TRẦN HUỲNH DUY THỨC & Con đường nào cho Việt Nam – Phần 23

TRẦN HUỲNH DUY THỨC & Con đường nào cho Việt Nam – Phần 23

Pháp chế tại Việt Nam

Do trách nhiệm tối thượng của một nhà nước pháp quyền là phải bảo đảm cho công dân thực hiện đầy đủ các quyền con người của từng người nên nó phải ngăn cản sự xâm phạm các quyền này từ bất kỳ ai, bất kỳ tổ chức nào. Cũng do tính chất pháp quyền của nó, nên nó phải thực hiện việc ngăn cản này bằng luật pháp. Đây chính là nguyên tắc pháp chế – tức là chế tài bằng pháp luật – của một nhà nước pháp quyền. Đây cũng là nguyên tắc được qui định tại Tuyên ngôn Toàn cầu về Nhân Quyền: “Khi thực hiện các quyền và tự do của mình mỗi người chỉ phải chịu những hạn chế nào được luật qui định nhằm một mục đích duy nhất là để đảm bảo sự thừa nhận và bảo vệ đúng đắn các quyền và tự do của người khác và đáp ứng các yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

Mọi phạm vi chế tài (bao gồm hạn chế và xử phạt) phải do luật qui định. Không có luật hạn chế điều gì thì làm điều đó là không phạm luật và không phải xin phép nơi nào hết. Hoàn toàn không cần phải có luật cho phép làm điều đó. Chỉ có quan chức mới chỉ được làm những gì mà luật cho phép để hạn chế sự lạm dụng quyền hành của họ mà thôi. Không ai hay tổ chức nào được quyền nhân danh vì bất kỳ lợi ích chung nào để áp đặt các hạn chế đối với các quyền con người của công dân mà không được thông qua bằng luật bởi một quy trình lập pháp hợp hiến. Lý do và mục đích của những sự hạn chế như vậy cũng phải được ghi rõ.

Điều 12 Hiến pháp 1992 ghi nhận:“Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Điều này rõ ràng tuân theo nguyên tắc pháp chế đúng đắn của một nhà nước pháp quyền như trên, phù hợp với chuẩn mực của luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, thực tế thì khác hẳn. Không hiểu dựa trên cơ sở nào mà rất nhiều vị đại biểu Quốc hội – những người được gọi là những nhà lập pháp đại diện của dân – lại hồn nhiên phát biểu trước công chúng đại ý là phải cố gắng nhanh chóng xây dựng luật để người dân có thể thực hiện các quyền của mình. Còn các cơ quan hành pháp thì ban hành đầy rẫy các nghị định, quyết định hạn chế, cấm đoán các quyền con người của công dân một cách vi hiến. Còn các cơ quan tư pháp thì chưa bao giờ ra bất kỳ phán quyết nào liên quan đến sự vi hiến, đơn giản vì chúng không có được quyền hạn đó trên danh nghĩa và cũng không có đủ quyền lực tư pháp độc lập trên thực tế.

Thuộc tính xã hội chủ nghĩa đúng ra phải thể hiện được sự ưu việt hơn cho nguyên tắc pháp chế của một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thì thực tế lại trở thành cái để lợi dụng nhằm tước đoạt rất nhiều quyền con người của công dân bằng cách đặt sự bảo vệ chế độ lên trên hết – vi phạm nguyên tắc “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” của Hiến pháp (điều 2). Thực tế này lại tiếp tục bị lợi dụng để bảo vệ đặc quyền cho các nhóm lợi ích nhỏ, tạo ra một thực tế càng tệ hại hơn nữa.

 

Trách nhiệm của công dân

Cách biệt giữa danh nghĩa và thực tế của môi trường pháp lý Việt Nam đang rất nghiêm trọng và ngày càng xấu đi nên gây ra bất ổn nặng nề. Trách nhiệm này đương nhiên là thuộc về chính quyền, nhưng nếu người dân không ý thức được các quyền con người và vai trò làm chủ đất nước của mình thì cách biệt này không bao giờ được thu hẹp theo hướng tốt đẹp. Dân ta cần hiểu cốt lõi bản chất của các khái niệm Nhân quyền, Pháp quyền, Pháp chế. Thực ra chúng rất đơn giản: Nhân quyền là các Quyền con người của mỗi người chúng ta vốn có từ lúc sinh ra mà không ai có quyền ban phát cả và chúng ta cần tự tin sử dụng ngay các quyền này mà không phải đợi ai cho phép. Pháp quyền là trách nhiệm trên hết của nhà nước phải bảo vệ cho công dân thực hiện đầy đủ các quyền bất khả xâm phạm này của mình, và Nhà nước Việt Nam hiện nay là một nhà nước pháp quyền được khẳng định tại Hiến pháp. Pháp chế nghĩa là chúng ta chỉ bị hạn chế làm những gì có luật qui định rõ, không có luật hạn chế tức là không có hạn chế, chứ không phải là chưa được phép. Mối liên hệ của bản chất và nguyên tắc của 3 khái niệm này tạo nên một nguyên lý cốt lõi của dân chủ: công dân có quyền làm bất cứ điều gì mà luật không hạn chế và không cần phải xin phép để làm điều đó.

Ở các nước dân chủ và thịnh vượng, thay vì làm ra nhiều luật để hạn chế thì nhà nước ở đó xây dựng rất nhiều luật khuyến khích và tạo động lực cho công dân của mình làm nhiều việc tốt để hướng xã hội phát triển theo những lý tưởng tốt đẹp. Chúng ta hoàn toàn đủ quyền và đủ lý do chính đáng để đòi hỏi có được một nhà nước pháp quyền với các nguyên tắc pháp chế như trên. Đó cũng là những tiêu chuẩn mà công việc CCTP và CCHC phải đạt đến. Không có những áp lực từ dưới lên thì sẽ khó có thể có được những thay đổi từ trên xuống. Đó là trách nhiệm của công dân đối với việc cải cách.

 

Trách nhiệm của chính quyền

Tuy nhiên, trách nhiệm trên hết vẫn thuộc về chính quyền. Nếu nhà nước Việt Nam không nhận rõ được hiện trạng như trên và nhanh chóng thực hiện các giải pháp cải cách thành công thì sự thất bại của chúng sẽ dẫn đến các cuộc cách mạng. Liên Xô sụp đổ sau khi đã tiến hành cải cách muộn màng và thất bại.

Với tinh thần như vậy, Con đường Việt Nam đề nghị các sách lược cải cách hành chính và cải cách tư pháp dưới đây.

Nguyên tắc chung

– Người dân có quyền làm bất kỳ điều gì pháp luật không hạn chế.

– Những hạn chế phải được ghi rõ trong luật và cần phải được tuyên truyền rộng rãi cho người dân hiểu rõ.

– Hướng đến công chức chỉ làm những gì luật cho phép.

– Hướng đến ưu tiên làm luật khuyến khích, tạo động lực, giảm thiểu luật hạn chế.

– Chống quyết liệt việc diễn giải luật một cách tùy tiện của công chức.

Cải cách hành chính

Về Kinh doanh – Doanh nghiệp:

– Công bố ngay danh mục các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, chia làm hai loại:

+ Có điều kiện không hạn chế: ghi rõ những điều kiện gì cần thiết một cách đầy đủ, rõ ràng, không lập lờ. Người dân dựa vào đó để chuẩn bị những điều kiện được yêu cầu, khi đã đầy đủ thì làm giấy yêu cầu cấp đăng ký kinh doanh (chứ không phải đơn xin). Cơ quan nhà nước phải xem xét trong một giới hạn thời gian được quy định rõ, nếu đủ điều kiện thì phải cấp ngay đăng ký; còn thiếu thì phải hướng dẫn một lần thật đầy đủ để người dân bổ sung … Không có bất cứ một giới hạn nào về số lượng doanh nghiệp được tham gia, đủ điều kiện là phải cấp.

+ Có điều kiện nhưng hạn chế: tương tự như trên nhưng phải ghi rõ lý do hạn chế và số lượng bị hạn chế. Kèm theo đó là phải công bố công khai minh bạch cách thức để các doanh nghiệp đấu thầu để giành được quyền tham gia.

– Ngoài 2 danh mục trên người dân có quyền kinh doanh bất kỳ ngành nghề nào mà không cần phải đăng ký trừ các ngành nghề, lĩnh vực tuyệt đối không được kinh doanh (danh mục cấm cũng phải công bố rộng rãi).

– Bác bỏ tất cả mọi hình thức giấy tờ: đơn xin và giấy phép, thay vào đó là giấy yêu cầu và chứng nhận.

– Triệt để thay đổi quan điểm, tư tưởng muốn làm tốt việc quản lý nhà nước thì phải “nắm” được doanh nghiệp. Điều này sẽ tạo ra cái cớ để bó buộc doanh nghiệp, gây khó dễ cho doanh nghiệp.

– Kêu gọi các doanh nghiệp phải chủ động, tự tin, không hối lộ để tiếp tay cho tham nhũng, cần hiểu biết luật để tự xác định những gì bị hạn chế không được làm và những gì được tự do thực hiện.

Về Những Thủ tục Hành chính – Dân sự khác:

Mở rộng cho tư nhân tham gia rộng rãi vào các dịch vụ hành chính công, chẳng hạn như mô hình thừa phát lại; và nhiều cái khác nữa….

=> Làm tốt việc cải cách hành chính như thế sẽ tạo ra niềm tin và động lực mạnh mẽ cho người dân, giúp vượt qua khủng hoảng và phát triển đất nước.

Cải cách tư pháp

– Tuân thủ tuyệt đối nguyên tắc pháp chế.

– Không được diễn dịch tùy tiện, mở rộng chủ quan bộ luật hình sự (chẳng hạn tội trộm cắp viễn thông, buôn bán các hóa đơn giá trị gia tăng bị quy tội làm ra, tàng trữ, mua bán các giấy tờ có giá giả khác, diễn biến hòa bình, bất bạo động…)

– Bỏ ngay tiêu chuẩn của ngành tư pháp là “đúng người, đúng tội” vì đây là tiêu chuẩn đạo đức mà tư pháp chỉ hướng đến bảo vệ pháp luật chứ không phải đạo đức, từ đó dẫn đến hậu quả là buộc người ta nhận tội để “đúng người, đúng tội”, “không có oan sai”.

– Tòa án + Viện Kiểm Sát (VKS) chỉ có mục tiêu bảo vệ pháp chế, tức những chế tài của pháp luật, còn đối tượng mà pháp luật bảo vệ thuộc trách nhiệm của quốc hội. Không nên nhầm lẫn, chồng chéo nhau trong thiết kế chức năng nhà nước. Tòa án và VKS không có chức năng bảo vệ cho một chế độ hay một đối tượng nào khác ngoài pháp chế.

Cải cách Hiến pháp

Đây là cải cách nền tảng cho toàn bộ các cải cách pháp luật của đất nước. Hiến pháp phải thể hiện tinh thần của một khế ước xã hội, qui định rõ các quyền của người dân, giới hạn quyền lực của nhà nước, cơ chế hình thành và hoạt động của nhà nước, chức năng và quyền hạn của các cơ quan lập pháp – hành pháp – tư pháp theo đúng mô hình nhà nước pháp quyền. Người dân phải có quyền phúc quyết Hiến pháp.

This entry was posted in Ebook THDT&CĐVN. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s