TRẦN HUỲNH DUY THỨC & Con đường nào cho Việt Nam – Phần 17

TRẦN HUỲNH DUY THỨC & Con đường nào cho Việt Nam – Phần 17

NỀN TẢNG CHÍNH TRỊ DÂN CHỦ

Trọng tâm của một nền chính trị dân chủ chính là quyền của người dân trong cơ chế hình thành nên bộ máy nhà nước – các cơ quan quyền lực quản lý và điều hành các hoạt động xã hội.

Nhà nước ủy trị

Mỗi cá nhân đều có quyền của mình, tuy nhiên con người sống với nhau trong một cộng đồng nên phải có những thỏa ước tập thể, tạo ra khuôn khổ để quyền của mỗi cá nhân được đảm bảo nhưng cũng không xâm phạm quyền lợi của người khác và quyền lợi của cộng đồng. Chính trị ra đời như một nhu cầu tất yếu của loài người để tổ chức xã hội. Quyền lực để quản lý và điều hành xã hội phải được trao cho những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của đa số người dân để thành lập nên bộ máy nhà nước. Như vậy nhà nước không phải là cơ quan ban bố quyền cho người dân mà chính là cơ quan được người dân trao quyền để bảo vệ quyền lợi cho họ.

Khái niệm về “khế ước xã hội” và mô hình nhà nước ra đời từ sự ủy quyền người dân đã được các triết gia là Thomas Hobbes (1588 – 1679), John Locke (1632 – 1704) và Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1778) đề cập. Các ý tưởng này là một bước tiến quan trọng về tư tưởng của loài người, châm ngòi cho các cuộc cách mạng tư sản tại Pháp, Mỹ.

Hiến Pháp chính là bản Khế ước xã hội cơ bản nhất, nền tảng cho tất cả các thỏa ước khác của cộng đồng. Thông qua hiến pháp, con người chính thức đánh đổi quyền tự do tự nhiên để trở thành một công dân, chính thức đánh đổi một phần quyền tự do quyết định của mình vào tay một số người cầm quyền để có được sự che chở của xã hội, đại diện bởi luật pháp. Để cho bản hợp đồng trao đổi này được công bằng, trong Khế ước xã hội cần phải định rõ nguyên tắc lựa chọn người cầm quyền. Nguyên tắc bình đẳng thể hiện ở chỗ ai cũng có thể lên nắm quyền miễn là được đa số thành viên ủng hộ. Về phía người cầm quyền, đối trọng với quyền lực anh ta có, là những ràng buộc về mặt trách nhiệm với cộng đồng. Nếu người cầm quyền không hoàn thành trách nhiệm của mình, bản hợp đồng giữa anh ta và cộng đồng phải bị coi như vô hiệu, và cộng đồng phải có quyền tìm ra một người thay thế mới. Việc hình thành nên hiến pháp một cách dân chủ, tức là người dân có quyền tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến và phê chuẩn hiến pháp hay còn gọi là quyền phúc quyết hiến pháp thông qua trưng cầu dân ý. Hiến pháp phải là sự kết tinh của trí tuệ, đạo đức, văn hóa, tâm linh của cả một dân tộc do chính người dân tạo ra thì người dân sẽ tự nguyện tuân thủ và bảo vệ đến cùng bản hiến văn đó.

Tuy nhiên, quyền lực là một thứ sức mạnh đáng sợ nếu không được kiểm soát; bất cứ ở đâu có quyền lực thì đều xảy ra nguy cơ lạm quyền, chuyên quyền dù cho người nắm quyền có là ai, đạo đức đến đâu, chính quyền ở đó có lý tưởng tốt đẹp thế nào. Do vậy, khi nhà nước được người dân trao quyền quản lý xã hội, hiến pháp phải ghi rõ giới hạn quyền lực của nhà nước và cơ chế giám sát những quyền lực đó, nhằm tránh việc tập trung quyền lực vào tay một cá nhân hay một nhóm người sẽ dẫn đến lạm quyền, chuyên quyền. Cũng từ nguyên do này mà mô hình nhà nước tam quyền phân lập – lập pháp, hành pháp, tư pháp độc lập – được hình thành để đảm bảo cho sự phân quyền và kiểm soát quyền lực của nhà nước.

Nền pháp quyền thượng tôn quyền con người

Chúng ta thường nghe nói pháp quyền là quyền thượng tôn pháp luật – pháp luật đứng trên hết mọi đối tượng – và áp dụng cho mọi người như nhau. Cách hiểu này còn được gọi là pháp trị (rule by law) tức cai trị bằng pháp luật. Tuy nhiên điều gì sẽ xảy ra khi pháp luật lại bảo vệ một đối tượng nào đó trên hết, chẳng hạn một tư tưởng chủ nghĩa, một chế độ chính trị, một đảng phái trị nào đó, hay thậm chí là một con người nào đó? Câu trả lời đã quá rõ ràng: điều đó sẽ dẫn đến sự chuyên chế (hay chuyên chính theo cách nói của những người Cộng sản) mà ở đó pháp luật được sử dụng làm công cụ cai trị của giới cầm quyền để duy trì quyền lực và quyền lợi cho mình. Đây chính là tính chất chính trị căn bản và đã trở thành bản chất của các chế độ phong kiến hay còn gọi là quân chủ chuyên chế mà đối tượng bảo vệ trên hết của nó là vua. Xâm phạm vua là tội đại nghịch, là tội đứng đầu trong luật hình sự và có mức hình phạt khủng khiếp nhất. Tương tự như vậy, ở các chế độ đảng trị thì bảo vệ đảng cũng là trên hết.

Các chế độ độc tài chuyên chế đang tồn tại ngày nay cũng với một bản chất tương tự, chỉ khác về hình thức. Việc xâm phạm đến các chế độ và chủ nghĩa đó luôn bị quy là tội nặng nhất đứng đầu trong các tội hình sự. Ở Việt Nam các tội gọi là xâm phạm an ninh quốc gia được dành hẳn một chương đầu tiên của phần tội phạm của bộ luật hình sự, hầu hết có khung hình phạt cao nhất có án tử hình, như điều 79 – lật đổ chính quyền nhân dân, điều 88 – tuyên truyền chống phá nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bằng cách như vậy và theo tinh thần pháp trị – thượng tôn pháp luật, giới cầm quyền ở các chế độ như thế luôn dễ dàng đứng trên pháp luật, dùng pháp luật để bảo vệ đặc quyền riêng cho mình trên danh nghĩa bảo vệ an ninh quốc gia. Sự thượng tôn pháp luật kết cục là để bảo vệ tối thượng cho một nhóm đối tượng nhỏ hẹp nào đó dưới rất nhiều các danh nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Thực ra chế độ phong kiến chưa hoàn toàn chấm dứt, chỉ có cái tên của nó là không còn hợp thời nữa nên phải dùng đến những cái tên hình thức khác nhau để che đậy bản chất không thay đổi của nó.

Như vậy, sự thượng tôn pháp luật là không đủ để đảm bảo cho một chế độ dân chủ. Đây chỉ là ý nghĩa thứ cấp của pháp quyền (rule of law). Ý nghĩa sơ cấp của pháp quyền là sự bảo vệ các quyền của con người bằng pháp luật (hiến pháp và luật), kết hợp với ý nghĩa thứ cấp như trên sẽ dẫn đến kết quả là quyền con người sẽ được bảo vệ ở vị trí cao nhất của pháp luật. Và do đó Nhà nước Pháp quyền (The rule of law) là một nhà nước mà bất chấp hình thức của nó là gì đi nữa thì pháp luật của nó phải bảo vệ các quyền của con người trên hết mọi đối tượng khác một cách bình đẳng cho bất kỳ công dân nào của nó mà không được có bất kỳ sự phân biệt nào về các thuộc tính sinh học, địa vị xã hội lẫn quan điểm chính trị của họ, cho dù đó là những cái thuộc về thiểu số rất nhỏ. Nói cách khác, nhà nước pháp quyền là một sự ủy trị để đại diện cho từng công dân một để bảo vệ quyền con người của anh ta một cách bình đẳng với tất cả mọi công dân khác mà không có bất kỳ đối tượng nào khác được đặt lên trên các quyền đó của anh ta. Sự bảo vệ ở đây phải bao gồm sự đảm bảo để anh ta sử dụng được đầy đủ các quyền con người của mình, ngăn ngừa người khác xâm phạm các quyền này của anh ta và ngăn ngừa anh ta xâm phạm các quyền này của người khác. Cho dù anh ta có bỏ phiếu cho nhà nước đó hay không thì nó vẫn phải bảo vệ cho anh ta như vậy, ngay cả lúc anh ta bị phạm pháp đi nữa.

Xuất phát từ trách nhiệm thượng tôn quyền con người của nhà nước, ba nhánh quyền lực nhà nước cũng theo đó phải đặt lên hàng đầu trách nhiệm này trong quá trình thực hiện chức năng riêng biệt của chúng. Mục tiêu của Tư pháp là bảo vệ pháp luật là trên hết và duy nhất để đảm bảo tính uy nghiêm của pháp luật. Đối với Tư pháp không có bất kỳ điều gì kể cả nhân danh đạo lý hoặc lợi ích quốc gia được đặt trên pháp luật. Bảo vệ pháp luật là trách nhiệm thiêng liêng của Tư pháp, còn pháp luật bảo vệ điều gì là thuộc về trách nhiệm của Lập pháp. Trong một nhà nước pháp quyền thì tất cả mọi việc xây dựng Hiến pháp và Luật đều phải hướng đến mục tiêu tối thượng là bảo vệ quyền con người mà không được có bất kỳ đối tượng nào hoặc sự nhân danh an ninh quốc gia nào đứng trên các quyền thiêng liêng đó của nhân dân. Ngay cả an ninh quốc gia thì cũng là để bảo vệ nhân dân mà thôi. Còn mục tiêu tối thượng của Hành pháp là đảm bảo cho người dân thực hiện được đầy đủ các quyền con người của mình theo Hiến pháp và Luật trong thực tế cuộc sống.

Tự do báo chí

Báo chí là quyền lực thứ tư sau tam quyền – Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp. Dù không được Hiến định chính thức như các thiết chế tam quyền nhưng Báo chí ở các xã hội dân chủ luôn là một sức mạnh đại diện thực tế nhất, rộng rãi nhất và dễ tiếp cận nhất cho quyền lực tối cao của nhân dân. Do vậy không có một đất nước nào có một nền dân chủ thực chất lại không có một nền Báo chí thực sự tự do vì Báo chí là một công cụ nhanh chóng nhất, hiệu quả nhất để người dân sử dụng quyền làm chủ của mình để giám sát các thiết chế tam quyền, buộc những quan chức thuộc chúng phải có trách nhiệm giải trình trước công luận và thực hiện những trách nhiệm và cam kết của họ đối với nhân dân. Đó là cách để người dân sử dụng quyền tự do ngôn luận – một trong các quyền cơ bản của con người – để thực sự làm chủ đất nước của mình. Do vậy một nhà nước nếu thực sự là của nhân dân thì nó phải bảo vệ tối thượng quyền tự do ngôn luận nói riêng và tất cả các quyền con người nói chung cho từng mỗi người dân một cách bình đẳng. Đó chính là nguyên tắc “Quyền con người trong nhà nước pháp quyền”.

Theo nguyên tắc này thì trong một nhà nước pháp quyền không ai hay tổ chức nào có quyền chỉ đạo Báo chí. Các nhà báo chỉ được lãnh đạo bởi lương tri của mình để thực hiện được mục tiêu tối thượng của Báo chí là phản ánh đúng sự thật cuộc sống. Đối với Báo chí, sự thật phải là trên hết và không có bất kì điều gì có quyền đứng trên sự thật. Đó là trách nhiệm thiêng liêng của Báo chí mà không có bất kỳ sự nhân danh lợi ích chung nào được phép lợi dụng để bóp méo sự thật. Chỉ có như vậy thì nhân dân mới có thể sử dụng quyền lực thứ tư của mình để buộc ba quyền lực kia phải thực hiện những mục tiêu tối thượng của chúng.

Báo chí, truyền thông chính là tai mắt của người dân, tiếng nói của xã hội phản ánh trung thực hiệu quả làm việc của các cơ quan nhà nước. Báo chí là phương tiện gần gũi và dễ tiếp cận nhất cho người dân để thực hiện quyền làm chủ của mình. Các quan chức phải có trách nhiệm giải trình trước công luận về việc thực hiện các cam kết của họ với nhân dân. Việc báo chí chỉ trích các nguyên thủ quốc gia, các chính sách vĩ mô phải hiểu đúng là cách để phát hiện lỗi cho đất nước ngày càng hoàn thiện chứ không phải bị quy kết là cách để làm mất uy tín quốc gia, hay gây khó khăn cho việc xây dựng phát triển đất nước hoặc “cản trở sự nghiệp cách mạng của nhân dân”, và tệ hơn nữa là tội phạm hóa vì chống nhà nước, chống chính quyền nhân dân, v.v…

Báo chí thiếu tự do tức người dân mất tự do. Mà trách nhiệm đó đối với tự do báo chí trước hết thuộc về các nhà báo – một lực lượng trí thức luôn tiên phong có mặt tại tất cả các lĩnh vực và ngõ ngách của cuộc sống. Tự do báo chí là kết quả trong thực tế của mức độ sử dụng quyền tự do ngôn luận của công dân – người dân tự tin sử dụng càng nhiều quyền này thì tự do báo chí càng cao. Mà quyền này là một trong các quyền vốn có tự nhiên của con người đã được toàn thế giới thừa nhận và long trọng tuyên bố trong Tuyên ngôn Toàn thế giới về Quyền Con người. Không ai có quyền ban quyền này cho ai cả. Nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ để người dân thực hiện được đầy đủ quyền này, chống sự xâm phạm cho từng công dân. Đối với quyền này thì nhà nước chỉ có trách nhiệm như vậy chứ không hề có bất kỳ quyền hạn nào đối với nó. Đây chính là ý nghĩa của những nguyên tắc được quy định trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, cụ thể hóa Tuyên ngôn nói trên.

Xã hội dân sự

Ngoài báo chí, trong một xã hội dân chủ vai trò của các tổ chức dân sự do người dân tự thành lập nên cũng rất quan trọng. Đây là các tổ chức nằm ngoài các cơ quan của nhà nước (phi chính phủ), đáp ứng rất đa dạng các nhu cầu về đời sống tinh thần của con người. Hình thức của các tổ chức dân sự rất phong phú: hội đoàn, công đoàn, nghiệp đoàn, câu lạc bộ, nhóm,… không chỉ đáp ứng các nhu cầu phi chính trị của người dân mà còn có thể là các tổ chức bảo vệ quyền lợi của người dân rất thiết thực, đóng góp hoặc đấu tranh với những khiếm khuyết của hệ thống cơ quan công quyền. Đây cũng có thể coi là quyền lực thứ 5 trong một xã hội dân chủ. Quyền tự do hội họp, lập hội đã được nêu rõ trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và có mặt trong hầu hết các bản Hiến pháp của các nước trên thế giới. Thế nhưng một số nước trong đó có Việt Nam, mặc dù quyền này được ghi vào Hiến pháp nhưng các văn bản pháp luật, các nghị định của chính phủ qui định thủ tục thành lập hội đoàn đề ra hàng loạt các yêu cầu khắt khe, trao quyền xét duyệt cho các cơ quan nhà nước đã bóp nghẹt các quyền này của người dân. Kết quả không chỉ là tham nhũng hoành hành mà đời sống tinh thần, văn hóa, đạo đức, các giá trị nhân văn trong xã hội đều khô cằn, thui chột. Điều này càng thể hiện rõ các quyền con người cần phải được tôn trọng và đảm bảo toàn vẹn, không thể thực hiện quyền này và hạn chế quyền khác sẽ tạo ra sự bất ổn, không bền vững của xã hội.

*

*        *

Không thể có một nền tảng chính trị dân chủ nếu thiếu bất cứ một yếu tố nào của: một bản Hiến pháp được nhân dân đồng thuận thông qua bằng quyền phúc quyết Hiến pháp, qua đó nhà nước được người dân ủy quyền để thực hiện thỏa ước với nhân dân; một nhà nước pháp quyền với 3 nhánh phân chia quyền lực nhà nước riêng biệt do dân bầu lên nhằm thực hiện trên hết và trước hết mục tiêu bảo vệ quyền con người; một xã hội minh bạch với quyền tự do của báo chí; sự phát triển của các tổ chức dân sự cởi mở và phong phú về tinh thần. Như đã phân tích ở trên, xây dựng một môi trường chính trị dân chủ cho Việt Nam không chỉ là giải pháp cho tình trạng khủng hoảng hiện nay của đất nước mà còn là một xu thế bắt buộc khi đất nước chúng ta tham gia vào thế giới toàn cầu hóa.

(Hết Phần 17, mời xem tiếp Phần 18)

This entry was posted in Ebook THDT&CĐVN. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s