Làm sao nhận được sự khai sáng P2 – Không kết bè phái (Thư 25C)

25c-cover-wp

Xuyên Mộc, 20/8/2014

Các con cháu thương!

Trước hết bác Tám xin chúc mừng bé Yến đậu vào lớp 10 với điểm cao nha. Bác Tám nghe rất là vui. Tới lúc con bắt đầu nuôi dưỡng ước mơ đại học được rồi đó. Không biết con còn giữ ý định như con nói với bác lúc còn ở Xuân Lộc không? Đó là một ý nghĩ táo bạo nhưng hoàn toàn có thể làm được. Điều quan trọng là con có thực sự thích nó hay không.Hãy nghĩ thật kỹ và lâu để chắc chắn rằng mình sẽ không lựa chọn nhất thời, mà sẽ chọn đúng khát vọng của mình. Bác Tám chúc bé Yến học thật giỏi và đạt được ước nguyện nha.

Làm sao để nhận được sự khai sáng?

Điều kiện 1: không phản bác và phủ định nhau  xem ở đây (Thư 24)

Điều kiện 2: Không kết bè phái

Giờ cậu Tám tiếp tục đề tài hôm trước: “Làm sao có được trạng thái cân bằng để nhận khai sáng” (gọi tắt là trạng thái khai sáng). Thư trước chúng ta đã rút ra bài học đầu tiên là: không phản bác và phủ định nhau. Bài học thứ hai sẽ là: Không bè phái. Điều trước hết ta dễ thấy là tính bè phái ngăn cản sự tiếp cận lẽ phải và vì vậy mà nó cũng cản trở sự phát triển của khoa học. Nó cũng dễ dàng dẫn đến các thái độ cực đoan là giáo điều và bài bác. Khi người ta bè phái thì họ chỉ biết ủng hộ và bảo vệ lẫn nhau bất chấp lẽ phải. Đa phần họ biết mình sai trái nhưng vẫn hè nhau vì quyền lợi của mình, chà đạp lên cả đạo lý. Cũng có những người không hiểu rõ phải hay trái, thấy người kết bè kéo phái thì theo thôi. Đáng trách hơn là những người có hiểu biết nhưng lại ngậm miệng không nói ra lẽ phải vì không muốn quyền lợi mình bị ảnh hưởnng hoặc không trái ý những kẻ quyền lực. Nhưng đáng thương và cũng đáng trách nhất là những người biết rõ sự thật mười mươi mà không nói ra nên để nạn bè phái hãm hại người vô tội, thậm chí cố tình bóp méo sự thật để cùng hè nhau trù dập người tốt. tụi con hãy thử làm 1 khảo sát nhỏ về nguyên nhân của các thảm hoạ nhân đạo, oan sai từ xưa đến nay trên toàn thế giới xem, cậu chắc rằng tụi con sẽ thấy sự hiện diện quan trọng của nạn bè phái trong đó. Từ đó tụi con cũng sẽ nhận ra chính nó là nguyên nhân cốt lõi ngăn cản sự phát triển tốt đẹp của xã hội loài người nói chung và của khoa học nói riêng. Vụ án nổi tiếng nhất có lẽ là thuyết địa tâm của Giáo hội La Mã. Nó đã trù dập các nhà khoa học: Bruno lên giàn hoả, Galileo phải nhận tội để tiếp tục cống hiến cho khoa học, v.v… và ngăn cản sự phát triển của vật lý, thiên văn,… trong mấy trăm năm liền. Chỉ đến khi Newton chứng minh được thuyết nhật tâm bằng luật vạn vật hấp dẫn mà không ai bác bỏ được thì Giáo hội La Mã mới phải lẳng lặng chấp nhận. Cũng từ đó nền khoa học thế giới phát triển như vũ bão.

21/8/2014

Sau thế chiến II Liên Xô phát triển nhanh chóng nhờ niềm tin “Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” được ủng cố do sự thắng trận của nước này và những yếu kém về phân bổ nguồn lực và công bằng xã hội bộc lộ nặng nề ở Anh và nhiều nước Châu Âu khác thời đó. Tụi con đã biết, có lúc Liên Xô bỏ xa Mỹ về công nghệ vũ trụ. Nhưng chính cái nạn bè phái đã cản trở sự phát triển của nước này và cuối cùng dẫn đến sụp đổ. Vào lúc Stalin còn sống, trước 1950, một nhóm các nhà khoa học về công nghệ sinh học đã thanh công bước đầu về công nghệ đột biến gien. Một dự án để phát triển nó mạnh mẽ được đệ trình cho Stalin phê chuẩn. Mọi người đang háo hức chờ đợi sự khen thưởng thì bất ngờ nhận được sự giận dữ của ông ta. Các nhà khoa học đó đã không lường được rằng nếu kết quả của công nghệ này được chứng minh thì đồng nghĩa với việc bác bỏ một học thuyết trời ơi gì đó của Stalin. Thay vì được khen thưởng thì họ nhận sự đàn áp. Nhiều người bị đày ải lên Siberia lao động khổ sai và bỏ mạng ở đó. Nhưng cũng có người trốn qua được Tây Âu và Mỹ để rồi tạo nên những thành tựu công nghệ sinh học to lớn ở đó. Các thành tựu này không chỉ đóng góp cho sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm,… mà còn góp phần tạo nên các hệ thống công nghệ tiên tiến trong ngành công nghiệp khác nhau, đặc biệt là công nghiệp vũ trụ. Nhờ vậy mà sau đó Mỹ bỏ xa Liên Xô. Cùng lúc đó chuyện gì xảy ra ở nước này? Không chỉ là công nghệ sinh học đánh mất cơ hội phát triển mà tất cả các ngành khoa học Liên Xô trượt dần vào ngõ cụt. Những kẻ “lưu manh trí thức”, tức những kẻ cơ hội mượn danh khoa học đã chớp lấy thời cơ này để hạ bệ các nhà khoa học chân chính. Những kẻ này, ở hầu hết các ngành khoa học từ tự nhiên đến xã hội, vẽ ra “những vấn đề về tư tưởng”, rồi chụp mũ lên các công trình của các nhà khoa học chân chính là “cơ hội”, là “xét lại”, đi ngược lại học thuyết Stalin và chủ nghĩa Mác-Lênin, v.v… Những kẻ này kéo bè kết phái hô hoán, tuyên bố trung thành và đấu tranh không khoan nhượng với các xu hướng “hữu khuynh” đi ngược lại lãnh tụ. Stalin vốn chẳng phải là nhà khoa học, chẳng biết đâu là phải trái, lại chẳng muốn làm phật lòng những kẻ đang tung hô mình ra mặt nên ủng hộ những kẻ đó ra mặt. Cứ thế mà cái thế bè phái, bè đảng này phát triển nhanh kinh khủng, vượt cả ngoài tầm kiểm soát của Stalin. Nó hoành hành và đàn áp mọi lẽ phải đến mức xã hội không còn tồn tại sự thật, khoa học đi vào ngõ cụt. Đã có những Tổng bí thư LX sau thời Stalin cũng thấy vấn đề và cố gắng giải quyết nạn bè phái nhưng không làm được. Người cuối cùng nỗ lực làm việc này là Gorbachov nhưng ông ta cũng thất bại và LX sụp đổ như 1 tất yếu không tránh được.

25c-tran-quoc-hai-che-tao-xe-tang-cpc

Ông Trần Quốc Hải – một người nông dân Việt Nam được quốc vương…Campuchia trao huân chương nhờ giúp quân đội… Campuchia hiện đại hóa xe tăng!? Click nguồn

Tiếp theo, ta sẽ quan sát vấn đề bè phái ở phương diện đảng phái. Tụi con có thử đặt câu hỏi vì sao rất nhiều nước có hệ thống chính trị đa đảng mấy chục năm, thậm chí cả trăm năm nhưng vẫn nghèo đói (như nhiều nước Châu Phi), dẫm chân ở bẫy thu nhập trung bình (như Ấn Độ và các nước Mỹ La Tinh), khá nhất thì được cỡ Thái Lan nhưng đầy bất ổn. Cậu có thể nói nguyên nhân chính là nạn bè phái. Tụi con thử để ý xem ở các nước phát triển (dân chủ, thịnh vượng) có mấy khi người dân xuống đường ủng hộ đảng này bài xích đảng kia không? Người ta chỉ biểu tình đòi hỏi chính quyền bảo vệ quyền lợi của mình hoặc phản đối những gì họ cho là không có lợi cho mình và nhân dân nói chung. Rồi tụi con nhìn xem Cambodia, Thái Lan hoặc mới đây là Pakistan coi: những cuộc biểu tình rầm rộ toàn do các đảng phái chính trị đứng ra tổ chức, kéo người dân ra đường để ủng hộ mình và phủ định các đảng phái khác. Gần như không thấy bóng dáng của những cuộc biểu tình người dân đòi chính quyền phải tôn trọng quyền lợi của mình, tôn trọng lẽ phải. Mấy tháng trước, xem TV về cuộc khủng hoảng chính trị Thái Lan: 2 phe áo đỏ và áo vàng rầm rộ xuống đường với gần cả triệu người chỉ để tương nhau giữa đảng Dân chủ và đảng Vì nước Thái. Lẻ tẻ có những cuộc biểu tình nhỏ chỉ vài chục đến vài trăm người nông dân đòi chính phủ trả tiền và cam kết chính sách hỗ trợ lúa gạo cho họ, nhưng chỉ lọt thỏm vào giữa các cuộc tuần hành “vàng”, “đỏ” ngợp trời. Chính tính bè phái đã bị các đảng phái lợi dụng để phục vụ cho quyền lợi của giới quyền lực trong các đảng này mà thôi. Người dân vì tính bè phái mà không còn biết đâu là lẽ phải nên chỉ hè nhau bảo vệ các thứ “màu sắc” cứ tưởng là của mình. Họ sử dụng các quyền chính đáng của mình để làm thiệt thòi lợi ích của mình mà không nhận ra. Lẽ phải quan trọng nhất của một xã hội dân chủ thực chất là: quyền lợi phải thuộc về nhân dân. Nhưng ở nước mà chúng ta đang phân tích, nạn bè phái luôn làm cho lẽ phải này không thể tồn tại, hoặc nói chính xác là nó không tồn tại thực chất; chỉ trên danh nghĩa mà thôi. Nó bị biến thành quyền lợi của các nhóm quyền lực dưới các vỏ bọc của các màu sắc đảng phái – tức là vô số lý thuyết dân chủ, lý tưởng vì dân được phủ lên bằng những mỹ từ về đạo đức đi kèm với một vài chính sách mị dân được thực thi để làm người dân “chỉ được hưởng một lần nhưng nhớ mãi, gắn hoài vào cái màu sắc đó”. Nếu có một đảng nào đó đạt được trình độ mị dân thượng thặng thì sẽ chiếm trọn sự ủng hộ của đa số người dân, từ đó thiết lập một chính quyền độc tài lâu dài trên nền đa đảng bất chấp sự nghèo đói lạc hậu triền miên như ta thấy ở rất nhiều nước châu Phi. Ví dụ như Zimbabwe, ông Mugabe đã trên 90 tuổi rồi mà vẫn đang làm tổng thống, liên tục 40-50 năm nay rồi. Nước này đứng vào Top 10 nghèo đói nhất thế giới, có những năm lạm phát đến 2 triệu % trong 2 năm liền (muốn mua 1 bánh mì phải chở 1 xe tiền. Ông này rất tài ở chỗ làm cho dân Zimbabwe mang ơn mình suốt đời vì tin rằng ông ta đã mang lại tự do cho họ, giải phóng họ khỏi ách nô lệ thực dân. Mà quả thật là ông ta đã đúng một lần làm được như thế, giành độc lập cho nước này từ tay Pháp vào cái lúc mà Pháp đã muốn nhả hết các thuộc địa. Nhưng ông ta sau đó đã tước đi tự do của dân mình chắc phải đến cả trăm lần mà họ không nhận thấy. Ông ta còn tài hơn nữa là làm cho dân Zimbabwe lo sợ rằng nếu không phải ông ta làm tổng thống thì lập tức đồng nghĩa với họ sẽ bị rơi ngay trở lại thân phận nô lệ thuộc địa. Do vậy nếu ông ta mà sống được đến trăm tuổi thì cậu vẫn nghĩ ông ta vẫn thu đủ phiếu để đánh bại tiếp tục bất kỳ đối thủ, đảng phái đối lập nào để ở tiếp ghế tổng thống. Có khi người dân nước này lúc đó đi bầu thực hiện quyền công dân tự do của mình mà không có đủ vải che thân cũng nên, nhưng lại nghĩ mình đang được che chở bởi bộ quần áo đầy sắc màu của tổng thống. Tụi con thấy nạn bè phái tác hại ghê gớm không?

Nếu không có được 1 đảng cùng với lãnh tụ “tầm cỡ” như Mugabe thì nạn bè phái sẽ chia thành 5 đảng 7 phái gì đó, nói chung là cá mè một lứa rồi chia, thay nhau cầm quyền qua các nhiệm kỳ như ở nhiều nước Mỹ La Tinh. Nhưng nếu có 1 đảng láu cá nào đó không chịu thay phiên mà cứ ở lì thì thể nào cũng xảy ra đảo chính. Mỹ La Tinh cũng nhiều nhưng vô địch việc này là Thái Lan. Quân đội nước này có cái hay là luôn trả lại chính quyền cho chính quyền dân sự của dân bầu sau khi đã tái lập lại ổn định. Nhưng có điều là họ đã cố gắng ổn định theo cách này đến gần 20 lần rồi. Bây giờ lại đang tiếp tục một lần như vậy. Cậu vừa xem thời sự lúc nãy nói tướng làm đảo chánh Prayut vừa được bầu làm thủ tướng và có vẻ nhiều người Thái ủng hộ vì thấy ông ta đã lập lại được trật tự sau hơn 6 tháng đầy bất ổn. Đó là tâm lý tất yếu của người dân sau khi quá mệt mỏi vì các cuộc biểu tình đấu đá nhau. Ông ta đang hứa hẹn những cải cách mạnh mẽ. Cậu chưa rõ ông ấy sẽ làm gì nhưng gần như không thấy nhắc đến các chiến lược để khắc phục nạn bè phái ở nước này, thay vào đó cậu nghe thấy khá nhiều nét chính trong kế hoạch cải cách chính trị ông ấy đưa ra là để dậm, dọn đường cho việc thiết lập một cơ chế tập trung quyền lực – tức là độc tài. Nếu đúng vậy thì Thái Lan còn mắc kẹt ở bẫy thu nhập trung bình lâu. Năng lượng xã hội ở nước này dù chưa đến mức huỷ diệt nhau như ở Ai Cập mà cậu đã phân tích trong thư trước, nhưng cũng đã triệt tiêu nhau đáng kể giữa các bè phái dưới danh nghĩa các đảng phái chính trị. Vì vậy mà Thái Lan dù có hoà bình cả trăm năm nay nhưng vẫn còn là nước đang phát triển ở mức trung bình. Tụi con cứ thử quan sát nhiều nước khác nữa, phân tích tình trạng của họ rồi tụi con sẽ suy ra được kết luận: “bất kỳ nước nào mà không có cách thức hạn chế được hiệu quả nạn bè phái thì một là chậm phát triển và hai là bạo phát bạo tàn sụp đổ kinh hoàng. Còn tình trạng chính trị của nó thì: một là sự tranh giành thay phiên nhau giữa các bè phái ôn hoà, hai là sự đấu đá căng thẳng loại trừ nhau giữa các bè phái cực đoan (giáo điều và bài bác) mà kết quả cuối cùng luôn là phải thiết lập sự ổn định tạm thời bằng các thể chế độc tài. Các thể chế như vậy tuần hoàn lật đổ nhau hình thành nân cái mới, đôi khi còn độc tài tàn khốc hơn cái cũ.”

Nạn bè phái làm lu mờ sự sáng suốt của người dân. Khiến họ dễ dàng bị kích động cho những cuộc chiến đảng phái, màu sắc vô nghĩa. Thay vì sử dụng quyền biểu tình của mình để bảo vệ lợi ích của chính mình

Nạn bè phái làm lu mờ sự sáng suốt của người dân. Khiến họ dễ dàng bị kích động cho những cuộc chiến đảng phái, màu sắc vô nghĩa. Thay vì sử dụng quyền biểu tình của mình để bảo vệ lợi ích của chính mình.

Làm sao hạn chế được nạn bè phái?

22/8/2014

Vậy thì ta phải trả lời được một câu hỏi quan trọng là: làm sao để hạn chế hiệu quả được nạn bè phái? Mọi giải pháp

Tính bè phái nên được thừa nhận như tính chất cố hữu của con người. Từ đó đưa ra các chính sách nhằm hạn chế mặt tiêu cực của chính sách này và khuyến khích các khía cạnh tịch cực của nó, mà sau này được quy định trong tuyên ngôn quốc tế nhân quyền về quyền tự do lập hội

Tính bè phái nên được thừa nhận như tính chất cố hữu của con người. Từ đó đưa ra các chính sách nhằm hạn chế mặt tiêu cực của chính sách này và khuyến khích các khía cạnh tịch cực của nó, mà sau này được quy định trong tuyên ngôn quốc tế nhân quyền về quyền tự do lập hội

hiệu quả đều phải bắt đầu bằng sự nhìn nhận thực tế, không ảo tưởng với những giả định lý tưởng. Đã có những lời giải được đưa ra dựa trên một mong muốn hy vọng rằng con người có thể nhanh chóng trở nên thánh thiện nhờ vào tấm gương đạo đức của một thánh nhân hay giáo chủ nào đó đi kèm với sự cưỡng ép “một cách có đạo đức” (tức được cho là hợp đạo lý) buộc theo tấm gương đó. Nhưng như cậu viết trong thư trước: “tính bè phái là tính cách gần như cố hữu của hầu hết con người”. Nó có thể thay đổi nhưng tiến bộ rất chậm nên không thể dựa vào đó làm sự tiến bộ cho xã hội được. Do vậy muốn giải được bài toán làm sao hạn chế hiệu quả nạn bè phái thì việc đầu tiên là ta phải thừa nhận tính cách bè phái là cố hữu trong con người và chấp nhận nó như một thực tế khách quan cùng với hệ quả tác động tiêu cực lẫn tích cực của nó. Cha đẻ của Hiến pháp Mỹ – James Madison đã phải nỗ lực không tiếc sức để thuyết phục mọi người chấp nhận tính bè phái của con người như là một quyền tự do cơ bản của họ (mà sau này được gọi là quyền tự do lập hội trong Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền 1948), giống như các quyền con người khác như tự do kinh doanh, tự do tư tưởng; ngôn luận,v.v… Từ đó phải thiết kế ra một bộ máy nhà nước để sao cho các hội nhóm (tức là bè phái) được tự do vận động cho quyền lợi của mình thì sẽ tự nhiên buộc họ phải tạo ra các lợi ích khác cho các cá nhân khác hoặc xã hội nói chung, đồng thời cũng sẽ tự cưỡng ép mình hạn chế thấp nhất tác hại gây ra cho người khác, hội nhóm khác. Nguyên lý này gần giống như định luật Bàn tay vô hình của Adam Smith vậy: sự tự do kinh doanh của một cá nhân sẽ tự nhiên buộc anh ta phải đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người khác, thông qua đó nhu cầu to lớn của xã hội sẽ được tự động cân bằng và được phục vụ ngày càng tốt hơn. Định luật này bây giờ ta gọi phổ biến là quy luật kinh tế thị trường. Tụi con cần biết rằng nước Mỹ vào thời điểm xây dựng Hiến pháp (1787) đang rơi vào khủng hoảng, rối loạn trầm trọng sau hơn 10 năm tuyên bố độc lập (1776). Nạn bè phái hoành hành ghê gớm đe doạ sự tồn tại của chính quyền hợp bang và gây ra rất nhiều vấn nạn khác. Trong hội nghị lập hiến cũng như trong giai đoạn vận động thông qua hiến pháp, xuất hiện phổ biến hai quan điểm đối nghịch nhau là: hoặc đè nén tính bè phái không cho nó phát triển hoặc để nó tự do kiểu giống như vô chính phủ. Nhưng cuối cùng quan điểm khoa học của Madison đã được dân chúng ủng hộ để nước Mỹ từ đó có một bản Hiến pháp vững chắc đưa họ phát triển như thế nào thì tụi con biết rồi. Nó đã giải quyết hậu quả vấn nạn bè phái, xây dựng nên một bộ máy nhà nước Liên bang mạnh, từ đó tạo nên một kết cấu xã hội vững bền. Nó đã đứng vững sau mọi thử thách khắc nghiệt nhất, từ các cuộc xung đột lợi ích không ngừng trong xã hội đến các cuộc đại khủng hoảng, từ cuộc nội chiến đến các đại chiến thế giới, từ đối nội đến đối ngoại, v.v… Những biến cố như vậy làm chao đảo nước Mỹ nhưng với một kết cấu xã hội vững chắc thì nó luôn tự động điều chỉnh về trạng thái cân bằng rồi tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Mới đây thôi, tụi con cũng thấy được, nước Mỹ bị chao đảo mạnh bởi bị tấn công khủng bố quốc tế kéo theo những sai lầm và rơi vào khủng hoảng trầm trọng từ 2008. Nhưng giờ nó đã lấy lại cân bằng và bắt đầu phát triển tiếp. Trong gần 230 năm qua, thế giới đã chứng kiến không đếm xuể những sự sụp đổ của các chế độ, của các nhà nước liên bang, các thể chế tập quyền hay tản quyền, đa đảng hay một đảng, quân chủ hay cộng hoà,… Nhưng nếu Cộng hoà Mỹ vẫn đứng vững nhờ quan điểm khoa học của nó đã giúp thiết chế dân chủ hợp quy luật khách quan – tức là hợp với bản chất tự nhiên của con người và quy luật của Tạo hoá.

Do vậy James Madison mới gọi một bộ máy nhà nước được thiết kế theo nguyên lý trên chính là “Sự thể hiện to lớn nhất của bản chất loài người”. Từ đây ta đã dễ dàng thấy rằng quan điểm khoa học nói trên chính là thái độ cân bằng (hay cũng gọi là thái độ khoa học) mà cậu đã đề cập trong thư trước. Tới đây tụi con đã thấy rõ sự cần thiết phải có nhóm người có thái độ cân bằng để thúc đẩy khoa học phát triển, từ đó xã hội loài người mới tiến bộ tốt đẹp. Muốn vậy thì phải không bè phái dù hiểu rằng đó là bản chất cố hữu của đa số mọi người. Trong thư viết cho bé Nu (22B) cậu đã nhắc đến việc Abraham Lincoln dạy con mình là phải dám đứng thẳng người lên nói ra và bảo vệ lẽ phải cho dù mọi người đang chạy theo cỗ xe bè phái. Nền khoa học nước Mỹ phát triển nhất thế giới là nhờ như vậy đó. Chính cái nền đó cung cấp những nguồn siêu năng lượng khổng lồ làm cho xã hội Mỹ phát triển thịnh vượng và văn minh. Không tôn trọng khoa học để phát hiện và ứng dụng các quy luật tự nhiên thì chẳng đi đến đâu cả. Mọi sự sụp đổ đều xuất phát từ việc áp đặt ý chí chủ quan của những người nắm quyền lực thay cho quy luật khách quan này.

Ta hãy trở lại ví dụ về Liên Xô ở trên. Chế độ này được hình thành dực trên mục đích xã hội là: “Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” của chủ nghĩa Mác. Nó phát triển trong giai đoạn mà các nền kinh tế thị trường ở Châu Âu rơi vào khủng hoảng và đang trong quá trình tự điều chỉnh theo quy luật. Những vấn đề phân phối và công bằng xã hội xảy ra trong thời kì khủng hoảng này đã trao những cơ hội tuyệt vời cho những người ngưỡng mộ lý tưởng Mác thúc đẩy chủ nghĩa này phát triển. Nhưng trong cùng một khoảng thời gian với cùng một xuất phát điểm gần giống nhau thì trường phái chủ nghĩa xã hội dân chủ đã tiến rất xa ở Bắc Âu (gần với lý tưởng Mác nhất), còn CNXH Liện Xô đã sụp đổ ê chề và gây ra rất nhiều thảm hoạ. Trường phái Bắc Âu này ngày nay được gọi với tên phổ biến là Dân chủ Xã hội và đang phát triển dần xuống Tây Âu, ví dụ như đảng Dân chủ Xã hội Đức đã tham gia vào liên minh cầm quyền của thủ tướng Merkel hiện nay. Cậu đã viết nhiều về sự phát triển của trường phái này, tụi con tìm đọc lại. Điều quan trọng mà ta cần nhớ là nó phát triển được cũng nhờ tôn trọng và áp dụng quy luật khoa học. Còn ở Liên Xô, dù cũng biết được tầm quan trọng của khoa học kỹ thuật nhưng lại áp đặt một kết cấu xã hội phản khoa học bởi ý chí chủ quan của giới cầm quyền. Vì vậy mà như trên đã viết: nạn bè phái hoành hành không còn chỗ cho lẽ phải thì làm cách nào để tiếp cận đến chân lý khoa học được. Bản chất tự nhiên của con người cũng không được thừa nhận mà lại bị cưỡng ép bằng sức mạnh với hy vọng đồng nhất nó đến trạng thái lý tưởng của chủ nghĩa Mác. Vì trái quy luật nên kết quả đạt được ngày càng xấu. Thay vì phân tích nguyên nhân một cách khoa học thì giới cầm quyền Liên Xô lại tin rằng do người dân chưa quán triệt đầu đủ nên lại càng tăng cường cưỡng ép. Cứ như thế họ ngày càng không chỉ rời xa mục đích chủ nghĩa Mác mà còn trượt sâu vào vũng lầy và cuối cùng là sụp đổ.

25-tinh-cao-bang-cua-xhcn

Chủ nghĩa xã hội cào bằng mọi thứ kể cả môi trường phát triển cho những cá thể khác nhau. Đây là một môi trường giết chết khoa học chân chính, để thúc đẩy đất nước đi lên

23/8/2014

Phải thừa nhận tính bè phái để giải quyết nạn bè phái một cách khoa học. Không khó gì để thấy rằng muốn một xã hội đạt được trình độ “Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” thì nó phải đạt được hai điều kiện tiên quyết sau đây:

  1. Năng suất lao động phải liên tục tăng và đạt mức cao, trung bình một người làm ra phải nuôi được (tức là đáp ứng đủ mọi nhu cầu vật chất lẫn tinh thần) cho vài chục người. Không thể dựa vào tài nguyên vì rất mau cạn kiệt. Đây là điều kiện vật chất.
  2. Xã hội phải tiến bộ nhanh chóng, đạt đến trình độ văn minh rất cao mà ở đó ý thức, tinh thần tương ái cao đã trở thành giá trị sống phổ biến. Tức là đa số mọi người cảm thấy hạnh phúc khi được chia sẻ và giúp đỡ người khác. Không thể cưỡng ép ý thức này bằng sức mạnh vì người ta sẽ không thấy hạnh phúc. Đây là điều kiện ý thức.

Không đạt được điều kiện vật chất thì cũng không bao giờ đạt được điều kiện ý thức. Khi mà người ta còn chưa tự nuôi được mình thì nghĩ gì đến giúp người khác. Đó chính là điều Mác muốn nói: “Vật chất quyết định ý thức” – như một triết lý căn bản để thực hiện lý tưởng “Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”. Nếu giữ đúng quan điểm khoa học như vậy thì phải nhanh chóng thay đổi bất kỳ phương thức sản xuất nào không đảm bảo gia tăng được năng suất lao động cho dù cái mới nó có khác với những gì ông Mác gợi ý từ cả trăm năm trước. Phương thức sản xuất kế hoạch hoá tập trung ở Liên Xô đã không gia tăng được năng suất lao động mà còn làm nó giảm trầm trọng. Nhu cầu cơ bản của con người còn chưa được đáp ứng mà họ đã áp dụng luôn cách thức phân phối bình quân ai cũng như nhau dù làm ít hay nhiều. Điều này, ngay lập tức và hoàn toàn theo quy luật, triệt tiêu động lực sản xuất nên năng suất lao động càng giảm nghiêm trọng khiến xã hội thiếu thốn đủ thứ nhu cầu vật chất. Vật chất thiếu thì ý thức nghèo thôi. Mác nói rất đúng. Niềm tin của người ta tụt không phanh, không những đối với các phương thức sản xuất và phân phối này mà cả với “Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”. Thay vì nhận ra sai lầm và điều chỉnh một cách khoa học thì giới cầm quyền Liên Xô đã tăng cường cưỡng ép (tới mức đàn áp) ý thức của con người với ảo tưởng làm họ quán triệt “đúng đắn” chủ nghĩa Mác – Lê Nin. Trong khi đó, các nền kinh tế thị trường trên thế giới đã lấy lại được sự phát triển tốt đẹp sau quá trình tự điều chỉnh để giải quyết tốt hơn các vấn đề phân phối và công bằng xã hội sau Thế chiến II. Nổi bật lên là các nước Bắc Âu nhờ đường lối chủ nghĩa xã hội dân chủ dựa trên nền kinh tế thị trường và sự thuyết phục người dân chấp nhận đóng thuế rất cao để nhà nước có thể giúp đỡ những người khó khăn, không gặp may, có ít cơ hội…Xét tổng hợp 3 tiêu chuẩn công bằng, thịnh vượng, văn minh thì xã hội Bắc Âu là tốt nhất thế giới. Liên Xô thay vì thừa nhận và áp dụng thì lại cự tuyệt nguyên lý kinh tế thị trường, lý do cũng bởi nạn bè phái. Lần này nó mang tầm quốc tế: họ sai lầm cho rằng kinh tế thị trường là đặc sản của chủ nghĩa tư bản trong khi đây chỉ thuần tuý là một quy luật tự nhiên của Tạo hoá, chẳng thuộc về ai cả. Họ nhuốm màu sắc cho một quy luật khoa học để ngăn cản áp dụng không chỉ cho họ mà với tất cả các nước XHCN khác – Một tình trạng siêu bè phái tầm toàn cầu. Điều trớ trêu là Liên Xô và tất cả các chế độ XHCN khác đều sụp đổ trừ Trung Quốc và Việt Nan – hai nước đã kịp áp dụng kinh tế thị trường.

25c-be-phai

Liên Xô và các nước thuộc khối liên bang Xô Viết đã “đoàn kết” cùng nhau bài xích “kinh tế thị trường”- một quy luật tự nhiên tất yếu của khoa học (chứ chẳng phải của Chủ Nghĩa thế lực thù địch nào cả).

TQ nhờ kinh tế thị trường mà nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo và vươn lên mạnh mẽ. Nhưng cũng chính vì tư tưởng bè phái mà họ lại nhuốm màu sắc cho quy luật khoa học này, gắn cho nó một cái định hướng đã tạo ấn tượng lôi kéo các nước khác chạy theo ý thức hệ “chủ nghĩa xã hội đặc sắc TQ” (đọc thêm ở thư 30A). Trớ trêu là cái màu sắc ấy đã và đang gây hại cho họ. Vì cũng không có được một cơ chế giải quyết nạn bè phái nên cái định hướng xã hội chủ nghĩa bị biến tướng để phục vụ tham nhũng. Với ý định ban đầu là nhằm phân bổ tốt hơn cơ hội và nguồn lực kinh tế cho xã hội, nó đã bị các phe nhóm tham nhũng biến thành cách thức sử dụng quyền lực nhà nước để phân chia đặc quyền kinh tế cho mình, làm cho sự bất công ngày càng nghiêm trọng trong xã hội. Động lực kinh tế vì vậy mà cũng bị tiêu mòn nhanh chóng, kéo năng suất lao động tăng ì ạch và giảm. Nền kinh tế Trung Quốc vì thế mà vận hành ngày càng khó khăn như ta thấy hiện nay mà thế giới gọi là khủng hoảng tuổi trung niên. Chưa giàu mà đã già. Dù cải thiện được đáng kể điều kiện vật chất nhưng vẫn chưa đạt được mức cao thì TQ đã rơi vào hàng loạt vấn nạn xã hội nghiêm trọng. Ấy vậy mà họ đã nóng vội cưỡng ép điều kiện ý thức lên xã hội như thể là xã hội Trung Quốc đã đạt tới văn minh rồi. Sức cưỡng ép đó bị tham nhũng lợi dụng hiệu quả để trục lợi như đã nói ở trên. TQ đang đi vào vết xe đổ của Liên Xô, không dám thừa nhận thực tế để điều chỉnh một cách khoa học thông qua việc cải cách chính trị, xã hội theo đúng các quy luật tự nhiên. Nếu họ tiếp tục những cách thức hiện nay thì chắc chắn sẽ bị sụp đổ không lâu nữa, như cậu đã nhiều lần phân tích.

Lịch sử đang trao cơ hội cho VN ta. Nhu cầu xây dựng một xã hội theo đường lối XNCH tiến dần đến lý tưởng “Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” là có thật và rất lớn. Nếu không thì nó đã không thể bùng lên ở Liên Xô và khối Xã Hội Chủ Nghĩa trước đây, giờ là TQ, VN và một số chế độ cánh tả ở Mỹ La Tinh. Một nước khác là Ấn Độ, tụi con có thể chưa biết rằng dù không mang quốc hiệu có XHCN nhưng đường lối kinh tế, xã hội mà hơn nửa tỷ người Ấn bỏ phiếu lựa chọn trong hơn 40 năm (từ lúc giành được độc lập năm 1947) chính là chủ nghĩa Mác. Đảng Quốc Đại (do Gandhi và Nehru sáng lập và lãnh đạo) dù không mang tên Cộng sản nhưng đã lấy học thuyết Mác làm nền tảng và được người dân Ấn Độ chọn là đảng cầm quyền gần như liên tục hơn 40 năm trong một môi trường chính trị có đến cả trăm đảng phái tự do hoạt động. Họ cũng đã không thành công. Nhưng như cậu đã viết: cái gì đã tồn tại thì đều có lý do và sứ mạng để tồn tại. Nhu cầu nói trên vẫn còn đó ở hàng tỷ người và là chính đáng. Những sự thất bại ở Liên Xô, Ấn Độ, Trung Quốc để chỉ ra một chân lý rằng: “Không tôn trọng lẽ phải và ứng dụng khoa học thì không bao giờ đi đến được lý tưởng xã hội tốt đẹp nào cả. Và: nếu không có một thiết kế nhà nước và xã hội để giải quyết hiệu quả nạn bè phái thì sẽ chẳng có lẽ phải hay khoa học nào có thể tồn tại cả cho dù cái nhà nước và xã hội đó được lãnh đạo bởi các ông thánh đi nữa, theo bất kỳ học thuyết chủ nghĩa nào chăng nữa?”

Điều thú vị là cái “Cơ chế xã hội để đảm bảo sự vận động tự nhiên của tất cả các yếu tố/thành phần khác nhau trong xã hội sẽ được tự động điều chỉnh đến trạng thái cân bằng khác nhau” – Như cậu phân tích trong thư 24, nhằm đạt được sự chuyển hóa năng lượng khoa học cho xã hội – cũng chính là cái thiết kế để giải quyết hiệu quả nạn bè phái. (Cậu sẽ giải thích và chứng minh điều này trong những thư sau). Nếu vậy thì khi VN ta tạo nên được cái cơ chế này thì không những nguồn siêu năng lượng xã hội khổng lồ sẽ được tổng hợp thành công để VN bùng nổ phát triển, mà các lý tưởng xã hội tốt đẹp sẽ có điều kiện vàng để hoàn thành. Với hoàn cảnh lịch sử của VN thì không khó để thuyết phục người dân lựa chọn lý tưởng này là: “Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”. Chắc chắn rằng con đường đi đến điểm tuyệt đối của lý tưởng này còn rất xa. Nhưng cũng chắc chắn rằng khi nào mà ta còn tôn trọng lẽ phải và tuân thủ khoa học thì ta sẽ luôn gặt hái được những thành tựu tốt đẹp, rất tốt đẹp trên con đường đó. Tụi con hãy liên tuởng rằng trước khi con người làm ra được chiếc máy bay thì đã có vô số sự hoài nghi và bài bác bởi không ít người ảo tưởng và giáo điều, không hiểu biết khoa học đi tìm phép thần thông để bay. Từ khi có ước mơ đến khi có máy bay mất hàng ngàn năm. Nhưng trong quá trình đó những người có thái độ khoa học đã tìm ra rất nhiều các quy luật khoa học và áp dụng chúng để tạo ra vô số các thành tựu kỹ thuật phục vụ cuộc sống con người tốt đẹp hơn.

Xét trên bình diện quốc tế, thế giới luôn có nhu cầu cần những sự đối trọng lành mạnh để làm nó cân bằng nhằm phát triển ổn định. Ngay trong một khu vực cũng vậy, ví dụ Châu Âu thì xu hướng Dân chủ xã hội Bắc Âu đối trọng với xu hướng thị trường tự do (phổ biến ở Tây Âu) làm châu lục này cân bằng và phát triển lành mạnh. Cái đầu thường được gọi là xu hướng cánh tả, cái sau là cánh hữu. Ngay cả trong nước Mỹ rộng lớn thì đảng Cộng hòa thường có xu hướng hữu, còn đảng Dân chủ thì có xu hướng tả. Obama đang bị phía Cộng hòa chỉ trích là quá tả vì chủ trương tăng thuế để thực hiện chương trình chăm sóc y tế và đầu tư cho nhiều chương trình phúc lợi xã hội khác. Sau Thế chiến II Liên Xô tận dụng nhu cầu đối trọng này của nhân loại để tranh thủ sự ủng hộ và vươn lên. Nhưng vì nạn bè phái chi phối hệ thống chính trị Liên Xô nên nó chẳng còn biết đâu là lẽ phải và chính nghĩa của vai trò đối trọng. Vì thế nó thực hiện vai trò này một cách cực đoan và phản khoa học theo kiểu kết bè kéo cánh, nhuốm màu sắc chính trị cho bè cánh để cùng nhau đàn áp lẽ phải và tranh hùng tranh bá. Cho nên chẳng có gì khó hiểu khi nó không tạo ra được sự đối trọng lành mạnh, thay vào đó là nhiều thảm họa cho nhân loại. Dù nó đã sụp đổ nhưng nhu cầu này vẫn tồn tại. Nga tiếp bước Liên Xô với bản chất không hề thay đổi và thực hiện chiến lược bất ổn để tăng giá dầu. Thêm sự tham gia của Trung Quốc với “trỗi dậy hòa bình”. Hòa bình và ổn định thế giới đang đứng trước những thách thức nghiêm trọng nhất từ sau chiến tranh lạnh đến giờ. Hơn thế nữa, họ còn tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến các xu hướng cánh tả ở châu Phi và Mỹ La Tinh: cực đoan thì như Venezuela, Bolivia; ôn hòa nhưng đầy tham nhũng và các vấn nạn xã hội như Brazil, Argentina. Hình ảnh của phong trào cánh tả thế giới bị hoen ố, vừa không đáp ứng được nhu cầu đối trọng lành mạnh, vừa làm xói mòn hơn nữa niềm tin của nhân loại vào những nỗ lực thúc đẩy xã hội tiến bộ nhanh hơn về hướng công bằng.

24/8/2014

Do vậy nhu cầu đối trọng lành mạnh lại càng cấp thiết, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi thế giới đang bước vào thời kỳ toàn cầu hóa mới sâu rộng hơn. Và mong muốn về một xã hội công bằng hơn, thịnh vượng hơn, văn minh hơn, tương ái giúp đỡ nhau nhiều hơn vẫn là khát vọng chi phối của nhân loại. Đây thực sự là cơ hội vàng cho VN. Nhưng không phải là để kết bè kéo cánh, tranh hùng xưng bá. Mà là vì trách nhiệm duy trì hòa bình, ổn định bền vững cho thế giới để nó phát triển dân chủ thịnh vượng, Và góp phần thúc đẩy nhanh cho sự tiến bộ của xã hội loài người ngày càng bình đẳng, văn minh, nhân ái. Nếu chúng ta xây dựng được cơ chế cân bằng khoa học để giải quyết hiệu quả nạn bè phái như trên thì VN mình sẽ là đất nước có lẽ phải ngự trị. Từ đó VN sẽ thúc đẩy lẽ phải phát triển chi phối thế giới. Chúng ta sẽ ủng hộ mọi điều thuộc về lẽ phải dù nó xuất phát từ những người thấp cổ bé họng ở một góc khuất nào đó của thế giới phẳng. Chúng ta sẽ lên án mọi thứ sai trái bất chấp nó là của nước lớn như Nga, TQ, Mỹ, EU,… Chúng ta sẽ không bị nạn bè phái để buộc phải ủng hộ hoặc làm ngơ cho những hành động đe dọa hòa bình thế giới, xâm phạm QCN, vi phạm luật pháp quốc tế, sử dụng hoặc đe dọa vũ lực, cá lớn nuốt cá bé, v.v… của quốc gia hay tổ chức nào chỉ vì nó cùng “màu sắc” với mình (nhiều khi chỉ là giống nhau cái tên nhưng bản chất hoàn toàn khác). Chúng ta sẽ không bao giờ bị cô lập cho dù có những thế lực có sực mạnh quốc tế muốn như vậy, cộng đồng quốc tế và nhân loại tiến bộ sẽ luôn trợ giúp chúng ta. Nếu xã hội VN phát triển theo đường lối XHCN tiến bộ và khoa học thì sự thành công của chúng ta sẽ truyền cảm hứng cho phong trào cánh tả thế giới phát triển tốt đẹp và trở thành một lực lượng đối trọng lành mạnh. VN không những có uy tín và được tôn trọng, mà chúng ta hoàn toàn có thể trở thành ngọn cờ đầu để tập hợp ảnh hưởng tử phong trào này nhằm cùng nhau đóng góp vào việc xây dựng Luật pháp quốc tế hướng đến một thế giới không bạo lực, không cường quyền và trao cơ hội như nhau cho các dân tộc dù lớn hay nhỏ. Các thế lực muốn cô lập VN sẽ không còn lôi kéo được, không đủ sức để gây họa, cuối cùng sẽ nhận ra con đường khoa học và tìm thấy giá trị đích thực của mình ở đó. Hòa bình thế giới vững chắc từ đó.

Khi ấy dân tộc ta không những thịnh vượng và văn minh mà còn có hạnh phúc và được tôn trọng. Cậu biết, đó là con đường VN – sứ mạng Lạc Hồng. Nó đang mở ra cho chúng ta – tất cả mọi người VN, không phân biệt thành phần, đảng phái và cũng không bè phái. Giờ thì tụi con hiểu tại sao cậu không tham gia đảng phái nào rồi phải không? Ở nước nào cũng vậy thôi, khi không có được một cơ chế khoa học thì đảng phái đồng nghĩa với siêu bè phái, đoàn kết thường đồng nghĩa với cùng nhau làm bậy, vì quyền lợi của mình nhưng núp bóng dưới danh nghĩa lợi ích của người khác. Tụi con thử nhìn và phân tích các nước chậm phát triển xem có phải vậy không. Rồi lại nhìn vào Mỹ và EU coi. Một nghị sĩ bỏ phiếu chống lại dự luật của đảng mình và ủng hộ dự luật của đảng đối lập là một biểu hiện lành mạnh ở Mỹ đó – chính cái thiết kế hạn chế nạn bè phái nó tự điều chỉnh hành vi của những người đại diện cho dân chúng thực hiện đúng trách nhiệm của mình, chứ không phải đại diện cho đảng phái. Ở nước này mà các dự luật được thông qua với hơn 3/4 thì đó là biểu hiện có thể dẫn đến nạn bè phái rồi đó, nên sẽ bị dân chúng soi rất dữ. Một nước thành EU vẫn thường hay có ý kiến khác hoặc bỏ phiếu chống một quyết định chung nào đó, cũng chẳng sao. Ý kiến đó có thể chưa đủ thuyết phục lần này nhưng nó cũng buộc các nước khác phải lắng nghe. Vào thời điểm khác nó có thể trở thành quyết định. Ý kiến thiểu số không được thông qua nhưng không có nghĩa là không có giá trị. Nó giữ vai trò để cân bằng. Tụi con hiểu không? Cậu nghe Quốc hội Triều Tiên bỏ phiếu thông qua cái gì đó với tỷ lệ 99,9% mà cứ phì cười. Họ đoàn kết kiểu này thì dân họ mệt lắm.

Ta đã xong bài học thứ hai, nhưng còn bài học thứ ba nữa. Tụi con đang cùng cậu đi trên “Hành trình vào bản chất của dân chủ và thịnh vượng” đó. Cũng sắp tới nơi rồi🙂. Mấy đứa mỏi chân chưa? Khi tới tụi con sẽ phát hiện rằng: “Ủa, xa quá cỡ như vậy mà mình có đi bao nhiêu đâu!” Khi ta vượt qua chướng ngại bên trong con người mình thì mình sẽ nhìn được rất rất là xa, đến mức mà chỉ cần xoay góc nhìn 90o thôi thì ta đã quét qua 1/4 trái đất rồi. Đồng ý không? Thương các con.

Ba Thức/cậu Tám/bác Tám/ba Hai.

This entry was posted in Thư Xuyên Mộc and tagged , , , , , , , , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s