Làm sao để nhận được sự khai sáng P1 – Không phủ định lẫn nhau (Thư 24)

Không phủ định lẫn nhau là tâm thế để chuẩn bị cho sự khai sáng

Không phủ định lẫn nhau là tâm thế để chuẩn bị cho sự khai sáng

Xuyên Mộc, 1/8/2014

Hai con gái cưng ơi!

Mấy hôm nay ở đây mưa ghê gớm, có ngày suốt từ sáng tới tối. Trời mát lạnh luôn. Và cũng bị ẩm ướt. Những ngày mưa như vậy ba hay nhớ nhà nhiều hơn, nhưng cũng có cảm giác hạnh phúc khác lạ. Ba không cảm thấy cô đơn vì ba biết ba không một mình. Ba biết hai đứa vẫn phấn đấu dù không có ba bên cạnh. Ba mơ thấy Trâm, Quân mấy hôm trước trong một giấc mơ thật đẹp: thế hệ tụi con được sống trong một xã hội lành mạnh về môi trường lẫn đạo đức và đang ngày càng sung túc. Giấc mơ ấy thật đặc biệt vì ba cảm nhận được nó như một điềm báo tốt lành. Ba tin điều đó sẽ đến bởi những nỗ lực của thế hệ ba mẹ sẽ được thế hệ tụi con tiếp nối. Trong giấc mơ, ba thấy Trâm có đóng góp đáng kể vào luật pháp quốc tế, còn Quân thì đang góp phần tạo nên một xu thế nghệ thuật. Cả những bạn bè đồng lứa của tụi con, anh chị em con đều có những cơ hội tử tế để mặc sức phát huy khả năng của mình trong các lĩnh vực khoa học, kinh tế, xã hội, v.v… Hơn 10 năm trước, vì những mong ước như vậy mà ba đã chọn con đường của mình. Ba tin rằng tụi con sẽ tiếp bước những ước mơ đó. Mong ước được truyền từ đời này sang đời khác là cách mà muôn loài tiến hóa theo Thuyết tiến hóa như ba đã giải thích trong những thư trước. Sống thiếu ước mơ là cách hiệu quả nhất để hủy diệt một dân tộc. Dân tộc Do Thái bị mất tổ quốc hàng ngàn năm và bị trải qua nhiều giai đoạn đen tối bị chà đạp, bị diệt chủng nhưng họ vẫn tồn tại và cuối cùng xây dựng lại được tổ quốc hùng cường. Đó là vì họ chưa bao giờ đánh mất khát vọng trở thành một dân tộc vĩ đại, một dân tộc được Chúa Trời lựa chọn như Kinh Thánh của họ đã nói. Chính niềm tin tôn giáo này đã giúp người Do Thái duy trì khát vọng của mình qua hàng ngàn năm để đến giờ họ trở thành quốc gia Israel. Không phải ngẫu nhiên mà dân VN mình từng được mệnh danh là “Do Thái phương Đông”. Tụi con đã từng nghe chưa?

Công lý – nền tảng của Niềm tin

24-cover-wp

Nhiều người vẫn nhầm nên đánh đồng công lý và pháp luật, nên khi gặp pháp luật không công bằng thì cũng không tin vào công lý

Làm sao để thỏa sức mơ ước mà không phải chịu một rủi ro gì về tư tưởng là trách nhiệm phải được không ngừng thực hiện từ thế hệ này sang thế hệ khác. Có như vậy thì dân tộc mới phát triển được. Ba đã không tiếc sức và ba tin rằng thế hệ của tụi con sẽ không còn phải chịu nhiều rủi ro như vậy nữa. Nhưng ngay cả khi gặp phải những trở ngại thì tụi con không bao giờ được đánh mất niềm tin – nguồn sức mạnh để ta duy trì ước mơ và vượt qua thử thách. Hai niềm tin quan trọng nhất là tin vào chính mình – tức tự tin – và tin vào Công lý. Ba đã nói nhiều về tự tin, giờ ba nói về tin vào Công lý. Nhiều người vẫn nhầm nên đánh đồng công lý và pháp luật, nên khi gặp pháp luật không công bằng thì cũng không tin vào công lý. Công lý không chỉ là lẽ phải mà còn là quy luật dẫn tới sự thừa nhận lẽ phải. Trong lịch sử đã có rất nhiều lẽ phải bị đàn áp bởi quyền lực hàng trăm năm nhưng cuối cùng được cả thế giới thừa nhận. Nổi tiếng nhất có lẽ là Trái đất bị Giáo hội Thiên Chúa La Mã áp đặt thành trung tâm của Mặt trời (Thuyết địa tâm) và kết tới không biết bao nhiêu nhà khoa học khẳng định lẽ phải nhật tâm. Hay như chuyện những ông quan chép sử xưa ở TQ thà bị chém đầu chứ nhất định không chịu bóp méo sự thật theo lệnh của các hôn quân. Hàng trăm người từng bị bôi nhọ, kết tội, đày ải thời Liên Xô đã được minh oan, vinh danh sau khi chế độ này sụp đổ cho dù nhiều người trong số đó đã qua đời vì già hoặc vì đàn áp. Những người còn sống vẫn tiếp tục đấu tranh cho họ, cho lẽ phải. Không ít người lo sợ vì “ được vạ thì má đã sưng”, cuộc đời thì quá ngắn để chờ đợi được công lý. Nhưng thế giới ngày nay đã nhanh hơn nhiều: rất nhiều điều trước đây phải mất hàng trăm năm thậm chí hàng ngàn năm thì giờ chỉ vài năm đến vài chục năm. Hai yếu tố chính tạo nên sự thay đổi này. Một là thông tin giờ không còn biên giới và có thể lan truyền với tốc độ ánh sáng. Hai là luật pháp quốc tế đang lên ngôi, tức ngày càng có vai trò chi phối trong thế giới toàn cầu hóa. Hai sức mạnh này đang mang công lý đến cho loài người nhanh hơn hàng chục, hàng trăm lần trước đây. Nhờ vậy người ta ngày càng tin vào công lý.

Ba vừa đọc một tin trên báo Nhân dân, rằng Tòa trọng tài thường trực (thuộc hệ thống tòa án quốc tế) ở Hà Lan ra phán quyết buộc chính phủ Nga bồi thường cho các cổ đông của Yukos 51,6 tỷ USD. Yukos từng là tập đoàn dầu khí lớn nhất nước Nga cho đến lúc chủ tịch của nó – Ông Khodocopski bị chính quyền Putin kết tội và tịch thu toàn bộ tập đoàn này vào năm 2004. Có lẽ khi làm điều này Putin nghĩ rằng nếu công lý có đến được với Khodocopski thì lúc ấy cả ông ta và ông này đều về với tổ tiên, và rằng khi quyền lực còn trong tay ông ta thì sẽ chẳng có thứ công lý nào như thế cả mà phải lo. Giờ thì vẻ sợ hãi đã xuất hiện trong ánh mắt và nét mặt của ông ta. Ông ta khó mà tránh được phải đối diện trước công lý bằng luật pháp quốc tế vì những tội lỗi mà mình gây ra. Đã có, đang có và sẽ còn có nhiều lẽ phải được thừa nhận sau một thời gian bị vùi lấp với tốc độ ngày càng nhanh hơn. Người ta không còn cần chờ đến “kiếp sau” để chứng kiến sức mạnh của công lý.

2/8/2014

Pháp luật là để bảo vệ công lý chứ không phải là công lý. Pháp luật mà không bảo vệ được công lý thì không còn là pháp luật, vì vậy mà phải bị thay thế, không sớm thì muộn. Đây chính là tính quy luật tất yếu của công lý. Một tính quy luật khác nữa là: càng nhiều người tin vào công lý thì công lý được bảo vệ càng hiệu quả, mức độ hiệu quả lý tưởng nhất là chẳng ai phải đi tìm công lý vì nó ở quanh mọi người chẳng bị che lấp hay mất đi mà phải tìm. Có thể sẽ chẳng bao giờ loài người đạt được sự lý tưởng đó. Nhưng một điều chắc chắn rằng thế giới văn minh đang tiến về hướng đó với tốc độ ngày càng nhanh, vì vậy mà con đường đi tìm công lý của con người ngày càng ngắn lại. Điều này cũng dễ hiểu, dễ thấy trong một thế giới ngày càng toàn cầu hóa và luật pháp quốc tế ngày càng có vai trò chi phối. Nếu ta không tin vào công lý thì dù ít dù nhiều gì chúng ta cũng sẽ tiếp tay cho cái xấu, cho sự sai trái một cách gián tiếp hay trực tiếp. Cho dù không cố ý nhưng sự tiếp tay như vậy là có lỗi đối với sự phát triển tốt đẹp của xã hội. Và vì thế mà ta cũng phải gánh chịu hậu quả của nó bằng cách này hay cách khác. Nhiều người tiếp tay cho tham nhũng để mong mình được lợi hơn, để con cái mình có điều kiện hơn. Kết quả là rất nhiều người phải sống trong một xã hội suy đồi đạo đức mà nhiều khi con cháu của những người tiếp tay tạo ra nó trở thành nạn nhân khắc nghiệt của nó. Tính quy luật này tụi con có thể thấy diễn ra bất kỳ nơi nào trên thế giới. Những nơi nào mà có quá ít người tin vào công lý thì ở nơi đó đầy rẫy các vấn nạn đạo đức, tệ nạn xã hội mà ngay cả những người giàu có, quyền thế cũng phải sống một cách bất an với đủ thứ biện pháp phòng ngừa mà nhiều lúc chẳng tránh được tai họa ập xuống một cách bất ngờ.

 Nếu ta không tin vào công lý thì dù ít dù nhiều gì chúng ta cũng sẽ tiếp tay cho cái xấu để rồi có thể chính chúng ta sẽ là nạn nhân

Tiếp tay cho cái xấu để rồi chính mình sẽ trở thành nạn nhân

Ba đã từng miễn cưỡng tiếp tay như thế và tự trấn an mình là để lo cho gia đình, để mình có cơ hội tốt hơn và vì thế mà mình có thể làm được nhiều điều tốt hơn. May mắn là ba đã sớm nhận ra sai lầm đó và chọn một con đường đoạn tuyệt với nó. Ba mẹ thà tốn rất nhiều tiền để đóng học phí cho tụi con được học một trường tử tế chứ không chấp nhận tốn ít hơn để chạy chọt, mua chỗ cho tụi con ở một trường điểm nào đó. Thật là kinh khủng khi con cái chứng kiến cha mẹ chạy trường cho chúng. Nhưng càng kinh khủng hơn khi chúng đã cảm thấy chuyện ấy là bình thường, là “xã hội ấy mà”.

24-Nelson-Mandela

Nelson Mandela  thừa hưởng được niềm tin bền bĩ vào công lý từ cha mình, nhờ vậy mà ông đã vượt qua được 27 năm tù đen tối mà không mất đi ý chí và cuối cùng mang được công lý đến cho hàng triệu người Nam Phi da đen

Vì vậy ba muốn rằng các con, và cả các cháu nữa phải luôn giữ vững niềm tin vào công lý cho dù nó có nhiều sự ngang trái đang diễn ra quanh mình đi nữa. Nếu chúng ta có cả sự tự tin nữa thì chúng ta sẽ có đủ sức mạnh để truyền niềm tin như vậy đến cho nhiều người khác. Những người có tố chất như vậy mới dẫn dắt được xu thế tích cực của xã hội. Nếu không đủ sức làm như vậy thì chí ít ta cũng phải tránh tiếp tay cho những cái tiêu cực. Tuy nhiên, một điều rất thú vị là một khi ta có niềm tin mạnh mẽ vào công lý thì ta cũng sẽ phát hiện ra những sức mạnh đặc biệt trong con người mình để hướng đến công lý. Cái này cũng giống như là được khai sáng khi mình tin đúng đắn vào một thế giới siêu thực như ba viết trong thư trước vậy. Nelson Mandela viết trong hồi ký của ông là ông thừa hưởng được niềm tin bền bĩ vào công lý từ cha mình, nhờ vậy mà ông đã vượt qua được 27 năm tù đen tối mà không mất đi ý chí và cuối cùng mang được công lý đến cho hàng triệu người Nam Phi da đen. Khi ta có được những niềm tin tích cực như thế đồng thời với những mong ước chính đáng làm điều tốt cho nhiều người, thì ta không những nhận được sự khai sáng, được tiếp sức mà còn được che chở để vượt qua những sự bức hại. Muốn nhận được sự bảo vệ như vậy thì trước hết ta phải biết tự bảo vệ chính mình và sẵn sàng bảo vệ lẽ phải cho người khác. Trong các trường hợp mà kẻ xấu xâm hại được người khác, đa số là do những người này không biết hoặc không dám tự bảo vệ mình, có khi sẵn sàng tự tước bỏ quyền lợi của mình để được “yên thân”. Còn lại những trường hợp khác là do những người dám tự bảo vệ mình bị đơn độc, không nhận được sự hỗ trợ từ nhiều người sẵn sàng bảo vệ lẽ phải. Những kẻ xấu cứ thế mà hoành hành.

Nếu phải sống trong một xã hội như thế mà nói muốn vững tin vào công lý và sẵn sàng bảo vệ lẽ phải thì thật là khó quá phải không tụi con? Đúng là khó lắm. Nhưng nếu người ta cứ buông xuôi thì chính mình sẽ phải nhận lấy hậu quả ngày càng khắc nghiệt hơn. Phải làm bằng cách nào và bắt đầu từ đâu thì hẳn là tụi con và nhiều người rất muốn biết. Thế thì mình hãy bắt đầu tự suy nghĩ đi. Lần khác ba sẽ trao đổi đề tài này với tụi con và các cháu. Thư này ba sẽ tiếp tục đề tài thư trước: làm sao để nhận được sự khai sáng.

Làm sao để nhận được sự khai sáng (tiếp thư 23a)

Điều kiện 1: Không phản bác và phủ định nhau

3/8/2014

Các cháu đọc thư của cậu Tám đã “mệt” chưa? Chắc là phải mệt rồi vì bị câu hỏi “Làm sao có được trạng thái cân bằng để nhận được sự khai sáng?” “hành hạ”.🙂. Từ đây ta sẽ gọi tắt là trạng thái khai sáng. Nhưng tụi con lưu ý là tính chất cân bằng là rất quan trọng đối với trạng thái này. Vạn vật chỉ có thể tồn tại và phát triển khi đạt được trạng thái cân bằng. Con người và xã hội cũng không nằm ngoài quy luật này của vạn vật. Chúng ta sẽ bắt đầu hành trình tìm câu trả lời bằng việc quan sát và phân tích thái độ của những nhóm người khác nhau về việc con người bay lên trời. Trong rất nhiều kinh của các tôn giáo khác nhau có nói về các vị giáo chủ có phép thần thông bay lượn và nhiều phép lạ khác mà người thường không có được. Có 3 thái độ chủ yếu đối với thông tin này. Một là của những người hoàn toàn bài bác, cho rằng đó là những chuyện huyễn hoặc, lừa bịp. Sau đây ta gọi là nhóm bài bác hoặc có thái độ bài bác. Nhóm thứ hai là những người tin mù quáng rằng có những con người thần thánh như vậy, và vì thế mà giáo điều làm theo những lời chỉ dạy được cho là của những con người đó với hy vọng sẽ có được những khả năng thần thánh, hoặc chí ít là cũng sẽ được cứu giúp của những con người thần thánh. Ta gọi đây là nhóm/ thái độ giáo điều. Thứ ba là những người tin rằng có thể đưa con người bay lên bằng những thiết bị được chế tạo dựa trên những quy luật khoa học. Họ nghĩ rằng những “con người bay lượn” có thể là thông điệp thế giới siêu thực gửi gắm cho thế giới thực, nên phải có hững quy luật gì đó đã được tạo ra bởi thế giới siêu thực có thể giúp tạo nên những thiết bị bay được. Bằng nhãn quan khoa học, họ biết chắc rằng con người không cách gì bay được bằng các loại sức lực thể chất của mình cho dù có rèn luyện đến thế nào đi nữa. Do vậy họ tập trung vào tìm ra những quy luật khoa học và công nghệ để chế tạo vật thể bay. Ta có thể gọi nhóm/ thái độ này là khoa học hoặc cân bằng. Nhưng cậu thích từ cân bằng hơn vì nóm này có thái độ cân bằng, không cực đoan như hai nhóm trên. Còn vì tính khoa học ngày nay đã trở nên khá hiển nhiên trong khi tính cân bằng vẫn còn là một khiếm khuyết lớn với nhiều người.

Nhóm chỉ trích -giáo điều - cân bằng

Nhóm chỉ trích -giáo điều – cân bằng

Kết quả thì ta thấy rõ. Nhóm cân bằng đã tiến xa nhất và mang lại những thành tựu vĩ đại cho nhân loại, và vẫn còn tiếp tục đi xa hơn nữa. Hơn nữa, họ chẳng gây ra xung đột với niềm tin của hai nhóm kia mà còn góp phần thay đổi các niềm tin đó một cách tích cực. Trong khi đó nhóm bài bác và nhóm giáo điều thì thường xuyên xung đột với nhau, phản bác và phủ định nhau. Ngay cả trong cùng một nhóm họ cũng chia thành nhiều phe và “choảng” nhau đến mức có thể dẫn đến những cuộc chiến tàn khốc. Do vậy họ tiến rất chậm và nhiều khi cản trở hoặc đẩy lùi sự phát triển của nhân loại. Nhóm bài bác thường tạo nên những con người thiếu các ước mơ tích cực vì họ ít có niềm tin vào những khả năng thay đổi kỳ diệu của cuộc sống. Trong khi đó nhóm giáo điều lại có rất nhiều người nuôi giữ những ước mơ thụ động chẳng giúp gì cho cuộc sống thực tại, thường chỉ hy vọng vào sự tốt đẹp sau khi chết. Cũng có những người tìm cách bay lên nhưng không biết tôn trọng khoa học nên chỉ tạo ra được kết quả là những “bí kiếp” giống như những cái mà ta đọc trong chuyện chưởng, kiếm hiệp thôi. (Nhưng dù sao thì có hành động còn hơn là thụ động vì kết quả như vậy có thể giúp con người giải trí hoặc kích thích thêm óc tưởng tượng). Cả hai nhóm bài bác và giáo điều đều thường tạo ra sự bảo thủ trì kéo sự phát triển. Nhóm bài bác bảo thủ vì không có khả năng nhìn thấy những cái mới tốt đẹp. Nhóm giáo điều bảo thủ là do không thích có cái mới khác mình. Nhiều khi họ cũng chẳng hiểu biết cái của họ là gì vì nó chưa bao giờ thực sự tồn tại, nhưng nếu một ai đó bảo cũng có thể “bay” được giống họ thì họ có thể qui cho người đó là sai trái. Do vậy lẽ phải rất khó tồn tại trong nhóm giáo điều, thay vào đó là tính bè phái phát triển rất mạnh. Do đó họ gần như không thể tiếp cận được tới chân lý. Nhóm này nếu nắm được quyền lực thì luôn thiết lập một sự độc đoán không cho phép bất cứ cái gì khác họ, không phải là của họ. Trong khi đó nếu nhóm bài bác có được quyền lực thì thường tiến hành việc cấm đoán những gì họ cho là giáo điều, là độc đoán. Vì thiếu tính khách quan nên họ dễ dàng mở rộng phạm vi cấm đoán theo quan điểm chủ quan của họ. Cho nên dù là bằng hai cách tiếp cận khác nhau nhưng kết quả của việc sử dụng quyền lực của hai nhóm giáo điều và bài bác là như nhau. Hậu quả cuối cùng là sự kém phát triển ở dạng thức này hay dạng thức khác.

Do đó nếu thiếu một thái độ cân bằng, hay nói cách khác là thiếu sự tồn tại đủ mạnh của nhóm cân bằng/ khoa học thì các cuộc cách mạng xã hội chỉ là sự thay đổi giữa các dạng thức trên mà thôi. Tụi con nhìn sự phát triển của thế giới trong những giai đoạn lịch sử khác nhau thì sẽ thấy rõ quy luật này. Chẳng hạn như ở Châu Âu, trước thế kỷ 15 tiến triển rất chậm chạp, liên tục nổ ra các cuộc hiến tàn khốc vì ý thức hệ tôn giáo. Từ giữa thế kỷ này, nhờ có phong trào Phục Hưng lớn mạnh nên ý thức khoa học và bớt sự giáo điều, phát triển nhanh chóng. Do vậy Châu Âu đã có sự phát triển rực rỡ trong khoảng 200 năm của phong trào này, đến giữa thế kỷ 17. Nó còn tạo ra một thành quả quan trọng khác là thúc đẩy sự ra đời của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vào thế kỷ 18. Những thành tựu ban đầu của cuộc cách mạng này là những sự chứng minh khoa học rõ ràng giúp thay đổi đến tận gốc rẽ thái độ giáo điều trong xã hội Châu Âu thời đó, giải phóng những năng lượng bị đè nén nhiều thế kỷ. Nhờ vậy mà lục địa này đã tạo nên thành tựu huy hoàng, trong 1 thế kỷ bằng gần cả thiên niên kỷ trước đó. Nhật là nước duy nhất ở Châu Á nắm bắt được cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật này. Dù đi sau, nhưng họ đã làm tốt hơn cả Châu Âu đi trước. Chỉ trong nửa thế kỷ, họ đã tạo nên một sự phát triển mà thành tựu của mấy ngàn năm lịch sử cộng lại cũng không bằng. Hay như cách nói của cậu viết trong thư trước: người Nhật thực hiện khát vọng mấy ngàn năm của dân tộc Nhật chỉ trong vài chục năm.

4/8/2014

Từ sự quan sát trên, ta cần phân tích để rút ra những bài học, rồi từ đó suy luận rộng ra thành những cách thức để ta có thể đạt được trạng thái khai sáng. Bài học đầu tiên ta thấy là phương pháp phản bác và phủ định nhau không tạo ra sự phát triển tốt mà trong nhiều trường hợp nó tạo ra những cuộc chiến. Như một quy luật thôi, khi ta tác động lên một đối tượng nào đó bằng một lực thì cũng sẽ nhận lại từ đối tượng ấy một lực tương đương như vậy. Trong khi đó, tính bè phái là một đặc tính gần như cố hữu của con người cho nên khi một nhóm bị phản bác bằng phương pháp phủ định của một nhóm khác thì đương nhiên họ sẽ phải cố kết lại với nhau để bảo vệ cái chung của mình, cho dù cái chung đó có khi chỉ là hình thức chẳng mang đến lợi ích thiết thực gì cho họ. Nhiều khi cái chung đó đã rất lỗi thời một cách rõ ràng rồi nhưng nếu cảm thấy sự thay đổi dẫn đến phủ định mình thì họ vẫn sẽ chống đối hay chiến đấu tới cùng. Ta dễ thấy rằng: phương pháp phủ định đã cần rất nhiều năng lượng đã tạo ra nó rồi, lại còn phải tốn nhiều năng lượng hơn như thế nữa để thắng được phản lực từ đối tượng nó muốn phủ định. Sự kém hiệu quả, chậm phát triển là từ đó, chưa kể nhiều hệ lụy về đạo đức về nhân đạo sẽ kéo theo. Mà, điều này ta cần thừa nhận, bất kỳ cái gì nếu đã tồn tại đủ lâu thì đều có đủ lý do cho sự tồn tại của nó. Cậu nhớ trong Kinh Thánh có một câu nguyên văn tiếng Anh là: “To everything there is a season, and a time to every purpose under the heaven”. Nó thường được dịch là: “Vạn vật đều có một khoảng thời gian nhất định, và mỗi khoảng khắc trên trần gian đều có mục đích riêng của nó.” Dịch như vậy vừa khó hiểu vừa sai với ý nghĩa của nguyên gốc. Cậu dịch câu này là: “Cái gì cũng có một mùa và một khoảng thời gian tương ứng với mục đích tồn tại của nó ở trần gian.” Từ đây ta có thể hiểu rằng những sự tồn tại ở thế giới thực đều có thể là một sự sắp đặt nào đó của thế giới siêu thực bởi một lý do nào đó. Hiểu như vậy ta sẽ có thái độ cân bằng, tức là không cực đoan với những sự tồn tại mà ta thấy là phi lý, là giáo điều, là đã quá lỗi thời cản trở sự phát triển, hoặc đơn giản chỉ là khác với ta. Một thái độ cân bằng như vậy đi cùng với một mong ước tạo nên điều tốt đẹp cho xã hội sẽ chắc chắn dẫn ta đến những phương pháp khoa học giúp thay đổi những gì không còn phù hợp một cách ôn hòa, không phủ định. Cậu khẳng định sự chắc chắn này, cho nên cậu mới gọi thái độ cân bằng và thái dộ khoa học là một. Những phương pháp như thế cũng luôn chắc chắn tạo ra những thành tựu tốt đẹp, cho mọi người chứ không chỉ riêng mình, nhóm mình.

Cái gì đã tồn tại thì đều có lý do để tồn tại, chính là sứ mạng của nó. Vì vậy, cho dù nó đã lỗi thời đi nữa thì nó cũng đã tạo ra những cái đủ tốt hay hợp lý để nó tồn tại. Thái độ cân bằng sẽ làm người ta đánh giá khách quan để thừa hưởng những cái tốt đó chứ không phủ định nó. Tinh thần như vậy sẽ dẫn đến những khả năng hợp tác để cùng nhau thay đổi những gì không còn phù hợp. Dù con đường dẫn đến đó nhiều lúc cũng khá chông gai nhưng ta phải luôn kiên nhẫn, không nóng vội mà đánh mất thái độ cân bằng của mình để có được những phương pháp thuyết phục một cách khoa học. Khi sự hợp tác xảy ra thì thái độ giáo điều sẽ nhanh chóng mất đi bởi những kết quả hiển nhiên từ khoa học. Sự độc đoán vì vậy mà cũng không còn chỗ dựa. Khi người ta không tốn sức để phản bác và phủ định nhau, dẫn đến triệt tiêu sức lực của nhau thì tất cả sức mạnh đó sẽ biến thành năng lượng kiến tạo để phát triển. Nguồn năng lượng này cộng hưởng với sức mạnh vô song của việc tuân thủ các quy luật khoa học sẽ tạo nên những “siêu năng lượng” khổng lồ làm bùng nổ sự phát triển. Đây chính là nguyên lý tập hợp và tổng hợp năng lượng xã hội đã diễn ra ở Nhật trong cuộc Duy Tân Minh Trị hồi giữa thế kỷ 19 để làm nên sự thần kỳ Nhật Bản. Tụi con đừng quên Định luật bảo toàn năng lượng – một quy luật cơ bản của khoa học: “Năng lượng không tự sinh ra và mất đi, nó chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác”. Cũng vậy, sự thần kỳ Nhật Bản không tự nhiên mà có hay may mắn “rơi từ trên trời xuống”. Nó không thể có được nếu xã hội Nhật đã không cùng nhau tạo ra được một nguồn năng lượng khổng lồ như nguyên lý trên. Năng lượng nhỏ chỉ tạo ra được thành tựu nhỏ.

Giờ ta giả sử rằng xã hội Nhật vào thời Minh Trị thiếu vắng nhóm người có thái độ cân bằng thì kết quả sẽ như thế nào? Ta chẳng vất vả gì để có câu trả lời vì đó là tình trạng của hầu hết các nước ở Châu Á, Châu Phi ngoài Nhật cùng thời. 30 năm sau, khi Nhật trở thành cường quốc thì các nước này gần như bị biến thành thuộc địa lạc hậu kéo dài cả trăm năm, trong đó VN mình dù thời đó mình có xuất phát điểm hơn Nhật. Rồi từ lúc thoát khỏi thuộc địa đến nay cũng đã hơn nửa thế kỷ nhưng chỉ mới có vài nước trong số đó vượt qua tình trạng kém phát triển. Đa số vẫn còn chìm ngập trong đói nghèo và chiến tranh như ở Châu Phi. Cũng dễ hiểu thôi phải không tụi con. Khi thiếu vắng những nhóm cân bằng thì xã hội trở thành sự đấu tranh giữa nhóm bài bác với giáo điều hoặc giữa chính các nhóm này với nhau. Giả thử một nhóm bài bác tập hợp đủ sức mạnh để đánh bại một nhóm giáo điều thì họ đã phải tiêu tốn gần hết năng lượng đó rồi. Nếu việc này giúp họ có được quyền lực thì họ sẽ dùng quyền lực đó để huy động tiếp sức lực của xã hội để cấm đoán, kìm nén nhóm giáo điều. Càng như thế thì phản lực của nhóm này lại càng lơn, lại càng đòi hỏi nhóm bài bác phải huy động nhiều sức lực của xã hội hơn nữa. Cứ như thế năng lượng của xã hội bị tiêu phí gần hết, chẳng còn hoặc chỉ còn một ít cho sự phất triển. Do vậy ta thấy ở nhiều nước kém phát triển, mọi người cứ làm quần quật nhưng vẫn cứ nghèo, cứ thiếu. Nhóm bài bác lúc đầu thực hiện sự thay đổi với mong muốn tạo ra cái mới tốt đẹp thay thế những thứ giáo điều lõi thời. Nhưng vì thiếu thái độ khoa học nên dẫn đến sự chủ quan: phải là cái gì họ nghĩ nó tốt thì mới được xem là tốt. Vì vậy sai lầm và thất bại lâu dài là không thể tránh khỏi. Từ đó, không chóng thì chày họ cũng sẽ tự biến mình thành một nhóm giáo điều mới. Vậy là một chu trình bài bác, phủ định, lật đổ mới lại bắt đầu rồi lặp đi lặp lại bởi những chu trình tương tự. Tụi con có thể thấy cái vòng xoáy này diễn ra ở bất kỳ đâu, bất kỳ giai đoạn lịch sử nào của thế giới, cho đến tận bây giờ. Sự thay đổi các triều đại phong kiến quân chủ chính là những chu trình như vậy. Không nói đâu xa, hãy nhìn vào Ai Cập vài năm gần đây, 2011 chế độ Mubarak bị lật đổ vì độc tài và lỗi thời. 2012 Anh em Hồi giáo lên nắm quyền (đại diện là Morsi) dự định thiết lập một nhà nước thần quyền để độc tôn vị trí của mình và áp đặt những giáo điều của mình. 2013 Morsi bị lật đổ, Anh em Hồi giáo bị cấm hoạt động dẫn đến biểu tình phản kháng khắp mọi nơi, đáp trả lại là gần cả ngàn án tử hình. Tình hình cực kỳ hỗn loạn 2014 El-sisi lên làm tổng thống và đang lập lại một chế độ không khác gì Mubarak. Ông ta không còn lựa chọn nào khác, đó là cách duy nhất để ổn định tình hình. Nhưng điều đó đồng nghĩa với việc Ai Cập cũng sẽ không có kết cục nào khác ngoài sự chậm phát triển – hậu quả không thể tránh được khi thiếu vắng nhóm cân bằng/ thái độ khoa học.

/Chèn hình gift cờ nhật/

Nếu ngày xưa các chu trình như thế lập lại với chu kỳ cả trăm năm, hàng chục năm thì giờ nó chỉ còn lại vài năm mà thôi. Nó xoáy nhanh hơn thôi, chứ sự phát triển nó tạo ra vẫn chậm chạp. Và nó sẽ tiếp tục xoáy bất cứ lúc nào, tới bất kỳ nơi nào. Các nước nào chậm phát triển và bất ổn đều là bị nó xoáy bất chấp tên gọi chính thể là gì. Chỉ có thể tránh được nó để phát triển tốt đẹp khi hình thành được một cơ chế xã hội mà sự vận động của những cái khác nhau, thâm chí là đối lập nhau tạo ra ít sự triệt tiêu năng lượng của nhau và tạo ra nhiều sự cộng hưởng năng lượng cùng nhau. Ta phải thừa nhận rằng các yếu tố khác nhau, sự đối lập nhau là luôn luôn tồn tại, không bao giờ bị mất đi. Trong những hoàn cảnh nào đó chúng chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác. Ông El-sisi dùng sức mạnh để đè nén Anh em Hồi giáo. Ông ấy có thể thành công một thời gian bằng việc tiêu tốn một năng lượng rất lớn của xã hội, nhưng điều đó không có nghĩa là triệt tiêu được hoàn toàn lực lượng này. Họ chỉ chịu đựng và chuyển phản lực của mình qua một dạng thức khác, tích tụ dần, ẩn mình và chờ cơ hội bùng phát. Nên nhớ rằng ông Mubarak đã từng làm giống như vậy với Anh em Hồi giáo trong suốt 30 năm, để rồi lực lượng này bùng dậy lật đổ ông ta chỉ trong một vài tháng. Liệu ông El-sisi kìm nén được bao lâu? Khó mà vượt qua 1/3 thời gian ông Mubarak làm được. Nhưng chắc chắn một điều là khoảng thời gian đó sẽ vẫn đầy bất ổn, nó chỉ lắng đi trên bề mặt và tiếp tục phát triển những năng lượng chống đối ngày càng lớn hơn mà thôi. Muốn thiết lập một sự đàn áp liên tục hàng trăm năm để triệt tiêu một yếu tố đối lập nào đó như các triều đại phong kiến tập quyền làm ngày xưa, đối với thời đại ngày nay chỉ còn là ảo tưởng. Thực ra các triều đại phong kiến đó cũng không thực sự triệt tiêu được các yếu tố đối lập. Trong nhiều trường hợp thì các yếu tố này chuyển hóa năng lượng của mình sang những dạng thức “ngọt ngào” làm tha hóa dẫn đến lụn bại chính quyền phong kiến, hoặc bất cứ loại chính quyền nào dùng đàn áp làm công cụ để ổn định xã hội.

5/8/2014

Ta cũng thấy rằng ngay cả chính trong một con người cũng luôn tồn tại những tính chất đối nghịch nhau, chứ đừng nói là trong một xã hội. Khi người con người rèn luyện cho mình tốt hơn là người ta sẽ tạo được trạng thái cân bằng giữa các tính chất đối nghịch đó chứ không phải là triệt tiêu chúng hoàn toàn được. Sẽ không bao giờ có những con người “tuyệt đối tốt” hay ngược lại. Về lý thuyết, những thái cực như vậy chỉ dẫn đến sự lệch lạc chứ không phải là một trạng thái tối ưu. Ở phương diện xã hội cũng vậy, ta đã chứng kiến rất nhiều vấn nạn và sự lụn bại của những xã hội bị cố gắng để đồng nhất dù bởi mong muốn để tạo ra điều tốt đẹp đi nữa. Một xã hội chỉ ổn định lâu dài khi nó đạt được một trạng thái cân bằng động giữa tất cả các yếu tố trong nó. Muốn vậy thì chỉ có cách áp dụng các quy luật khoa học để thiết kế nên một cơ chế xã hội đảm bảo rằng sự vận động tự nhiên của tất cả các yếu tố/ thành phần khác nhau của nó sẽ được tự động điều chỉnh đến những trạng thái cân bằng lẫn nhau. Dịp khác cậu sẽ viết rõ về các quy luật và cách thức để thiết kế một cơ chế như vậy. Nhưng tụi con cũng có thể suy luận được rằng một trạng thái cân bằng sẽ không những tạo ra sự ổn định lâu dài mà còn dẫn đến sự phát triển bền vững. Năng lượng xã hội ít triệt tiêu nhau mà cộng hưởng nhiều với nhau. Và đặc biệt hơn nữa: một cơ chế được thiết lập trên các quy luật khoa học như trên sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự ứng dụng và phát hiện các quy luật khác, tạo nên một nền tảng khoa học vững chắc cho xã hội. Chính nền tảng này sẽ tổng hợp các năng lượng cộng hưởng nói trên thành những nguồn “siêu năng lượng” khổng lồ làm xã hội phát triển bùng nổ. Tụi con có thể hình tượng quá trình này giống như sự tổng hợp hạt nhân tạo nên năng lượng nguyên tử vậy. Lớn như vậy đó. Nói dễ hiểu hơn: Cơ chế cân bằng tự động giúp tập hợp năng lượng (gather energy) theo cấp số cộng, đồng thời sẽ tạo nên một nền tảng khoa học giúp tổng hợp năng lượng (build up energy) này theo cấp số nhân. Làm sao để có năng lượng và sử dụng năng lượng hiệu quả nhất luôn là bài toán phải giải đầu tiên cho mọi giải pháp của con người. Và: nếu không có được giải pháp năng lượng xã hội tốt thì các giải pháp kinh tế sẽ tồi vì không có đủ năng lượng nên buộc phải vay mượn. Do vậy mà cũng chẳng lấy đâu ra năng lượng mà tạo nên nền tảng khoa học. Nhóm các nền kinh tế mới nổi BRICS tăng trưởng nóng liên tục 2-3 thập kỷ mà chẳng có nước nào đã trở thành quốc gia phát triển (developped country). Chưa phát triển mà giờ đã rơi vào suy thoái rồi. Lý do đơn giản là vì họ không có được một giải pháp năng lượng hiệu quả cho xã hội nên các giải pháp kinh tế của họ thực chất cũng chỉ xoay quanh việc vay mượn từ quá khứ (khai thác tài nguyên), từ hiện tại (vốn đầu tư) và từ tương lai (hủy hoại môi trường). Cái giá của sự vay mượn như thế ngày càng đắt, cũng giống như vay mới để trả cũ vậy. Nếu họ không sớm nhìn ra để tập trung vào cải cách xã hội để có được một giải pháp năng luợng xã hội hiệu quả thì sự bùng nổ kinh tế trước đây sẽ bị thay chỗ cho bùng nổ khủng hoảng nhanh chóng và dẫn đến sụp đổ. Đó là quy luật nên chẳng ai tránh được. Người dân ở các nước BRICS cũng đã phải lao động miệt mài không kém gì người Nhật thời Minh Trị Duy Tân nhưng họ chỉ tạo nên được sự bùng nổ kinh tế nhất thời. Còn người Nhật đã tạo nên một sự bùng nổ phát triển thần kỳ trong mọi lĩnh vực. Sự phát triển duy nhất của 2 cái này là ở giải pháp năng lượng xã hội. Nếu ta muốn có một sự so sánh gần hơn thì tụi con cũng chỉ cần lấy ngay nước Nhật vào giai đoạn sau Thế Chiến II: chưa đầy 30 năm mà họ đã trở thành quốc gia phát triển hàng đầu thế giới từ đống đổ nát hoang tàn sau bại trận và giữ vững vị trí đó cho đến tận bây giờ. Dù phải trải qua giai đoạn kinh tế trì trệ vừa rồi do dân số già hóa nhanh chóng và người Nhật muốn hưởng thụ nhiều hơn trong khi hiệu suất lao động đang tới hạn, nhưng nhờ những nền tảng xã hội vững chắc nên họ không bị rơi vào khủng hoảng. Chính trong giai đoạn suy thoái vừa rồi đã làm họ tỉnh ngộ và đang lấy lại đà tăng trưởng, sẽ phát triển mạnh trở lại.

Càng quan sát và phân tích sự thành công và thất bại trong quá trình phát triển hay thụt lùi của nhiều nước khác, ta càng thấy tầm quan trọng của nguồn năng lượng xã hội – tức là của cơ chế tự động cân bằng xã hội như nói trên. Mà muốn hình thành được một cơ chế như vậy thì đầu tiên phải có những con người có thái độ cân bằng – tức là nhóm cân bằng. Hướng về sự cân bằng là thuộc tính tự nhiên của muôn loài vì chỉ có ở trạng thái đó vạn vật mới tồn tại. Đồng thời, trạng thái bền vững là khi đạt được cân bằng tự nhiên, tức là không bị cưỡng ép. Và vì vậy mà: vạn vật đều tự hướng đến trạng thái cân bằng tự nhiên khi đang bị cưỡng ép bằng lực đưa đến một trạng thái khác. Giống như máy bay luôn rơi xuống đất nếu bị chết động cơ vậy. Cho nên ta cũng có thể nói: khuynh hướng tự nhiên của mọi người là hướng đến trạng thái cân bằng tự nhiên của xã hội. Khuynh hướng tự nhiên đó chính là khát khao của con người. Khát khao này càng lớn khi lực cưỡng bức lệch khỏi trạng thái cân bằng tự nhiên càng lớn. Tính chất của những người có thái độ cân bằng, như ta đã phân tích ở trên, là luôn hướng đến những giải pháp để cân bằng sự thiên lệch. Vì vậy những thái độ và giải pháp như thế sẽ dễ được chấp nhận trong một xã hội đang bị lệch khỏi cân bằng tự nhiên vì chúng đáp ứng được khát khao của nhiều người trong xã hội đó. Cho nên sự xuất hiện của thái độ cân bằng dù mức độ còn nhỏ lúc ban đầu nhưng có tác dụng như một nhân tố xúc tác tự nhiên – tương tự như chất xúc tác trong các phản ứng hóa học – giúp tạo ra và đẩy nhanh các phản ứng dây chuyền trong xã hội đưa con người về trạng thái cân bằng tự nhiên. Từ số nhỏ ban đầu sẽ nhanh chóng biến thành số đông rộng lớn có thái độ cân bằng. Quá trình phản ứng này vì thế mà sẽ tạo ra một nguồn năng lượng xã hội cực lớn được chuyển hóa từ các năng lượng đang dùng để cưỡng ép lệch khỏi cân bằng tự nhiên và các năng lượng tạo ra từ khuynh hướng tự nhiên hướng về trạng thái cân bằng này. Quá trình chuyển hóa năng lượng như vậy diễn ra theo các quy luật khoa học, nên ta sẽ gọi nguồn năng lượng được nó tạo ra là năng lượng chuyển hóa khoa học. Nếu không áp dụng các quy luật khoa học để chuyển hóa năng lượng thì nó sẽ biến thành những năng lượng hủy diệt. Càng cưỡng ép thì sẽ càng làm cho năng lượng từ khuynh hướng tự nhiên hướng về trạng thái cân bằng tự nhiên càng lớn, đòi hỏi năng luợng để cưỡng ép ngày càng lớn, vì vậy mà nó ngày càng cạn kiệt. Tới khi nó không còn đủ sức nữa thì trạng thái cân bằng tạm thời mà nó tạo ra sẽ bị phá vỡ và hủy diệt không khác gì một chiếc máy bay bị rơi khi bị hết năng lượng hay hỏng hóc động cơ vậy. Ngay cả khi nó chưa hết năng lượng nhưng lực lượng chống cưỡng ép mà huy động được một ngoại lực đủ mạnh để thắng được năng lượng của nó thì năng lượng hủy diệt được tạo ra còn lớn hơn nữa. Xã hội sẽ bị hủy hoại nghiêm trọng vì năng lượng của nó bị dùng cho đối kháng triệt tiêu lẫn nhau. Ta gọi chúng là năng lượng chuyển hóa hủy diệt. Và đó chính là quá trình chuyển hóa của các cuộc cách mạng bạo lực, lật đổ. Nước Anh đã tránh được những cuộc cách mạng như vậy trong gần một ngàn năm kể từ thế kỷ 11 nên từ một xuất phát điểm lệ thuộc, hoàn toàn thua kém các cuờng quốc Châu Âu thời đó mà họ đã vượt lên dẫn đầu, bỏ xa các cường quốc này cho đến thế kỷ 20. Đến ngày nay họ vẫn duy trì vị trí hàng đầu. Cậu đã viết về nguyên nhân cho sự thành công này của Anh rồi phải không? Đọc lại thì tụi con cũng sẽ thấy được nguyên nhân đó giúp họ tổng hợp được năng lượng xã hội thay vì hủy diệt nó. Nước Nhật thời Minh Trị cũng vậy đó, nếu họ không có được năng lượng chuyển hóa khoa học thì chắc chắn rằng đã nổ ra những cuộc cách mạng bạo lực, lật đổ lặp đi lặp lại giống như ở TQ, VN, Triều Tiên, v.v… vào cùng thời kỳ vậy thôi. Nếu trong nước không đủ năng lượng để thực hiện những cuộc cách mạng như thế để thay đổi quyền lực cai trị thì tất yếu nó phải đến từ ngoài nước. Năng lượng xã hội bên trong đã bị hủy hoại gần hết rồi thì làm sao mà tránh khỏi không lệ thuộc? Đây là quy luật nên nó có thể xảy ra ở bất kỳ nơi nào, bất kỳ lúc nào – ngay cả vào thời đại này, cho dù hình thức lệ thuộc hoặc phương thức đô hộ đã phải biến đổi tinh vi hơn hòng che mắt công luận.

6/8/2014

Khi xã hội đã chuyển hóa thành công năng lượng chuyển hóa khoa học thì lúc đó xã hội cũng sẽ là môi trường tuyệt vời để tiếp nhận (khai sáng) và hấp thụ (ứng dụng) khoa học, tạo nên nền tảng khoa học cho xã hội. Nền tảng này sẽ tổng hợp năng lượng khổng lồ cho toàn xã hội. Vì sao như thế thì tụi con hãy tự giải thích trước đi. Tụi con cũng tiếp tục rút ra những bài học khác rồi phân tích và suy luận chúng để từ đó ta đúc kết thành những nguyên tắc giúp đạt được trạng thái khai sáng (tên đầy đủ là trạng thái cân bằng để nhận khai sáng) cho cá nhân và cho cả xã hội. Thư sau cậu sẽ đúc kết các nguyên tắc này để tụi con so sánh, tham khảo. Tụi con cũng cần tập áp dụng ngay để xem chuyển hóa năng lượng khoa học cho đất nước mình trong bối cảnh này như thế nào. Cậu tin rằng chúng ta sẽ thấy được nguồn năng lượng được tích tụ nhiều ngàn năm nay từ khát vọng Rồng Tiên của dân tộc có thể được chuyển hóa thành những năng lượng kiến tạo khổng lồ để VN ta hiện thực hóa khát vọng đó trong 30 năm. Đứa nào có hứng thú thì thử giải mã những thông điệp từ huyền sử Lạc Hồng, Rồng Tiên xem, thành công thì mình sẽ thấy những điều cậu đã viết,🙂. Cậu sẽ còn tiếp tục. Chào đám “lâu la” của cậu tám, của ba và ba Hai.

Bé Quân xinh đẹp đáng yêu của ba ơi! Cuối tháng là sinh nhật con rồi, từ mai ba sẽ thả hồn nuôi thơ tặng cho con nha. Mấy hôm nay ba viết đề tài trên, có nhiều điều khiến ba liên tưởng đén con gái nhỏ, đến những cảm xúc của con mang lại cho ba lắm. Con sẽ ước mơ điều gì ở tuổi 19? Ba sẽ chắp cánh mơ ước cho con, chịu hôn? Ba yêu con nhiều. Hôn cả nhà.

TB: Ngày mốt sinh nhật anh Viễn, mẹ giúp ba gửi lời chúc hạnh phúc, tốt đẹp đến anh ấy nhá🙂. Ba Thức.

This entry was posted in Thư Xuyên Mộc and tagged , , , , , , , , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s