núng. Những ngày đầu bị tạm giữ cũng vậy. Nhưng sau đó bị nhốt trong xà lim chật hẹp, kín bưng không thở được thì nỗi sợ đã ập xuống tràn ngập tâm trí mình. Không chỉ là sợ chết mà vô số cảm giác sợ khác không biết chúng là gì một cách cụ thể. Chúng khống chế và điều khiển mọi suy nghĩ của mình, buộc mình phải khuất phục.

– Nhưng mà sao ông không bị chúng khuất phục?

– Đã có lúc chúng khuất phục được tôi trong nhiều khoảnh khắc. Nhưng tôi cố gắng hiểu cho được chúng là gì và mỗi lần hiểu được cái nào thì tôi lại vượt qua được cái đó. Cứ như vậy, từng cái một, đến cuối cùng mình không còn thấy sợ nữa khi hiểu hết được chúng. Lúc đó thì mình biết rằng chúng chỉ là những ảo giác mà ngay cả khi có chấp nhận chúng như những cái thực và để chúng đánh bại thì cũng không giúp giải quyết được thực trạng mà mình đang đối mặt.

– Có sự trợ giúp nào không để làm được như vậy?

– Tôi nghĩ là có. Tôi đã cầu nguyện rất nhiều và thấy mình được khai mở mỗi khi cố gắng xác định được đối thủ của mình, tức là hiểu được nỗi sợ hãi.

– Sự tự tin giúp được gì ở đây?

– Tự tin chính là vượt qua nỗi sợ. Đã là con người thì ai cũng phải có cảm giác sợ hãi. Vấn đề là vượt qua nó như thế nào chứ không phải tự hào vì không có nó. Chỉ cần một lần làm được như vậy thì ta sẽ có sức đề kháng với nó, giống như tiêm vắc-xin, nên nó sẽ khó thâm nhập được vào trong ta. Tự tin không phải là không có nỗi sợ.

– Làm sao để vượt qua được nó?

– Khi xác định được những nguy cơ từ tình trạng đang gặp phải thì mình sẽ bắt đầu thấy yên tâm. Đến khi mình chấp nhận được hậu quả xấu nhất của nó thì mình có tự tin, tức là vượt qua nó. Và khi mình đưa ra được những biện pháp để khống chế những hậu quả đó thì mình đánh bại nó, ảo giác sợ hãi tan biến dần theo quá trình đó. Người bình thường nào cũng làm được như vậy. Con người thường bị đánh bại vào lúc sợ hãi, chứ chưa chắc tình trạng thực tế của họ đã thất bại.

– Kinh nghiệm của ông có thể viết thành sách đấy.

– Tôi sẽ viết, có thể trong hồi ký hoặc trong một cuốn sách chuyên đề. Nhưng cũng chẳng cần đến cuốn sách đó thì mọi người mới tự tin. Chỉ cần sống tỉnh thức thì người ta sẽ luôn vượt qua được nỗi sợ hãi.

– Nếu thế thì mọi người sẽ thấy “anh hùng” Trần Huỳnh Duy Thức cũng biết sợ thì sao? – Long trêu Thức.

– Nếu thực sự có những kiểu anh hùng như vậy trong thực tế thì số lượng đó là quá ít nhưng thường là võ biền. Tôi không có mục đích làm anh hùng và lại càng không phải kiểu anh hùng như vậy. Xã hội chỉ có thể phát triển tốt khi có rất nhiều người là người hùng của chính mình, vượt qua và đánh bại được nỗi sợ hãi của mình. Tôi là một người trong số đó. Hehe.

Nhưng để vượt qua được những nghịch cảnh và thách thức trong tù không phải là chuyện dễ dàng. Thức bị huyết áp thấp nên lúc nào gặp môi trường nóng bức, ngột ngạt thì rất khó thở và choáng váng. Khi còn ở ngoài đã có lần anh bị ngất xỉu vì như thế. Do vậy, bị nhốt kín trong một căn phòng chật hẹp, nồng nặc mùi xú uế, phải nằm cạnh cầu xí mà chẳng có nước để dội khi tiểu tiện, Thức có lần đã bị co giật giữa đêm vì không thở được.

Anh vượt qua được những nhục hình như vậy cũng nhờ những người bạn tù giúp đỡ. Nhưng mọi người sẽ ngạc nhiên nếu biết rằng trong giai đoạn tạm giam, cơ quan an ninh điều tra luôn cài người của họ vào làm bạn tù với bị can để vừa giám sát tình hình, khai thác thông tin, vừa lung lạc tâm lý. Họ thường dùng những người bị kết án về kinh tế, có học để làm việc đó và trả một ít thù lao. Họ gọi những người này là quân báo, còn các tù nhân thì gọi những người đó là ăng–ten. Nếu lập được thành tích tốt thì sẽ được giảm án nhiều là cách họ thúc đẩy những người này làm việc cho họ.

Trong hơn một năm tạm giam từ lúc bị bắt đến khi bị đưa đi thi hành án ở Xuân Lộc, Trần Huỳnh Duy Thức bị đổi bạn tù đến sáu lần. Mỗi lần ở chung với một người. Nhiệm vụ của những người này cũng thật đa dạng. Khi biết Thức đang tập trung suy nghĩ thì họ cho một người vào ở chung ca hát, gõ xô, làm trống suốt ngày. Khi cần thuyết phục anh thay đổi lập trường để nhận tội tại phiên toà phúc thẩm thì họ cho một người đánh cờ tướng giỏi, biết rành tiếng Hoa để chỉ cho Thức học, kết thân rồi “khuyên nhủ”. Cũng có lúc, họ đưa vào một người biết chút ít tướng số để lung lạc tâm lý của Thức. Sau này, hồi ký của anh chắc sẽ rất sinh động khi kể về giai đoạn này.

Nhưng có lẽ điều thú vị nhất ở đây là hầu hết những người bạn tù này cuối cùng đều quay lại giúp đỡ Thức. Họ khéo léo cho anh biết họ là người có nhiệm vụ. Có người còn thành thật tiết lộ thân phận của mình và cho anh biết mình phải khai thác thông tin gì từ anh. Nếu không có người bạn tù ở chung trong phòng xà lim đóng kín phát hiện và thức cả đêm quạt thông gió cho anh thì lúc đó anh đã nguy kịch đến tính mạng. Những người bình thường ngoài đời khi vào tù đều phải mất vài tuần mới có thể quen được tình trạng thở thiếu không khí trong các phòng giam chứ đừng nói là trong các xà lim đóng kín. Do vậy, hai đêm đầu khi bị nhốt vào đó Thức không thể ngủ được vì phải liên tục quạt tay để đảo không khí trước mũi thì mới thở được. Đến đêm thứ ba vì quá mệt nên anh ngủ thiếp đi. Một lúc sau thì anh bị co giật vì thiếu ô xy. Chẳng hiểu vì duyên cớ nào mà người bạn tù đó đang ngủ lại thức tỉnh và phát hiện ra tình trạng của anh. Mấy đêm sau đó anh bạn trẻ này thức vài tiếng một đêm để quạt cho anh ngủ khi thấy anh quá mệt. Người bạn trẻ này còn chia sẻ phần thức ăn ngon hơn (nơi đó gọi là suất ăn cao) cho anh vì thời gian đó cơ quan điều tra không cho anh được đóng tiền để trại giam phát suất ăn cao. Anh phải ăn suất ăn thấp theo đúng tiêu chuẩn dành cho tù mà những người ở tù lâu năm còn khó nuốt nổi. Hai tuần một lần, các bị can được đăng ký mua đồ ăn thêm bên ngoài. Nhưng duyệt cho mua những gì thì phải do cơ quan điều tra quyết định chứ không phải cán bộ trại giam. Nói chung là họ có rất nhiều những biện pháp khác nhau để khống chế điều kiện vật chất dành cho bị can để đạt được ý muốn của họ.

Nhưng ở đó không phải chỉ toàn người xấu. Có không ít những cán bộ trại giam âm thầm giúp đỡ Thức. Giữa đêm nhìn thấy anh ngồi ăn mì gói sống, có người đã lấy nước sôi để anh có được bữa khuya ấm bụng dù rằng đó là việc không đúng quy định. Còn nhiều câu chuyện tương tự rất có tình người khác trong chốn lao tù. Điều đó đã củng cố thêm niềm tin vào những điều tốt đẹp của Thức. Nhờ vậy anh luôn lạc quan ngay cả trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Trong những tháng ngày đen tối đó mà anh vẫn làm nên được những vần thơ hào khí và lãng mạn dù không có giấy viết.

Nếu phân tích bí quyết gì giúp Trần Huỳnh Duy Thức làm được nhiều điều khác thường, lớn lao như vậy, chắc câu trả lời chính xác là tình yêu. Đơn giản là như thế. Người bình thường nào cũng làm được vì ai cũng có tình yêu, ai cũng có thể được yêu và hãy cố gắng sống xứng đáng với tình yêu đó thì nó sẽ mang đến cho mình sức mạnh, lòng tự tin và ý chí để theo đuổi những gì mình mong ước. Và nếu những mong ước đó là chính đáng và phù hợp với nhiều người thì mình sẽ được trợ giúp và cộng hưởng.

Từ một con người với những mong muốn khẳng định bản thân rất đời thường như bao nhiêu người khác, tình yêu gia đình đã làm nên một doanh nhân thành đạt. Rồi khát vọng của một doanh nhân muốn đóng góp cho xã hội đã tạo nên một người yêu nước, khát khao cho dân tộc nhanh chóng được dân chủ và thịnh vượng. Vì vậy mà Trần Huỳnh Duy Thức đã dấn thân để vạch ra một con đường như vậy cho đất nước – Con đường Việt Nam – bất chấp tù đày.

This entry was posted in Ebook THDT&CĐVN. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s