Thư 30A- Tự do suy tưởng – Cơ chế xã hội khoa học P2


30A-cover-image

 Xuyên Mộc, 28/10/2014

Các con, cháu thương

Hôm nay cậu tiếp thư 29B về CƠ CHẾ XÃ HỘI KHOA HỌC. Chúng ta đang nói đến tình trạng xâm phạm QCN nghiêm trọng tạo nên những xã hội phi dân chủ nhất như các xã hội thời phong kiến tấp quyền ở TQ, phong kiến thần quyền ở Châu Âu hay những nhà nước Hồi giáo cực đoan thời nay.

Tầm quan trọng của tự do tư tưởng trong Cơ Chế Xã Hội Khoa Học (CCXHKH)

35b-share-image-fbVào giữa thiên niên kỷ thứ 2, Thiên Chúa giáo phát triển cực đoan ở Châu Âu, tạo nên các nhà nước thần quyền ở hầu hết các quốc gia ở đó. Các Giáo chủ do Giáo hội La Mã bổ nhiệm làm cho Giáo hoàng ở các quốc gia này có quyền hạn vượt trên các vị vua. Vì thế mà không có luật pháp nào được ban hành nếu không được Giáo chủ ủng hộ, dẫn tới luật pháp phải thể hiện quan điểm của Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã. Thiên Chúa giáo cũng là quốc giáo ở các nước này nên dễ hiểu là đạo đức chi phối xã hội cũng là các giá trị đạo đức theo quan niệm của Thiên Chúa giáo. Hơn thế nữa, những phát triển phát biểu hoặc quan điểm của Giáo Hoàng hoặc các Giáo chủ cũng dễ dàng được áp đặt thành những chân lý và dung pháp luật để bảo vệ nó. Ví dụ nổi tiếng nhất chính là thuyết địa tâm, nó là một nhận thức chủ quan của nhiều Giáo hoàng rồi họ dùng quyền lực tuyệt đối của mình biến nó thành chân lý, tức sự thật tuyệt đối của vũ trụ. Họ đưa nó vào luật và lập ra các tòa án dị giáo để kết tội và đưa lên giàn hỏa bất kỳ ai nói khác nó. Đây rõ ràng là sự xâm phạm quyền tự do tư tưởng và ngôn luận của con ngưởi cự kỳ nghiêm trọng. Nó làm cho xã hội Châu Âu thời đó xơ cứng, không có sự vận động đủ mạnh để tiến lên. Nó bóp chết khoa học, làm con người mê muội và sợ hãi. Xã hội bị bóp nghẹt, muốn vận động thì phải trong khuôn khổ của các quan niệm, giá trị, niềm tin của Tòa Thánh La Mã. Tất cả những điều đó trở thành vừa chân lý, vừa đạo lý, vừa pháp lý. Ba khu vực này bị đồng nhất làm một, đồng nghĩa với việc chiếm đoạt không gian tự do cho sự vận động của xã hội. Đây là nguyên nhân làm cho xã hội Châu Âu chậm tiến và rơi vào nhiều khủng hoảng nghiêm trọng từ giữa thế kỷ 16. Nhưng nước Anh lại bứt phá mạnh mẽ trong giai đoạn này nhờ đã tiến hành những cải cách tôn giáo mạnh mẽ để thoát khỏi sự chi phối của Giáo hội La Mã. Những cải cách tôn giáo này thực chất là những bước tiến bộ trong việc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân Anh – chính là kết quả đấu tranh bền bĩ của họ cho QCN từ nhiều thế kỷ trước. Vào thời kỳ này, chỉ có môi trường xã hội tự do như nước Anh mới sản sinh ra các nhà bác học lỗi lạc như Newton, Darwin, mới chứng minh được những chân lý đúng đắn bằng khoa học, đồng thời chỉ ra sự sai trái của những cái áp đặt là chân lý bởi sự chủ quan của giới thần quyền. Nước Anh vì vậy mà có nền khoa học phát triển rực rỡ, bỏ xa các nước Châu Âu khác từ thế kỷ 17 trở đi rồi vượt lên dẫn đầu về mọi mặt dù rằng họ từng lạc hậu kém xa các nước này. Thành tựu này của người Anh sau đó lan tỏa thành các cuộc Cách mạng KHKT và cách mạng dân chủ làm biến đổi sâu sắc Châu Âu và thế giới.

30a-greate-ancient-china

vận động tự do đã cho nhà Tần sức mạnh thống nhất Trung Hoa

Ở TQ, trước khi Tần Thủy Hoàng thiết lập chế độ phong kiến tập quyền đầu tiên (khoảng 220TCN), tồn tại rất nhiều ý thức hệ khác nhau. Đó là một xã hội đa nguyên có sự vận động tương đối tự do về tư tưởng. Vì vậy mà trình độ khoa học của TQ phát triển rất sớm so với thế giới thời đó. Các học thuyết về hình thái xã hội cũng ra đời rất đa dạng vào thời ấy, đến bây giờ vẫn được đánh giá là còn nhiều giá trị. Tư tưởng pháp trị đầu tiên trên thế giới được cho là của phái Pháp gia, chính là thuộc vào thời kỳ này ở TQ. Một nước chư hầu nhỏ vào lúc ấy là Tần đã áp dụng tư tưởng Pháp gia của Thương Ưởng: dùng luật pháp để cai trị và luật pháp thì bình đẳng đối với vua và dân. Nhờ vậy mà Tầu đã lớn mạnh vượt trên mọi chư hầu khác, cuối cùng thâu tóm tất cả vào tay Tần Thủy Hoàng. Nhưng cũng từ đó, ông ta áp đặt sự thuần nhất cho toàn xã hội rộng lớn của TQ bằng quan điểm chủ quan của mình, hủy diệt tất cả những gì khác mình. Đốt sách giết học trò là vì thế. Nhà Tần nhanh chóng bị diệt vong nhưng quan điểm về tập quyền của nó vẫn phát triển tiếp tục bởi những triều đại phong kiến cuối cùng ở TQ là Mãn Thanh.

Nho giáo cũng phát triển mạnh mẽ trong suốt thời kỳ hơn 2000 năm này nhờ giới cầm quyền nhận ra các giá trị của nó có thể được sử dụng để phục vụ cho mục đích tập quyền nhờ tạo nên được một xã hội thuần nhất. Vì thế mà tụi con dễ dàng nhận ra rằng Nho giáo vừa là chân lý, đạo lý và pháp lý ở những nước như TQ, VN, Nhật, Triều tiên trước đây. Do đó trình độ khoa học ở các nước này gần như không tiến triển gì đáng kể trong hơn 2 ngàn năm. Các tư tưởng tiến bộ cũng không thể ra đời để giúp xã hội phát triển. TQ và VN mình đến giờ vẫn chưa có được sự phát hiện ra quy luật cơ bản nào có giá trị cho thế giới. Quy luật cơ bản chính là chân lý của vũ trụ, nên làm sao mà chân lý sáng tỏ được khi mà rất nhiều quan điểm sai trái của Nho giáo ngự trị mấy ngàn năm và được pháp luật bảo vệ như chân lý. Không chỉ xã hội xơ cứng mà con người cũng mất hết khả năng sáng tạo. Đến khi Châu Âu theo con đường của Anh cải cách và tiến nhanh vũ bão thì khu vực Nho giáo này bị tụt hậu trầm trọng. Chỉ có nước Nhật kịp thời tỉnh ngộ và thực hiện cuộc đổi mới vĩ đại dựa trên sự bảo vệ QCN nên nhanh chóng đuổi kịp các nước phương Tây hồi cuối thế kỷ 19. Hàn Quốc cũng đi theo con đường đó 4-5 thập kỷ qua nên cũng tạo nên sự phát triển thần kỳ. Trong cùng giai đoạn này TQ cũng tiến hành đổi mới với xuất phát điểm còn cao hơn HQ nhưng xét về trình độ phát triển thần kỳ. Trong cùng giai đoạn này TQ cũng tiến hành đổi mới với xuất phát điểm còn cao hơn HQ nhưng xét về trình độ phát triển hiện giờ thì thua xa HQ. Thời kỳ này kinh tế TQ phát triển bùng nổ nhờ những quyền về kinh tế, văn hóa được bảo vệ và thúc đẩy mạnh mẽ. Nhưng các quyền về chính trị, xã hội vẫn bị hạn chế nặng nề nên kết quả tất yếu là xã hội TQ bị suy đồi nghiêm trọng, kéo theo sự suy thoái cả về kinh tế lẫn chính trị như ta thấy hiện nay.

30/10/2014

Sẽ luôn là sai lầm và ảo tưởng nếu cho rằng chỉ cần cho khoa học tự nhiên, công nghệ được tự do còn khoa học về phát triển xã hội thì cần kiểm soát theo những quan điểm, tư tưởng nào đó. Điều này dẫn đến QCN chỉ được bảo vệ một phần. Kết quả thì như ở trên ta đã phân tích. Không đạt được cả khoa học tự nhiên lẫn sự phát triển xã hội. Thực ra các quy luật phát triển xã hội có tầm quan trọng không kém gì các quy luật tự nhiên. Việc tìm hiểu các quy luật tự nhiên để tạo nên công nghệ giúp tạo ra những thành tựu vật chất đã trở nên rất phổ biến. Nhưng sự hiểu biết các quy luật phát triển xã hội và ứng dụng chúng để làm cho xã hội phát triển bền vững, đạt được thịnh vượng và văn minh là việc còn chưa được chú trọng ở các nước đang phát triển. Các nước này có thể dễ dàng thừa nhận, thừa hưởng thành tựu khoa học công nghệ của các nước phát triển nhưng lại rất khó chấp nhận các quy luật phát triển xã hội được rút ra từ kinh nghiệm của các nước phát triển đó. Họ cho rằng nó không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của họ, họ cần đặc thù riêng theo ý thức hệ của họ. Với suy nghĩ như vậy, họ bị một nhầm lẫn rất lớn giữa các yêu tố thuộc về con người và những yếu tố không thuộc về con người. Các quy luật nói chung, cả tự nhiên lẫn xã hội, là sản phẩm của vũ trụ – của Tạo hóa, là những yếu tố không thuộc về con người. Con người có muốn hay không thì quy luật vẫn tồn tại, tồn tại bất chấp những hoàn cảnh khác nhau của con người. Những nguyên lý vận hành của một quy luật nào đó là như nhau tại những vị trí địa lý khác nhau, đối với những chủng tộc màu da khác nhau. Các vật thể ở Châu Mỹ thì cũng bị hút nhau theo những cách thức và cường độ giống hệt ở Châu Á. Hàng hóa khan hiếm ở Châu Phi cũng sẽ làm nó lên giá theo những cách thức và mức độ khan hiếm giống hệt ở Châu Âu. Nói cách khác, Luật vạn vật hấp dẫn hoặc quy luật kinh tế thị trường không thể tạo ra những tác động khác nhau dành riêng cho người Mỹ, TQ, VN, v.v… Cùng một nguyên lý tác động nhưng sẽ cho ra những kết quả khác nhau tùy theo sự vận động của con người. Sự khan hiếm hàng hóa ở TQ có thể khiến người dân ở đó hoang mang đổ xô đi mua hàng tích trữ, làm cho giá hàng hóa càng lên, hàng hóa càng khan hiếm, càng gây bất lợi cho họ. Nhưng cùng một sự việc nếu xảy ra ở Mỹ, nơi người dân có thể đã hiểu rõ quy luật thị trường nên sẽ không mua tích trữ, thay vào đó là tìm cách chia sẻ thông tin để đưa hàng từ nơi thừa sang nơi thiếu. Sự hiểu biết của con người về quy luật là yếu tố quyết định tính hiệu quả của sự vận động của con người (tức là hành xử của họ) trong xã hội. Muốn có kết quả tốt thì người ta phải càng hiểu biết quy luật, chứ không thể sửa đổi qquy luật hay làm nó biến mất được.

Muốn có được một xã hội tốt đẹp thì việc trước tiên và quan trọng nhất là làm sao để người dân hiểu biết được các quy luật phát triển xã hội. Người dân là chủ thể của mọi sự vận động xã hội. Muốn vậy QCN của họ phải được bảo vệ đầy đủ và trên hết. Khi đó khoa học mới phát triển và có đủ tự do để phổ biến kiến thức khoa học cho người dân, không chỉ về quy luật trong tự nhiên hoặc công nghệ mà cả về quy luật phát triển kinh tế xã hội. Dùng pháp luật để bảo vệ trên hết cho những đường lối phát triển xã hội nào đó sẽ dẫn đến việc ngăn cấm vận động cho những đường lối khác, tức làm cho QCN không được bảo vệ trên hết và đầy đủ. Kết quả vì vậy mà xã hội không thể nhận ra được chân lý là những quy luật phát triển xã hội mà con người cần hiểu biết. Nên xã hội không thể phát triển tốt đẹp. Đây là sự sai lầm về phương pháp thường thấy ở các đảng cầm quyền của nhiều nước chậm phát triển, cả ở những nước bị rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Khi đã nắm được quyền lực, các đảng này thường dùng pháp luật để bảo vệ những quan điểm mà họ tin là tốt cho xã hội – thực chất là dùng quyền lực để áp đặt mong muốn chủ quan của mình. Nhưng họ lại quên rằng sự phát triển xã hội là kết quả chủ yếu từ sự vận động của người dân. Một đường lối cho dù là tốt, là hợp với quy luật phát triển mà người dân không hiểu thì khi bị áp đặt họ chỉ hành động đối phó. Nêu cái tốt chỉ ở mãi trên giấy còn thực tế thì ngược lại: những kẻ xấu trong chính quyền lợi dụng đường lối đó để trục lợi, còn người dân thì thường phải chấp nhận cái xấu để tồn tại. Sự thất bại của nhiều chính sách xã hội thường xuất phát từ những sai lầm về phương pháp như vậy dù những chính sách đó thường xuất phát từ những mục đích tốt đẹp.

Nguyên nhân của sự áp đặt tư tưởng

30A-the_laws_of_nature

Có những yếu tố thuộc về con người, có những cái thì không

31/10/2014

Sự sai lầm nói trên chính là hậu quả của sự nhầm lẫn giữa những yếu tố thuộc về con người và những yếu tố không thuộc về con người. Sự nhầm lẫn này còn gây ra một sai lầm tai hại khác là: nhiều người cho rằng các quy luật về xã hội là nhận thức hoặc niềm tin phổ biến của người dân. Vì thế mà nhiều giới cầm quyền ra sức tuyên truyền và kiểm soát tư tưởng của người dân, hy vọng rằng người dân sẽ hướng đến những gì mà chính quyền nghĩ là tốt đẹp, từ đó sẽ tạo nên quy luật phát triển về hướng đó. Nếu tất cả 7 tỷ người trên trái đất này có cùng suy nghĩ như nhau thì cũng không thể tạo ra được 1 quy luật nào của Tạo hóa cả, về tự nhiên lẫn xã hội. Tụi con thử tưởng tượng một ví dụ sau: nếu vì một lý do nào đó 7 tỷ người đều đồng lòng chỉ ăn thực vật để bảo vệ động vật và môi trường làm xã hội loài người tốt hơn. Nghĩ xem chuyện gì sẽ xảy ra? Môi trường sẽ mất cân đối trầm trọng: đất đai không đủ để làm ra rau củ quả, sông biển sẽ cực kỳ ô nhiễm vì động vật biển sinh sôi nảy nở dẫn đến mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng. Xã hội sẽ đầy rối loạn vì hàng tỷ người không biết kiếm sống bằng gì vì công việc trước đó của họ là nuôi trồng thủy sản, heo, gà, bò, … dẫn đến những tệ nạn xã hội không thể lường hết nổi. Những tranh chấp về đất đai, tài nguyên sẽ bùng phát và có thể dẫn đến chiến tranh hủy diệt. v.v… và hàng tỷ thứ vấn đề khác, chẳng ai lường nổi🙂. Những hậu quả đó là chắc chắn không thể tránh khỏi vì chúng là kết quả tất yếu của những quy luật của Tạo hóa như: đấu tranh sinh tồn (Thuyết tiến hóa), quy luật thị trường, v.v… những điều tốt theo mong muốn chủ quan của con người, nếu có, thì cũng sẽ bị nhấn chìm không còn dấu vết trước những hậu quả kinh khủng như thế. Ý muốn tốt không chắc tạo ra kết quả đẹp. ISIS-prayer-640x400Chỉ khi hiểu biết quy luật thì mới có thể làm nên điều tốt đẹp. Tụi con thử quan sát những xã hội của những nhà nước Hồi giáo cực đoan hiện nay mà xem, niềm tin tôn giáo của con người ở đó là cực kỳ mãnh liệt. Nó được nuôi dưỡng và hun đúc qua hàng bao thế hệ rồi. Họ nghĩ, họ tin là họ đang hướng đến những điều cực kỳ tốt đẹp và chỉ có những điều đó là tốt đẹp. Những gì khác với điều ấy đều là sai trái, xấu xa. Những kẻ cầm quyền cực đoan lâu nay đã tạo nên những xã hội như thế không hề nhỏ, có đến cả chục cả trăm triệu người. Nhưng họ đã làm nên điều gì tốt đẹp cho xã hội của nó nói riêng, cho loài người nói chung? Cái mà ta thấy rõ nhất là những vấn nạn và gánh nặng toàn cầu. Chỉ duy nhất những kẻ cầm quyền đó mới được hưởng lợi từ những xã hội như vậy: được tung hô, được sùng bái, được ăn trên ngồi trước cai trị thiên hạ. Cậu nghiên cứu khá nhiều các nhà nước và xã hội tương tự như trên, kể cả không phải Hồi giáo. Cậu thấy rằng ban đầu những kẻ cầm quyền thường xuất phát từ những ý muốn tốt đẹp, nhưng vì không hiểu biết quy luật nên họ chỉ tạo ra kết quả ngược lại với điều họ muốn, họ hứa với dân chúng. Vì vậy để bảo vệ sự cầm quyền của mình họ phải chuyển dần qua độc tài bóp nghẹt QCN và lợi dụng niềm tin tôn giáo, đạo đức để duy trì niềm tin của người dân và tạo sự sùng bái của họ dành cho mình. Họ phải kiểm soát báo chí và ra sức tuyên truyền là vì thế.

Làm sao để tự do tư tưởng thực sự?

Do vậy cậu mới nhấn mạnh tầm quan trọng của quy luật phát triển xã hội đối với các nước đang phát triển. Các quy luật về tự nhiên thì chỉ cần các nhà khoa học, công nghệ hiểu biết là có thể đủ để tạo ra các thành tựu cho toàn xã hội. Nhưng các quy luật phát triển xã hội thì đòi hỏi đa số người dân hiểu biết thì mới có thể tạo nên được những thành tựu xã hội tốt đẹp. Mới nghe ta có cảm giác rằng đòi hỏi này là một thách thức rất khó vượt qua. Thứ nhất là vì phổ biến những kiến thức về quy luật phức tạp cho số đông là công việc hoàn toàn không dễ dàng và thường có thể mất hàng chục năm, thậm chí là cả thế hệ. Thứ hai là những kiến thức về các quy luật phát triển xã hội đã có trên thế giới tới hiện nay còn rất hạn chế và thậm chí là rất khác nhau, chọn cái nào để phổ biến là không dễ trả lời. Thực ra cách giải quyết vấn đề không nằm ở cách nhìn trên. Nếu nhìn theo cách đó thì đúng là nó sẽ gặp những vấn đề như vậy. Cách nhìn của QCN sẽ giải quyết các vấn đề này rất đơn giản. Cậu rút ra điều này từ sự quan sát quá trình phát triển của các nước đã đạt trình độ quốc gia phát triển. Trong một xã hội mà QCN được bảo vệ trên hết một cách hiệu quả thì xã hội đó sẽ nhanh chóng tự hình thành nên giới khoa học hoàn toàn độc lập với giới chính trị. Giới khoa học muốn có được uy tín thì ngoài việc bảo đảm chuyên môn giỏi họ còn phải chứng tỏ rằng không bị chi phối bởi chính quyền hoặc chính giới nói chung. Họ còn phải cho thấy tiếng nói của họ độc lập với cả sức mạnh của đồng tiền. Với họ chỉ có Chân lý là trên hết. Vì vậy tiếng nói của họ có sức thuyết phục dân chúng rất lớn. Cũng trong một xã hội như vậy thì người dân được tự do ngôn luận, báo chí luôn mổ xẻ tận gốc mỗi chính sách trước khi nó được thông qua. Đánh giá của các nhà khoa học luôn phải được chú ý, những gì không hợp với quy luật phát triển được họ chỉ ra thì thường phải được loại bỏ hay thay đổi. Trong quá trình như vậy người dân thu nhận được rất nhiều kiến thức về quy luật phát triển, còn chính giới thì biết rõ mặt trái mặt phải của những chính sách được xem xét. Quyết định lựa chọn, ủng hộ, không ủng hộ của họ đối với các chính sách là luôn công khai trước công luận, vì vậy họ có thể sẽ gặp phải rủi ro lớn về uy tín của mình nếu ủng hộ những gì đã được các nhà khoa học cảnh báo. Tụi con còn nhớ uy tín của Tổng thống Bush (con) vào cuối nhiệm kỳ 2 (2008) tụt dốc thê thảm vì kinh tế Mỹ rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng, đúng với những gì mà nhà kinh tế học Paul Krugman đã cảnh báo từ 4-5 năm trước không? Đảng Cộng hòa cũng mất phiếu trầm trọng, còn ông Krugman thì nhận giải Nobel kinh tế 2008🙂. Tuy thực tế vẫn xảy ra những trường hợp chính giới vượt qua giới khoa học và gây ra hậu quả, nhưng đó là thiểu số. Đa số đều là những quyết sách đúng đắn theo khoa học, tức hợp với quy luật phát triển xã hội. Chính những trường hợp gây ra hậu quả vì phản khoa học càng khiến cho mọi người thấy được tầm quan trọng của khoa học, biểu biết của dân chúng càng tăng lên.

30a-science-independent

Sự kiện tổng thống Obama và cả nước Mỹ lên tiếng bênh vực cho cậu bé hồi giáo Ahmed vì đã bị bắt do giáo viên tưởng lầm chiếc đồng hộ tự chế của cậu là bomb là dấu hiệu cho thấy một xã hội Mỹ tiến bộ nơi QCN được đặt lên hàng đầu, khoa học độc lập và được bảo vệ 

Nhưng điều quan trọng hơn là: trước khi một chính sách được thi hành thì qúa trình mổ xẻ không bị cấm đoán nó đã giúp cho người dân hiểu rõ về nó, về những quy luật liên quan đến nó nên khi hành động cho nó họ biết phải làm thế nào để có kết quả tốt nhất. Kiến thức của họ về những quy luật phát triển xã hội ngày càng tăng lên, nhờ vậy sự vận động của họ trong xã hội ngày càng tạo ra kết quả tốt đẹp. Đây chính là giá trị mà những xã hội thiếu dân chủ không có được nên những xã hội đó không thể phát triển tốt đẹp bất chấp mong muốn tốt đẹp của giới cầm quyền.

Quá trình để chứng minh được một quy luật phát triển xã hội thường rất lâu dài, có khi vài chục năm hoặc cả trăm năm vì đây là khoa học thực chứng, giống như kinh tế học vậy. Các nhà nghiên cứu không thể lấy một xã hội nào đó để làm thí nghiệm và rút ra quy luật như trong lĩnh vực tự nhiên. Họ phải trải qua nhiều lần quan sát, phân tích, suy luận để đưa ra mô hình giả định rồi tìm kiếm những dữ liệu thực tế để chứng minh cho tính quy luật của mô hình đó. Quá trình như vậy có thể phải lặp lại rất nhiều lần và điều chỉnh dần để rút ra được một quy luật hoàn chỉnh. Quy luật mà ngày nay chúng ta gọi là kinh tế thị trường đã trải qua một quá trình dài mất trăm năm để hoàn thiện. Nó được công bố đầu tiên bởi nhà kinh tế học lỗi lạc Adam Smith vào khoảng giữa thế kỷ 18 trong quyển sách “Nguồn gốc của sự thịnh vượng”. Trong đó ông đúc kết ra những nguyên lý của một quy luật mà ông gọi là Bàn tay Vô hình, tức là một quy luật của Tạo hóa sẽ tự động điều tiết vô số các nhu cầu khác nhau của con người trong xã hội đến những trạng thái cân bằng mà ở đó nhu cầu của mọi người đều được đáp ứng. Ông đã bảo vệ cho những nguyên lý này bằng những lý lẽ rất thuyết phục, nhưng đó vẫn chưa phải là một sự chứng minh hoàn chỉnh. Tuy vậy nó đủ sức tạo niềm tin cho giới chuyên môn thời ấy, từ đó tác động mạnh mẽ đến chính giới Anh. Nước Anh áp dụng quy luật này và tạo nên những thành tựu kinh tế rực rỡ, từ đó lan tỏa đến các nước Châu Âu khác và Mỹ. Chính trong quá trình áp dụng này mà nó được hoàn thiện, được chứng minh ngày càng vững chắc bởi vô số các nhà kinh tế học khác, đến hiện nay vẫn còn tiếp tục. Ngày nay nó trở thành một quy luật hoàn chỉnh với nhiều công thức tinh vi, giúp cho hàng tỷ người thoát đói nghèo nhanh chóng như ở TQ, VN, Ấn Độ. Tất cả các quốc gia phát triển đều là những nước có nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh. Một lần nữa, tụi con thấy xã hội tự do dân chủ của Anh thời đó đã đóng góp to lớn như thế nào cho nhân loại chưa? Những nước nào không áp dụng quy luật kinh tế thị trường thì không thể phát triển được. Trong lịch sử đã có rất nhiều nước sai lầm nên cự tuyệt nó. Ngày nay lại có nhiều nước đã áp dụng nó rồi nhưng lại tiếp tục sai lầm. Không áp dụng các quy luật phát triển xã hội nên dẫm chân ở bẫy thu nhập trung bình.

1/11/2014

Liên Xô ngày xưa cự tuyệt kinh tế thị trường nên dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng rồi dẫn đến sụp đổ. Họ sai lầm cho rằng kinh tế thị trường là đường lối kinh tế tư bản chủ nghĩa, là màu sắc của phương tây nên không phù hợp với đường lối XHCN, với hoàn cảnh của phương đông. Kinh tế thị trường là một quy luật của Tạo hóa không mang bất kỳ quan điểm chính trị nào. Chính TQ và VN đã chứng minh cho thế giới thấy điều này: các chính quyền theo quan điểm chính trị XHCN đã áp dụng thành công quy luật kinh tế thị trường nên không những thoát ra được khủng hoảng kinh tế xã hội mà còn tạo ra thành tựu xóa nghèo vượt bậc và vươn lên nhanh chóng. Các nước có nền kinh tế thị trường có thể có những đường lối phát triển xã hội khác nhau tùy theo sự vận động của nhân dân, chứ không phải chỉ có TBCN. Ví dụ đường lối Dân chủ Xã hội thường thắng thế ở các nước Bắc Âu (tên đầu tiên của đường lối này là XHCN dân chủ, là một nhánh phát triển từ Công nghệ Mác, khác với nhánh Mác của Lê-Nin ở LX). TQ và VN hoàn toàn có thể áp dụng quy luật kinh tế thị trường và thúc đẩy sự phát triển xã hội theo đường lối XHCN của mình. Nếu làm giỏi thì hoàn toàn có thể tạo nên những hình thái xã hội XHCN mới cũng tốt đẹp như các xã hội DCXH ở Bắc Âu, có khi còn hòn hơn nữa. Muốn vậy thì điều yêu cầu tiên quyết là phải tôn trọng đầy đủ các nguyên lý của các quy luật kinh tế thị trường, những quy luật phát triển xã hội. mà nguyên lý quan trọng nhất của tất cả quy luật này là phải bảo đảm cho mọi thành phần xã hội được vận động tự do và công bằng. Muốn vậy thì QCN phải được bảo vệ trên hết một cách đầy đủ (cho tất cả các quyền) cho từng người (không ai được hơn người khác về bất kỳ quyền nào trong QCN). Cậu sẽ còn bảo vệ nhiều lần nữa cho luận điểm này trong CƠ CHẾ XÃ HỘI KHOA HỌC. Cậu sẽ từng bước chứng minh tinh quy luật của nó. Nó chính là nguyên tắc nền tảng của Dân chủ.

Kinh nghiệm của các quốc gia phát triển đóng góp những kiến thức quý báu cho các nước phát triển sau, nhất là trong việc rút ra các quy luật phát triển xã hội. Sai lầm sẽ lặp lại nếu cho rằng các quy luật này là đường lối xã hội phương Tây, không phù hợp với điều kiện; hoàn cảnh; đặc thù phương đông; với những ý thức hệ chủ nghĩa khác phương Tây. Sai lầm này nếu không dẫn đến sụp đổ như LX thì chắc chắn sẽ ghìm các nước này trong bẫy thu nhập trung bình. Chờ đến lúc các quy luật phát triển xã hội được chứng minh đầy đủ và thừa nhận rộng rãi rồi mới chạy theo áp dụng, như sự muộn màng của kinh tế thị trường, thì những nước đó sẽ đánh mất một cơ hội, một khoảng thời gian quý giá và để những nước áp dụng trước vượt lên. Còn mình thì chìm trong suy thoái, khủng hoảng trong thời gian đó, đến khi tỉnh ngộ thì lại chật vật chạy theo ở phía sau. Các nhà khoa học vốn thận trọng và đảm bảo các nguyên tắc của khoa học nên việc chính thức công bố các quy luật thực chứng luôn mất rất nhiều thời gian. Các quốc gia sáng suốt phải biết nắm lấy các cơ hội, nắm bắt rõ những nguyên lý đã được áp dụng thành công trước khi chúng được chứng minh hoàn chỉnh thành quy luật phát triển xã hội và áp dụng cho mình. Muốn sáng suốt được như vậy thì cần có giới khoa học độc lập như ta vừa phân tích ở trên. Lực lượng khoa học này trong quá trình vận động cho xã hội sẽ còn phát hiện thêm nhiều nguyên lý mới và đóng góp vào việc hoàn thiện các quy luật phát triển cho cả thế giới. Quy luật kinh tế thị trường đã được phát triển và hoàn thiện theo cách như thế. Nó là quy luật của Tạo hóa và được đóng góp bởi rất nhiều nhà khoa học của rất nhiều nước, không thuộc sở hữu của riêng ai. Ai cũng có quyền sử dụng mà không phải trả tác quyền.

2/11/2014

Tóm lại, tất cả lập luận từ đầu đến giờ nhắm bảo vệ luận điểm: “QQCN phải được bảo vệ trên hết, đầy đủ và bình đẳng để chân lý được bảo vệ hiệu quả bằng khoa học”. Có như vậy khoa học mới phát triển đúng và mạnh, làm cho các quy luật của Tạo hóa được tôn trọng và áp dụng rộng rãi để tạo nên các thành tựu phát triển cho xã hội một cách hiệu quả nhất. QCN được bảo vệ càng kém thì chân lý càng dễ bị xâm phạm (bị bóp méo, bị áp đặt sai trái) nên vì vậy mà khoa học càng kém phát triển và xã hội càng chậm tiến. Chân lý không chỉ là các quy luật mà còn là những sự thật – là sự chân xác đã xảy ra trong xã hội. QCN được bảo vệ cũng là để bảo vệ những sự thật này. Cậu sẽ có một chuyên đề khác để chứng minh điều này. Tụi con hãy quan sát và phân tích trước xem vì sao mà ở những xã hội thiếu dân chủ thì sự giả dối và đạo đức giả rất phổ biến? Và tình trạng bị kết án oan sai thì liên quan thế nào đến bảo vệ QCN?

CCXHKH nhằm bảo vệ Lẽ Phải Tuyệt Đối

Xã hội ngoài việc cần tôn trọng quy luật khách quan còn cần phải tôn trọng sự thật khách quan. Có vậy xã hội mới phát triển và lành mạnh. Cậu gọi những quy luật và sự thật này là LẼ PHẢI TUYỆT ĐỐI như tụi con thấy trong mô hình CƠ CHẾ XÃ HỘI KHOA HỌC. Bảo vệ LẼ PHẢI TUYỆT ĐỐI là chức năng quan trọng của cơ chế này. Gọi là tuyệt đối vì đó là những gì con người không thể thay đổi được: không ai thay sửa được các quy luật khách quan vì chúng là của Tạo hóa, dùng quyền lực để áp đặt những quan điểm sai trái cho là chân lý thì trước sau gì cũng sụp đổ; dùng cường quyền để buộc người ta nói dối thì sự việc đã diễn ra vẫn là sự thật mà không ai có thể sửa đổi được. Khi cậu chứng minh QCN được bảo vệ sẽ bảo vệ sự thật, tụi con sẽ thấy tồn tại một quy luật để dẫn đến sự thật và đưa nó ra ánh sáng. Tuyệt đối còn có nghĩa là tối thượng, tức là LẼ PHẢI TUYỆT ĐỐI phải được tôn trọng trên hết, không được nhân danh bất kỳ lý do gì kể cả đạo đức hay lợi ích chung để bóp méo sự thật, quy luật. Những lẽ phải này chỉ có thể bị hạn chế chứ không phải bóp méo. Ví dụ như tụi con thấy ở các nước tiến bộ có những luật cho phép chính phủ bảo mật một số thông tin về hoạt động của chính phủ trong một khoảng thời gian nhất định nào đó (chứ không phải mãi mãi) vì mục đích an ninh quốc gia, hoặc các luật cấm áp dụng nhân bản vô tính để tạo ra con người vì vấn đề đạo đức. Chúng ta đang đi đến khu vực LẼ PHẢI THỎA ƯỚC của CƠ CHẾ XÃ HỘI KHOA HỌC, tức là khu vực hạn chế bằng luật.

Khi QCN được bảo vệ trên hết thì LẼ PHẢI TUYỆT ĐỐI được tôn trọng. Nhưng đây cũng là tình trạng tự do không giới hạn. Người ta có quyền tự do nghiên cứu khoa học không giới hạn thì có thể dẫn đến việc dùng con người làm vật thí nghiệm. Tự do làm giàu và lập hội thì có thể hình thành những hội nhóm cấu kết nhau triệt tiêu đối thủ cạnh tranh và chèn ép khách hàng nếu họ không phải chịu một giới hạn nào cả. Tự do muốn biết sự thật thì có thể xâm phạm nghiêm trọng sự riêng tư của người khác. Tự do phát biểu thì có thể vu khống người khác mà không phải chịu sự trừng phạt nào nếu không có luật cấm bóp méo sự thật để gây tổn hại cho con người. Tự do tín ngưỡng thì có thể đi đầu quân chiến đấu cho đám khủng bố IS cực đoan nhằm chiếm đoạt con người thành nô lệ và giết hại họ, buộc họ từ bỏ tín ngưỡng của mình? Tự do không giới hạn dẫn đến tự do xâm phạm tự do của người khác. Chính điều này sẽ phá vỡ nguyên tắc: “QCN phải được bảo vệ trên hết cho từng người (phải bình đẳng)”. Do đó tình trạng tự do như vậy cũng không bảo vệ được LẼ PHẢI TUYỆT ĐỐI. Cho nên cần phải có một sự hạn chế nào đó ngăn cản được sự xâm phạm tự do của người khác nhưng vẫn bảo vệ được tự do của từng người. Trong tác phẩm nổi tiếng “Khế ước xã hội” J.J. Rousseau nói rằng mỗi công dân cần giảm bớt quyền của mình để trao nó cho nhà nước, nhà nước sẽ sử dụng quyền được trao đó để bảo vệ lại cho mình. Chính là ông đề cập đến sự hạn chế nói trên. Trong quá trình xây dựng các hạn chế, có những quan điểm dễ dàng đạt được sự đồng thuận của mọi người, mọi nhóm như không được giết người, không được xâm phạm riêng tư của người khác, không được hưởng trọn lợi nhuận mình làm ra (tức phải đóng thuế), không được cướp giật tài sản người khác, v.v… Nhưng cũng có nhiều quan điểm rất khác nhau mà không bao giờ đạt được sự đồng thuận như phải hạn chế hàng nhập khẩu, mức thuế phải đóng và sử dụng nó cho mục đích gì, cho phép nghe lén để bảo vệ an ninh quốc gia, chỉ được một chồng một vợ, v.v… Người thì cho rằng hạn chế nhập khẩu sẽ bảo hộ sản xuất trong nước và tạo công ăn việc làm, nhưng người khác thì thấy rằng làm như thế sẽ khiến doanh nghiệp trong nước ỷ lại mất tính cạnh tranh và người tiêu dùng trả giá cao. Người thì bảo cần thu thuế cao và giúp đỡ cho những người thất nghiệp nhưng người khác thì nói làm thế sẽ khiến con người mất ý chí phấn đấu và làm doanh nghiệp thiếu lợi nhuận để tái đầu tư tạo thêm việc làm. Người thì thấy nguy cơ khủng bố là rất nghiêm trọng rồi nên ủng hộ chính phủ nghe lén để ngăn chặn thiệt hại cho dân chúng nhưng nhiều người khác thì tin rằng đó chỉ là sự thổi phồng của cơ quan an ninh để tìm cách kiểm soát người dân. Nhân loại tiến bộ đã ủng hộ chế độ một vợ một chồng nhưng nhiều quốc gia Hồi giáo vẫn cho đàn ông có 4 vợ theo như kinh thánh của họ.

2/11/2014

Sự bất đồng trong quan điểm về hạn chế nhiều hơn rất nhiều lần so với sự đồng thuận. Nhưng đó mới chính là bản chất thực tế của loài người hay của xã hội. Người ta càng tự do thì sự bất đồng càng lớn, khác biệt càng nhiều. Nhưng đó mới đúng là xã hội của con người. Loài người khác loài vật ở chỗ có ý thức phát triển rất đa dạng, chính sự đa dạng đó làm loài người tiến bộ. Còn loài vật thì có ý thức cực kỳ thấp, gần như không phát triển vì vậy chúng rất dễ dàng đạt được sự đồng thuận tuyệt đối khi sống thành bày đàn – tức là xã hội của chúng. Làm sao để xã hội tự do mà không rối loạn và vẫn phát triển tốt đẹp là một thách thức lớn của loài người. Đã có rất nhiều xã hội giải quyết vấn đề này thành công, nhưng sự thất bại vẫn chiếm đại đa số trong lịch sử của thế giới. Đến ngày nay, số lượng quốc gia thất bại vẫn vượt trội so với số lượng thành công. Những nước thành công chính là các quốc gia phát triển, xã hội ở đó vô cùng đa dạng chứ không hề bị đồng nhất bởi sự đồng thuận dù vẫn có những xu hướng chính trị/xã hội nào đó có thể thắng thế và trở nên phổ biến trong một thời gian dài. Chúng ta hãy phân tích một vài trường hợp trong lịch sử.

Cách đây độ 2500 năm, TQ là một xã hội rộng lớn của hàng chục nước chư hầu, có một ông vua của nhà Chu xưng là thiên tử để duy trì sự thống nhất trên danh nghĩa. Trên thực tế mỗi chư hầu là một lãnh địa cha truyền con nối hầu như muốn làm gì thì làm, không phụ thuộc vào nhà Chu. Các lãnh địa đó không có luật pháp, các ông vua chư hầu cai quản nó bằng ý muốn và cách thức riêng của mình, tức là hình thức nhân trị. Quan điểm phổ biến của các ông vua chư hầu thời đó là muốn áp đặt sự tập quyền lên lãnh địa của mình, nhưng đó là những vùng đất rất rộng lớn mà giao thông chưa phát triển nên thực tế chúng bị chia thành những xã hội tự do vô chính phủ quy mô nhỏ. Nó tương tự như tình trạng tự do không giới hạn mà ta đã bàn ở trên vậy. Không ai chính thức bảo vệ QCN nhưng cũng chẳng có sự cấm đoán nào. Người ta mặc sức sử dụng các quyền tự nhiên mà họ cảm thấy mình có và cũng mặc sức xâm phạm quyền của người khác nếu có thể. Bối cảnh như vậy vừa làm cho TQ xuất hiện nhiều kết quả khoa học và tư tưởng rất sớm trên thế giới, vừa làm cho xã hội rối ren nảy sinh rất nhiếu vấn nạn đạo đức. Đứng trước tình cảnh như vậy, xuất hiện 3 quan điểm giải quyết vấn đề. Thứ nhất của Lão Tử, ông chủ trương để con người thuận theo cái tự nhiên mà ông gọi là ĐẠO (sau này thế giới gọi là quy luật). Không cần cưỡng ép bằng lễ nghĩa. Thứ hai của Thương Ưởng, chủ trương dùng pháp luật để cai trị, được gọi là phái pháp gia như cậu đã viết ở trên. Họ cho rằng phải dùng hình phạt hà khắc để ngăn chặn vấn nạn đồng thời với ban thưởng xứng đáng cho những người làm tốt. Thứ ba là của Khổng Tử, phái Nho giáo như cậu đã viết trong thư 27B. Ông cho rằng cần áp đặt những quy tắc đạo đức (mà tụi con thường nghe là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) thì sẽ làm cho người ta sống tốt hơn, không xâm phạm đến người khác nên không gây ra vấn nạn đạo đức. Ông đi khắp nơi thuyết phục các ông vua chư hầu dùng quyền lực áp đặt các quy tắc này cho dân chúng nhưng không ai nghe. Cuối cùng ông về quê mở trường dạy học để phổ biến tư tưởng của mình. Vì chủ trương nhân văn (không xem trọng hình phạt mà đặt nặng giáo dục) nên sau này ông được gọi là Thánh nhân. Tuy nhiên tư tưởng của ông sau này bị lợi dụng để thuần nhất xã hội phục vụ cho mục đích cai trị tập quyền nên nó phát triển không lành mạnh, các vấn nạn đạo đức thực chất không hề giảm đi mà chúng chỉ được che giấu tinh vi dưới cái vỏ bọc đạo đức giả mang danh nghĩa Nho giáo. Nhưng đó không phải là lỗi hay ý muốn của Khổng Tử vì tư tưởng của ông chỉ được áp dụng phổ biến mấy trăm năm sau khi ông qua đời. Chỉ có điều là ông không nhìn thấy được quy luật phát triển xã hội nên không biết trước được rằng ngay cả những mong muốn rất tốt đẹp nhưng thực hiện bằng cách cưỡng ép toàn diện bằng quyền lực thì kết quả không thể tốt đẹp. Như cậu đã viết nhiều lần, những xã hội Nho giáo không những không giải quyết được các vấn nạn đạo đức mà còn kìm nén làm xã hội chậm tiến rất nhiều vì hoàn toàn thiếu tự do. Còn phái Pháp gia thì đã dẫn tới thành công vì đó là tư tưởng Pháp trị tiến bộ của đương thời. Nước Tần áp dụng nó, xây dựng các luật để từng trị những hành vi xấu xâm phạm con người nhưng vẫn duy trì một không gian tương đối tự do cho người dân vận động. Luật pháp lúc đầu là bình đẳng cho vương thất lẫn dân thường nhưng đến khi Tần Thủy Hoàng thiết lập chế độ tập quyền thì ông ta đặt mình và triều đại của mình đứng trên mọi luật pháp. Nền tảng của pháp trị vì vậy mà bị phá vỡ nên dần suy thoái và bị thay dần bởi tư tưởng đức trị của Nho giáo. Còn tư tưởng của Lão Tử dù có mang những tính chất của Pháp quyền nhưng nó còn quá sơ khai, không có được những nguyên lý vững chắc nên gần như không được quan tâm. Tóm lại, TQ đã không vượt qua được thách thức để phát triển. Nho giáo ngự trị hàng ngàn năm để kìm nén sự phát triển nhu cầu đa dạng của con người, làm xã hội thuần nhất và tiến triển chậm chạp và bị phương Tây qua mặt. Tụi con tìm đọc lại một thư cậu viết tháng 11 năm ngoái về “Lợi và nghĩa” để biết Nho giáo dùng khái niệm đạo đức là “nghĩa” để áp chế người dân đòi hỏi lợi ích cho mình như thế nào. Các chính quyền phong kiến tập quyền TQ không thực hiện chính sách hạn chế sự tự do không giới hạn, mà là áp chế hầu hết sự tự do – tức là tước đoạt hầu hết QCN.

Phương Tây là nơi có nhiều nước đã vượt qua được thách thức để trở thành quốc gia phát triển như ngày nay. Vào lúc mà TQ phát triển các chế độ phong kiến tập quyền vững chắc (sau Tần Thủy Hoàng) thì La Mã đã thực hiện các nguyên tắc dân chủ đầu tiên trên thế giới. Ở các thành bang La Mã, công dân tự do sẽ bầu lên Phán quan đại diện quản lý cho mình. Vua – Hoàng đế La Mã thì phải được Viện Nguyên lão (giống như Quốc hội) bầu lên chứ không phải do ông vua trước lựa chọn. Viện Nguyên lão là tập hợp đại diện cho giới quý tộc La Mã. Cùng thời đại sống của Khổng Tử và Lão Tử, vào năm 505 TCN đã nổ ra cuộc cách mạng của giới quý tộc La Mã thay đổi nền quân chủ bằng nền cộng hòa và thực hiện các thiết chế dân chủ như nói trên. Giới bình dân La Mã cũng không chịu kém, năm 494 TCN họ tập hợp biểu tình ở Đồi Thiêng để đòi quyền lợi cho mình. Cuộc đấu tranh quyết liệt của họ cuối cùng đã thắng lợi. Chính quyền quý tộc La Mã phải đồng ý để họ tự bầu chọn ra các Tribune (cậu quên tiếng Việt dịch là gì rồi🙂 ). Các Tribune này có quyền phủ quyết mọi đạo luật Viện Nguyên lão đã thông qua và sẽ đại diện cho những người thuộc giới bình dân trong bất kỳ vụ kiện nào. Và đương nhiên những Tribune này có quyền bất khả xâm phạm. Tụi con có thấy rằng những nguyên tắc dân chủ sơ khai này đến bây giờ vẫn còn khá xa lạ ở rất nhiều nước không? Chính tính dân chủ này là nguyên nhân chính làm cho La Mã phát triển mạnh mẽ trong hơn một ngàn năm. Những nguyên tắc dân chủ khởi thủy này sau đó được nước Anh phát triển tiếp tục từ cuối thế kỷ 12, gắn với QCN. Trong bức thư tháng 11 năm ngoái, cậu đã kể cho tụi con nghe quá trình đấu tranh của người dân Anh để bảo vệ quyền và lợi ích của mình trong khoảng thời gian này. Thành tựu vĩ đại của họ là bản Đại hiến chương Magna Carta (1215) được gọi là Tuyên ngôn Nhân quyền đầu tiên của thế giới. Lần đầu tiên một Nhà nước ký cam kết bảo vệ các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa cho người dân. Đây là nền tảng làm cho xã hội Anh ngày càng tự do hơn các nước Châu Âu khác, thành phần xã hội cũng phát triển rất đa dạng và công khai đấu tranh cho quyền lợi của mình. Các quan điểm lợi ích trong xã hội vì vậy mà cũng rất khác nhau. Mâu thuẫn lợi ích đã nhiều lần dẫn đến xung đột giữa các phe phái, các thành phần xã hội, cả giữa vua và dân. Tuy nhiên trong đa số các trường hợp, người Anh uôn tìm được những sự thỏa hiệp cân bằng giữa các lợi ích cho các bên khác nhau và được ghi thành luật. Sau những lần xung đột thì họ dường như dễ thỏa hiệp hơn. Đó là cách người Anh giải quyết thách thức “vừa đảm bảo cho xã hội tự do, vừa không bị rối loạn để phát triển”. Từ khi Đại hiến chương Magna Carta ra đời đến nay, xã hội Anh chỉ bị rơi vào 1 cuộc xung đột vũ lực duy nhất vào 1640. Các khác biệt, thậm chí là xung đột lợi ích được giải quyết ngày càng văn minh và hiệu quả hơn tại nghị trường và các cuộc bỏ phiếu của người dân. Mọi người đều có tự do vận động cho lợi ích, giá trị và niềm tin của mình trừ bạo lực. Trong khi đó các nước châu Âu khác thì xung đột xã hội xảy ra rất gay gắt và thường phải giải quyết bằng bạo lực. Những cuộc thập tự chinh đẫm máu vì niềm tin tôn giáo khác nhau, những cuộc lật đổ bằng vũ trang để thay đổi triều đại, các cuộc khởi nghĩa của nông dân; công nhân, v.v… là những cách thức giải quyết mâu thuẫn xã hội vì quyền lợi phổ biến ở châu Âu trong thiên niên kỷ thứ 2. Nước Anh vì vậy mà đã vượt lên mạnh mẽ trong thiên niên kỷ này. Cách thức giải quyết mâu thuẫn xã hội, xung đột lợi ích bằng nền tảng dân chủ của họ đã lan tỏa ra toàn phương Tây, đầu tiên là Mỹ và sau đó là Tây Âu, Bắc Âu, Nam Âu làm cho khu vực này phát triển bỏ xa phần còn lại của thế giới cho đến tận bây giờ. Cũng trong thiên niên kỷ này, chỉ có một nước ở châu Á là Nhật đã theo cách thức này và đạt trình độ hàng đầu của phương Tây. Cách thức này hiện nay đã trở thành xu thế phát triển tiến bộ, văn minh của nhân loại. Từ đầu năm 2014 đến nay, chúng ta chứng kiến 2 sự kiện lớn về giải quyết mâu thuẫn ở châu Âu. Một là cuộc xung đột ly khai của miền Đông Ucraina, nó đã không tôn trọng các nguyên tắc dân chủ nên đã dẫn đến chiến tranh tàn phá, tương lai của nó đến giờ vẫn mờ mịt. Hai là cuộc trưng cầu dân ý nhằm tách ra khỏi Vương quốc Anh của vùng Scotland để thành lập một nước Cộng hòa. Nó đã không thành công nhưng đã mang về nhiều quyền lực hơn cho vùng đất này, và chẳng có ai phải đổ máu vì xung đột. Nhưng điều quan trọng hơn là: nó đã xác lập một trạng thái cân bằng mới của xã hội Anh mà ở đó mọi người tạm vừa lòng vì ai cũng có quyền tự do vận động cho điều mong muốn bằng tất cả những gì mình có trừ bạo lực. Người muốn tách ra, người muốn ở lại nhưng không ai bị ngăn cản, cưỡng ép, bắt tội hay chỉ là đe dọa để phải thể hiện khác ý muốn của mình. Trạng thái cân bằng mới này sẽ đẩy nước Anh tiến nhanh hơn sắp tới. Nếu cuộc trưng cầu này thành công thì cũng tốt thôi, sẽ có một quốc gia mới ra đời trong hòa bình. Nước Anh sẽ có một đồng minh chiến lược là Cộng Hòa Scotland. Cục diện châu Âu sẽ có một chút thay đổi. Còn đối với người dân Anh và Scotland thì cậu cho rằng sẽ không có gì thay đổi nhiều trong cuộc sống của họ vì mọi QCN của họ sẽ luôn được bảo vệ trên hết dù là ở Anh hay Scotland. Bày tỏ quan điểm của mình đối với mọi vấn đề là thực hiện QCN. Khẳng định lựa chọn của mình trong một cuộc trưng cầu dân ý cũng là QCN.

Tụi con đã thấy được rằng QCN chính là sự khác biệt, là giá trị vượt bậc giữa Anh và phần còn lại của Châu Âu trong cuối thời kỳ Trung đại (tk 5 – tk 15) chưa? QCN cũng là giá trị bị thiếu vắng ở phương Đông (trừ Nhật) so với phương Tây. Từ khi Tần Thủy Hoàng thiết lập chế độ phong kiến tập quyền, ở TQ đã không còn những cuộc đấu tranh của các thành phần xã hội vì quyền lợi của mình hoặc có mà không đáng kể. Đến trước cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) ở nước này, đã có vô số cuộc khởi nghĩa vũ trang của giai cấp nông dân chống lại chính quyền phong kiến tập nhưng hầu hết đều thất bại và dìm trong biển máu. Những trường hợp thành công hiếm hoi thì cuối cùng lại dẫn đến sự thành lập mộ chính quyền phong kiến tập quyền mới, quyền ợi của nông dân và các thành phần xã hội khác không thuộc giới cầm quyền hoàn toàn không thay đổi. Trong một thời gian dài hơn 2000 năm, Nho giáo đã được sử dụng để đồng nhất ý thức của dân chúng theo một trật tự mà giới cầm quyền mong muốn. Vì không biết làm cách nào để đáp ứng những đòi hỏi quyền lợi rất khác nhau của các thanh phần xã hội nên chính quyền phong kiến nhận thấy quan điểm áp đặt lễ giáo của Nho giáo là rất hiệu quả để làm cho người dân không đòi hỏi quyền lợi. Họ giáo dục từ nhỏ để làm cho người dân hình thành một ý thức thuần nhất là: “nghĩ đến lợi là bất nghĩa”. Lễ nghĩa cũng là nguyên tắc đạo đức cơ bản để vua quan cai trị dân chúng. Cái lợi hợp pháp và chính nghĩa phải là cái được ban phát, chứ không phải là cái được đòi hỏi. Cứ như vậy qua bao thế hệ, người dân trong các xã hội Nho giáo ngự trị bị ngự trị toàn diện về tinh thần. Họ không những không ý thức đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình mà còn nghĩ rằng cầu xin là một cách thức chính nghĩa. Xã hội vì vậy mà không có sự vận động của họ, tức của tuyệt đại đa số. Nó chỉ còn sự đấu đá tranh giành của các phe phái trong chính quyền, tức của giới quan lại chiếm thiểu số cực nhỏ. Người dân đến khi quá cơ cực thì được vua quan ban phát cho một chút vật chất thì đã thấy hạnh phúc và có thể tiếp tục chịu đựng một thời gian nữa. Chỉ đến khi vua quan quá thối nát nên không còn đủ tiền để ăn chơi, không thể ban phát được nữa mà lại còn tăng thuế thì mới dẫn đến những cuộc nổi dậy. Nhưng người ta nổi dậy vì thù hận là chủ yếu chứ không phải để thay đổi căn bản sự bảo đảm cho quyền lợi của mình một cách lâu dài. Một phần là vì những người kêu gọi khởi nghĩa kích vào lòng thù hằn để tập hợp lực lượng khởi nghĩa, phần còn lại vì chính cái ý thức “nghĩ đến lợi là bất nghĩa” đã ăn sâu bao đời. Do vậy mà tên gọi khởi nghĩa nông dân là để chỉ những cuộc nổi dậy thất bại, còn những cái thành công thì giới cầm quyền mới lập tức che giấu thuộc tính nông dân và gắn cho nó những mỹ từ để làm cho mình trở nên tôn quý. Họ ban phát cho những người nông dân đã bỏ sức, đổ máu vì họ một số vật chất. Những người nông dân tội nghiệp này hài lòng và trở về với số kiếp cũ của mình. Đời con đời cháu của họ lặp lại những số phận như thế, không có ý thức bảo vệ quyền lợi của mình mà chỉ quen cầu xin.

Nhưng hướng đến lợi ích là bản chất tự nhiên của con người. Đó cũng chính là động lực để loài người phát triển. Tụi con thử tưởng tượng xem thế giới này sẽ thế nào nếu một ngày nào đó con người bỗng nhiên không còn bản chất này nữa? Cậu tin là nó sẽ nhanh chóng suy thoái và bị hủy diệt. Một xã hội phát triển lành mạnh là nơi mà con người có thể đáp ứng lợi ích cho mình mà không xâm phạm đến lợi ích của người khác. Tốt hơn nữa là: muốn có lợi ích cho mình thì cần đáp ứng lợi ích cho nhiều người khác. Mệnh đề này chính là nguyên lý căn bản của Quy luật Kinh tế Thị trường đã được thực chứng hơn 200 năm rồi: “Khi ai cũng được tự do mưu cầu lợi ích cho mình thì người ta sẽ tìm cách đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người khác để làm lợi nhiều nhất cho mình. Và nhờ vậy mà các nhu cầu khác nhau rất phức tạp của mọi người trong xã hội sẽ được tự động đáp ứng, tự động cân bằng với sản xuất và sẽ phát triển ngày một nhiều hơn.” (Tụi con thấy Tạo hóa kỳ diệu không? Sáng tạo ra một loài gắn với một bản chất nào đó thì sẽ có một quy luật cũng được sáng tạo ra tương ứng với bản chất ấy để loài ấy có thể phát triển tốt đẹp. Đây là một đề tài thú vị, có dịp cậu sẽ chia sẻ với tụi con.) Tự do mưu cầu lợi ích là một trong những quyền của con người. Vì vậy chỉ cần quyền được bảo vệ thì người ta sẽ tự làm ra lợi cho mình và cho xã hội. Khi quyền bị tước đoạt thì vì bản chất hưởng lợi nên người ta thường sẵn sàng từ bỏ quyền của mình để vì lợi. Đây là nguồn gốc của sự lệ thuộc của con người. Có những người rất giàu mà vẫn lệ thuộc là vì thế. Đó cũng là nguồn gốc của mọi vấn nạn xã hội, đạo đức như tham nhũng, giả dối, đạo đức giả … Trong xã hội VN và TQ thời phong kiến, dù bị kìm nén nhưng hành động vì lợi vẫn là mục đích thực sự của người dân và quan lại nhưng phải được che giấu dưới cái danh nghĩa vì người chứ không phải vì mình. Những xã hội này vì vậy mà phát triển chậm chạp và đầy vấn nạn. Ở Châu Âu thì không bị kìm nén như vậy, người ta có thể công khai đấu tranh vì lợi ích của mình. Nhưng QCN lại chưa được quan tâm tại đây (ngoại trừ nước Anh) nên sự đấu tranh vì lợi ích thường trở thành sự tranh giành quyền lực để bảo vệ quyền lợi của các phe nhóm khác nhau. Vì thế mà xung đột vũ trang xảy ra nhiều hơn hẳn so với ở Anh. Niềm tin tôn giáo phổ biến ở Châu Âu cũng dễ dàng được sử dụng để biến thành quyền lực nhà nước nhằm bảo vệ quyền lợi tôn giáo. Đó là lý do dẫn đến sự hình thành các nhà nước phong kiến thần quyền mà cậu đã đề cập. Trong khi đó loại nhà nước này không thể hình thành tại Anh. So với TQ thì châu Âu vẫn tiến nhanh hơn vì các thành phần xã hội vẫn có thể công khai đấu tranh cho lợi ích của mình nên xã hội có động lực để phát triển hơn. Chính sách phát triển này của Châu Âu đã dẫn đến các nhà nước giai cấp để bảo vệ quyền lợi của giai cấp cầm quyền sau khi các nhà nước thần quyền sụp đổ. Còn sự phát triển của Anh thì dẫn đến sự hình thành các nhà nước pháp quyền – một giá trị lớn một sự tiến bộ vượt bậc của nhân loại đã được thế giới thừa nhận và ủng hộ.

5/11/2014

Trước hết tụi con cần phải luôn ghi nhớ rằng nhà nước pháp quyền là để chỉ bản chất của một nhà nước chứ không hề liên quan gì đến hình thức nhà nước hay hình thái xã hội cả. Một vương quốc, một nước cộng hòa đều có thể làm cho mình có bản chất của nhà nước pháp quyền. Một quốc gia nào đó ghi trong Hiến pháp gọi mình là một nhà nước pháp quyền chưa chắc đã có bản chất của nhà nước pháp quyền. Gắn thêm một tính từ, một danh từ riêng nào đó vào cụm từ nhà nước pháp quyền thì cũng không thay đổi được bản chất bắt buộc của nó. Bản chất này là: “Nhà nước pháp quyền là nhà nước bảo vệ trên hết và đầy đủ QCN cho từng người”. Do vậy thuộc tính đầu tiên của nhà nước pháp quyền là không giai cấp vì ai cũng có QCN như nhau dù họ thuộc giai cấp/thành phần khác nhau. Thuộc tính kế tiếp là không ý thức hệ vì những người có những niềm tin tôn giáo, chính trị, xã hội, văn hóa, khác nhau đều có QCN như nhau. Thuộc tính thứ ba là: nhà nước pháp quyền không nhằm bảo vệ lợi ích của nhân dân mà chỉ bảo vệ QCN của họ. Còn nhiều thuộc tính khác, cậu sẽ có một chuyên đề bàn về nhà nước pháp quyền với tụi con. Lần này cậu tập trung vào thuộc tính thứ ba này, vì nó liên quan mật thiết đến khu vực LẼ PHẢI THỎA ƯỚC của CƠ CHẾ XÃ HỘI KHOA HỌC. Vì sao có thuộc tính thứ ba? Nghe có vẻ nó không thuận tai với những gì tụi con hay nghe thấy phải không?

Lợi ích của người dân là vô cùng khác nhau và không bao giờ có thể đồng nhất được. Cho nên nếu nhà nước bảo vệ lợi ích cho người này thì có thể xâm phạm lợi ích của người khác, chí ít cũng làm sự bất bình đẳng xảy ra. Nếu nhân danh lợi ích chung của đa số mà bảo vệ thì chắc chắn sẽ dẫn đến sự chèn ép quyền lợi của thiểu số, thậm chí là hủy diệt nhóm nhỏ này. Mà cho dù thiểu số là duy nhất một người thì người này cũng phải có và được bảo vệ đầy đủ QCN của mình, trong đó có quyền được sống, quyền được giữ gìn quan điểm/giá trị riêng của mình, v.v… Sự nhân danh như vậy luôn là nguồn gốc của các nhà nước độc tài, cường quyền. Sự nhập nhằng không thể xác định rõ ràng lợi ích chung là nguồn gốc của việc những kẻ quyền thế cưỡng đoạt lợi ích của người khác núp danh lợi ích chung. Lợi ích của con người là vô cùng đa dạng, không chỉ là vật chất mà cả tinh thần, là những giá trị mà người ta tin tưởng. Nhân danh niềm tin tôn giáo của đa số để bảo vệ thì không tránh khỏi dẫn đến sự đàn áp tôn giáo của thiểu số – chính là tình trạng của các nhà nước Hồi giáo cực đoan mà giờ vẫn tồn tại. Vì thế mà kết quả của các nhà nước nhân danh nhân dân để bảo vệ lợi ích, dù chỉ là vật chất hay tinh thần, luôn là các chính quyền độc tài mà chỉ có quyền lợi của một nhóm thiểu số vây quanh giới cầm quyền được bảo đảm.

Nếu quyền của ai cũng như nhau, được tự do vận động thì sẽ rối loạn sao? Cuối cùng vẫn là cá lớn nuốt cá bé? Đúng, nếu không có nhà nước pháp quyền. Vì trách nhiệm tối thượng của nó là bảo vệ QCN cho từng người, cho ai cũng có tự do như nhau nên nhân dân trao cho nó quyền lực để ngăn chặn và chế tài mọi sự xâm phạm QCN của bất kỳ ai, đến từ bất cứ người nào. Vì vậy mà người dân chấp nhận một số sự hạn chế như không được giết người, cướp của, cưỡng ép tình dục …; phải dành một khoảng thời gian nào đó gia nhập quân đội để ngăn chặn sự xâm phạm QQCN và lãnh thổ của nhân dân; phải đóng thuế để nhà nước có tiền bảo vệ QCN cho mọi người; v.v… Trách nhiệm này là tối thượng nhưng không phải là sự khác biệt của nhà nước pháp quyền với nhà nước có bản chất khác. Hầu hết các nhà nước đều thực hiện trách nhiệm này dù không được đặt trên nền tảng là bảo vệ QCN trên hết. Sự khác biệt là ở trách nhiệm thứ hai: “Ghi nhận sự thỏa hiệp của nhân dân về lợi ích thành luật để bảo vệ sự thỏa hiệp đó”. Nhà nước pháp quyền không được bảo vệ lợi ích, mà chỉ bảo vệ quyền tự do mưu cầu lợi ích của từng người. Lợi ích hiểu đầy đủ là bao gồm cả những mối lợi và mối quan tâm về những vấn đề trong xã hội (tiếng Anh có từ Interest là thể hiện chính xác ý nghĩa này). “ Sự tự do vận động cho lợi ích của từng người sẽ tự động cân bằng lợi ích của mọi người”. Đây là quy luật của Tạo hóa – quy luật Bàn tay vô hình mà Adam Smith đã áp dụng để xây dựng nên các nguyên lý kinh tế thị trường điều chỉnh các lợi ích kinh tế đến trạng thái cân bằng tối ưu. Đối với các lợi ích khác về văn hóa, tôn giáo,… cũng theo quy luật như vậy thôi. Ta gọi chung các mối quan tâm này là lợi ích xã hội. Cũng giống như lợi ích kinh tế, “Khi ai cũng được bảo đảm quyền tự do mưu cầu lợi ích xã hội cho mình thì người ta sẽ tìm cách đáp ứng tốt nhất nhu cầu tinh thần của người khác để làm lợi nhiều nhất cho mình. Và nhờ vậy mà nhu cầu tinh thần khác nhau của mọi người trong xã hội sẽ được tự động đáp ứng, tự động cân bằng với nhau và sẽ phát triển ngày một tốt hơn.”

6/11/2014

Thật ra không có ranh giới rõ ràng giữa các lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội. Kinh tế và xã hội là những khái niệm của con người, chính trị, văn hóa, … cũng vậy nên các khái niệm này là như nhau đối với quy luật Bàn tay vô hình của Tạo hóa. Quy luật này có tác dụng đối với bản chất hướng lợi của con người và không thể phân biệt được đâu là lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa, tôn giáo, dân tộc, v.v… hay bất kỳ thuộc tính lợi ích nào do con người sáng tạo ra sau này. Mối quan tâm của con người thật là đa dạng và khó đoán định trước là nó sẽ còn tiến tới mức nào. Nhưng chắc chắn một điều là nó chỉ phát triển tốt đẹp ở nơi nào mà con người tôn trọng và áp dụng sự thật khách quan của Tạo hóa là: (1) Tôn trọng bản chất tự nhiên của con người là hướng đến lợi ích, (2) Áp dụng quy luật Bàn tay vô hình để xã hội tự động đạt trạng thái cân bằng lợi ích giữa mọi người. Hai sự thật khách quan này chính là Chân lý là LẼ PHẢI TUYỆT ĐỐI –tức là sẽ luôn đúng bất chấp ý muốn của con người. Nhưng ý muốn của con người không bao giờ luôn đúng hay luôn sai. Ước muốn cho phụ nữ được tự do bình đẳng với nam giới đã bị xem là sai, trái với đạo lý xã hội trong cả ngàn năm nhưng giờ đó là một khát vọng chính đáng và tiến bộ của toàn thế giới. Anh là chủ nhà máy đường nên anh muốn nhà nước đánh thuế đường nhập khẩu thật cao để bảo hộ sản xuất cho anh với mục đích là tạo công ăn việc làm. Những người nông dân và công nhân trong ngành đường có thể có cùng ý muốn như anh. Nhưng tôi là người tiêu dùng đường nên tôi không muốn như vậy vì tôi thấy rằng đường nhập khẩu đã chịu thuế rất cao rồi mà sao giá bán lại không mắc hơn của anh đáng kể, chất lượng còn tốt hơn. Nếu không có thuế này thì tôi sẽ được xài đường tốt mà giá rẻ. Mà những người như tôi thì đông hơn gấp trăm lần những người cùng ý muốn với anh. Cái các anh được lợi chính là cái chúng tôi chịu thiệt mà tính ra lớn hơn nhiều con số lợi. Chỉ một ví dụ nhỏ này thôi thì tụi con đã thấy không thể phân định đúng sai cho những ước muốn khác nhau, trái ngược nhau của con người. Những nhận định mà chúng ta thường quen miệng nói đúng hay sai thực ra chỉ là phù hợp hay không phù hợp trong những hoàn cảnh nhất định mà thôi. Hoàn cảnh thay đổi thì quan điểm đánh giá cũng thay đổi. Bảo hộ sản xuất có thể là một quan điểm đánh giá cũng thay đổi. Bảo hộ sản xuất có thể là một quan điểm phù hợp với bối cảnh cách đây vài chục năm khi mối quan tâm phổ biến của con người là công ăn việc làm. Nhưng thời điểm này có thể không còn phù hợp nữa vì con người quan tâm nhiều hơn đến chất lượng cuộc sống và vì toàn cầu hóa.

Hoàn cảnh thay đổi rất nhanh trong thời đại này. Nhu cầu lợi ích của con người ngày càng đa dạng và phức tạp. Không có bộ máy nào của con người dù đó là sức mạnh của nhà nước mà có đủ sức dự đoán và làm ra lợi ích để đáp ứng được cho nhu cầu và sự thay đổi nói trên. Không thể có. Chỉ có Bàn tay vô hình của Tạo hóa mới thực hiện được nhiệm vụ này. Sự vận hành của Quy luật này sẽ khiến mọi người trong quá trình vận động cho lợi ích của mình sẽ tự nhiên hình thành nên những quy tắc đạo lý tự nguyện. Chính các quy tắc này sẽ tự động điều chỉnh hầu hết hành động của con người hướng đến sự cân bằng lợi ích giữa mọi người. Ví dụ như trong hoạt động kinh tế tụi con thấy đạo lý: thuận mua vừa bán, anh bán giá cao hơn thì phải có gì tốt hơn cho tôi, làm ăn gian dối thì mất khách hàng, v.v… Hoặc là trong giao tiếp xã hội thì anh muốn tôi tôn trọng tín ngưỡng của anh thì anh phải tôn trọng tín ngưỡng của tôi. Nói chung là có vô số các quy tắc bất thành văn như vậy, chẳng có luật pháp nào quy định nhưng lại được nhiều người chấp nhận và hành xử theo. Chúng làm cho người ta hài lòng khi giao dịch với nhau. Giao dịch chính là sự trao đổi lợi ích. Người ta hài lòng có nghĩa là trạng thái cân bằng được xác lập. Người ta có thể phân biệt các loại lợi ích là hoàn toàn tương đối. Tụi con có nhận ra là cậu đang đề cập đến LẼ PHẢI CƠ BẢN – khu vực điều chỉnh bằng đạo lý như trong mô hình CƠ CHẾ XÃ HỘI KHOA HỌC không? Thư sau cậu sẽ đi sâu vào nó. Thư này cậu viết cho xong về LẼ PHẢI THỎA ƯỚC.

Quan sát quá trình vận hành của Bàn tay vô hình, các nhà khoa học nhận thấy có một số việc. Quy luật này không điều chỉnh nhanh, có những cái rất chậm nên đòi hỏi có sự can thiệp của Bàn tay hữu hình, tức là vai trò điều tiết của nhà nước. Ví dụ dễ thấy nhất là an toàn thực phẩm, vì người tiêu dùng không có cách nào để nhận biết được tác hại của nó sau 5-10 năm hoặc hơn nên họ không thể có phản ứng nhanh chóng là không mua sản phẩm độc hại đó (theo như Đạo lý) do đó nhà nước phải có trách nhiệm phát hiện sớm và công bố nó, xử phạt người làm ra nó. Sự can thiệp đó chắc chắn sẽ làm thị trường của sản phẩm đó tự điều chỉnh nhanh chóng. Ví dụ này là một trong những trường hợp mà người dân dễ dàng đồng thuận trao cho nhà nước quyền can thiệp bằng Bàn tay hữu hình. Sự đồng thuận này chính là thỏa ước của người dân lập ra một nguyên tắc là: người nào làm ra những thực phẩm gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người khác thì sẽ bị tuyên bố rộng rãi cho mọi người biết và sẽ bị trừng phạt. Nguyên tắc này sẽ được cụ thể hóa thành luật để hạn chế việc tự do dùng quyền kinh doanh để xâm phạm đến quyền được an toàn sức khỏe, tính mạng của người khác bằng thực phẩm độc hại. Bản chất của luật này là sự ghi nhận của nhà nước về cách thức của người dân đã thỏa thuận để bảo vệ lợi ích cho mình. Sau đó nhà nước sử dụng quyền nhân dân đã trao cho nhà nước theo luật này để thay mặt nhân dân thực hiện thỏa thuận đó, và bảo vệ thỏa thuận đó đến khi nào nhân dân có một thỏa thuận mới thay thế nó. Đây không phải là cách nói lòng vòng đâu, mà là sự thể hiện cho chính xác bản chất và thuộc tính của nhà nước pháp quyền mà cậu đã định nghĩa ở trên: nó chỉ bảo vệ quyền của nhân dân được bảo vệ lợi ích của họ, chứ nó không bảo vệ lợi ích cụ thể của họ. Tới đây chúng ta có thể rút ra thuộc tính thứ tư của nhà nước pháp quyền là không có lợi ích. Thuộc tính thứ năm là: nhà nước pháp quyền sẽ không có quyền hạn nào nếu không được nhân dân trao cho. Hiến pháp Mỹ thể hiện thuộc tính này như sau: Quyền nào dân không trao cho nhà nước thì vẫn thuộc về dân. Còn Hiến pháp VN thể hiện bằng câu: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”.

Quá trình vận động của con người cho lợi ích của mình không phải lúc nào cũng dễ dàng đạt được sự thỏa thuận như ví dụ trên. Chúng ta lấy ví dụ khác là ObamaCare nhá. Trước hết tụi con đừng nhầm lẫn rằng đây là sự bảo vệ của Tổng thống Mỹ cho lợi ích y tế của người dân Mỹ. Tổng thống là người đứng đầu nhà nước Mỹ, một nhà nước pháp quyền nên không thể nhằm bảo vệ lợi ích. Trước khi Obama trởi thành Tổng thống, sự vận động của người Mỹ đẩ bảo vệ cho cách thức chăm sóc y tế mà họ muốn đã diễn ra từ lâu. Nó đã trở thành mối quan tâm lớn trong xã hội Mỹ, nhưng vẫn chưa đạt được sự thỏa hiệp. Người ta cho rằng cứ để Bàn tay vô hình tự điều tiết, người thì bảo rằng sự điều tiết này quá chậm chạp làm nhiều người không có được sự chăm sóc y tế tốt. Khi tranh cử tổng thống, Obama hứa sẽ thúc đẩy vấn đề này theo hướng nhà nước sẽ can thiệp để điều tiết nó nhanh hơn. Tụi con phải hiểu rằng đây không phải là sự vận động của nhà nước (nhà nước pháp quyền không có lợi ích, không có quyền gì trừ quyền được nhân dân giao bằng luật nên không thể vận động cho lợi ích). Đây là sự thể hiện kết quả vận động của người dân cho hướng nói trên nhận được sự ủng hộ của một ứng cử viên Tổng thống. Cùng lúc đó sự vận động của những người dân khác cho hướng khác cũng sẽ nhận được sự ủng hộ của các ứng cử viên Tổng thống khác. Việc Obama trúng cử tổng thống hoàn toàn không có nghĩa là xu hướng ông ủng hộ đã trở thành thỏa hiệp của nhân dân. Nó chỉ là có lợi thế hơn vì tân tổng thống sẽ thúc đẩy Quốc hội đẩy nhanh tiến trình đến thỏa hiệp. Nên nhớ là Tổng thống Mỹ không có quyền gì để chi phối các nghị sĩ Mỹ thuận theo xu hướng mà Tổng thống ủng hộ. Nghị trường Mỹ ở Thượng viện và Hạ viện là sự thể hiện rõ ràng nhất quyền tự do vận động của người dân để bảo vệ lợi ích cho mình. Các nghị sĩ là đại diện thực sự cho quyền lợi (quyền và lợi ích) của người dân theo những xu hướng khác nhau tùy thuộc vào mong muốn của cử tri bầu họ. Vì quyền lợi cử tri là mệnh lệnh duy nhất dành cho họ, không ai, chức vụ hay tổ chức nào có quyền ra lệnh cho họ phải bỏ phiếu cho hướng này hay hướng khác, cả cái đảng mà họ gia nhập là Công hòa hay Dân chủ cũng chẳng có cái quyền đó. Họ hoàn toàn độc lập và tự do vận động cho những quyền lợi của cử tri, cho những xu hướng và giá trị mà cử tri họ ủng hộ. Bên ngoài nghị trường cũng vậy, các cử tri tự do vận động cho những gì mình muốn (miễn là luật không cấm) thông qua báo chí, biểu tình, lập nên các hội của những người có cùng mong muốn để tập hợp sức mạnh vận động. Sự vận động của các cử tri sẽ tác động mạnh mẽ đến sự vận động của các nghị sĩ ở nghị trường. Tụi con có biết rằng ở Mỹ, khi mà một nghị sĩ còn có ý kiến về một dự luật, thì nó không được đem ra bỏ phiếu để thông qua không? Quyền tự do vận động của người dân được luật hóa thành một quy định như vậy đó. Nhiều nghị sĩ nếu tập hợp được ý kiến tương đồng nhau thì sẽ dẫn tới thay đổi nội dung dự luật trước khi nó được bỏ phiếu. Đây chính là cách và quá trình cân bằng lợi ích giữa những nhóm người theo đuổi những xu hướng khác nhau về lợi ích. Cụm từ “nhóm lợi ích” có nghĩa là như vậy và là một khái niệm lành mạnh. Luật pháp Mỹ còn bảo vệ quyền vận động hành lang (lobby) của các nhóm lợi ích và cũng có những quy định để ngăn cản các nhóm này vận động cho lợi ích của mình bằng những cách thức phạm pháp như hối lộ, lừa đảo, v.v… Nếu không vi phạm những quy định này thì các nhóm lợi ích chẳng có tội lỗi gì cả. Nhưng họ có thể bị chỉ trích gay gắt bởi đạo lý, tức LẼ PHẢI CƠ BẢN nếu quá vì lợi ích của mình mà không nghĩ đến lợi ích của nhóm khác, khiến họ phải tự điều chỉnh mục đích của mình cho phù hợp. Cần lưu ý là nhóm lợi ích là bất kỳ hội nhóm nào của người dân vì bất kỳ mục đích gì mà luật không cấm. Hai người cũng thành một nhóm và chẳng có sự khống chế nào về số lượng tối đa hết.

Dự luật về chăm sóc y tế mà sau này thường được gọi là Obamacare cũng phải trải qua các quá trình vận động mạnh mẽ bên trong lẫn bên ngoài nghị trường Mỹ. Cuối cùng nó được cả hai viện Quốc hội thông qua và được Tổng thống Obama ký ban hành thành luật sau khi đã được tranh cãi quyết liệt và điều chỉnh để cân bằng lợi ích của các nhóm lợi ích. Việc này xảy ra trong nhiệm kỳ đầu của Obama. Việc thực hiện nó từ đó đến nay làm cho nhiều cử tri và nhóm lợi ích thấy rằng họ phải đóng thuế quá nhiều mà lợi ích mang lại không rõ ràng. Họ cho rằng nếu không phải đóng nhiều thuế như vậy thì tiền đó họ có thể đầu tư vào làm ăn giúp tăng trưởng kinh tế, thêm việc làm và người Mỹ sẽ nhận được nhiều lợi ích hơn. Quan điểm này lại nhận được nhiều sự đồng tình của nhiều nghị sĩ đảng Công hòa. Có thể vì vậy kỳ bầu cử lại Hạ viện và Thượng viện giữa nhiệm kỳ cách đây 2 ngày đã làm cho các nghị sĩ Dân chủ mất ghế do số cử tri ủng hộ quan điểm nói trên chiếm đa số. Có thể tới đây các nghị sĩ Cộng hòa sẽ trình ra một dự luật điều chỉnh luật “Obamacare”. Nó cũng sẽ phải trải qua những quá trình vận động như trên, nếu cuối cùng được thông qua và ban hành thành luật thì đó chính là một sự thỏa hiệp mới của người dân về mức đóng thuế và mức độ hỗ trợ chăm sóc y tế cho họ. Nó cũng là một trạng thái cân bằng mới về lợi ích mà ở trạng thái đó người dân hài lòng với nghĩa vụ và quyền lợi của mình cho tới khi có những xu hướng muốn thay đổi nó xuất hiện đủ mạnh (tức đủ sức thuyết phục).

Quan điểm đánh thuế cao để có tiền chăm sóc y tế cho những người ít tiền có thể là phù hợp trong giai đoạn mà nước Mỹ rơi vào khủng hoảng kinh tế làm nhiều người trung lưu khó khăn và những người giàu thì thủ vốn lại không đầu tư làm ăn vì tình hình chưa thuận lợi. Nhưng vào lúc kinh tế đang phục hồi thì quan điểm này có thể không còn phù hợp vì đây là lúc giới doanh nghiệp cần vốn để đầu tư đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, tạo thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động. Không cứ dùng chính nghĩa giúp đỡ người nghèo thì phải đúng, hỗ trợ người giàu là sai. Những quan điểm về lợi ích của con người hay nói chung là quan điểm của con người không bao giờ là lẽ phải tuyệt đối cả. Vì vậy nó cũng không được bảo vệ trên hết, nó phải bị thay đổi bất cứ lúc nào sự vận động của nhân dân cho lợi ích của mình đạt được một sự thỏa hiệp mới. Cho nên cậu gọi những sự thỏa hiệp được ghi nhận bằng luật là LẼ PHẢI THỎA ƯỚC – là pháp lý ghi nhận và bảo vệ các giá trị chung đã được người dân thỏa thuận, đồng thời trao quyền cho nhà nước thay họ thực hiện và bảo đảm cho nó được thực hiện bởi người dân. Thuật ngữ “giá trị” ở đây có nghĩa là lợi ích cả về vật chất lẫn tinh thần. Bản chất của công việc này là người dân đồng ý chấp nhận những sự hạn chế nào đó về quyền (nếu phải đóng thuế thêm và trao bớt quyền của mình cho nhà nước) để có được lợi ích cho mình và cho người khác. Chỉ có sự vận động tự do như trên thì mới tạo ra được những trạng thái cân bằng tự nhiên như thế, tức là sự cân bằng không bởi sự cưỡng ép như cậu đã phân tích trong các thư trước. Khi cân bằng tự nhiên thì người dân mới hài lòng, xã hội mới ổn định và phát triển bền vững. Bản chất sự vận động tự do là không bị cưỡng ép bởi quyền lực hay bạo lực nên thực chất nó biến thành sự thuyết phục. Người dân thuyết phục lẫn nhau. Chính phủ có sáng kiến gì cũng phải đưa ra thuyết phục nhân dân. Không bao giờ áp đặt vì bất kỳ danh nghĩa lợi ích nào cả. Chỉ có trong một cơ chế vận động như vậy thì tất cả quyền lực nhà nước mới thực sự thuộc về nhân dân mà thôi.

7/11/2014

Cậu mỏi tay quá rồi, thư sau cậu sẽ tiếp. Thư này chắc sẽ làm tụi con mỏi mắt đây. Khi đọc thư này tụi con cần chú ý so sánh với Hiến pháp mới của VN để thấy đã có những nguyên tắc pháp quyền được quy định trong đó. Nhưng quá trình để “QCN được bảo vệ trên hết” không chỉ tùy thuộc vào sự tồn tại của các văn bản, mà chủ yếu nhờ vào sự hiểu biết của người dân để sử dụng QCN của mình theo đúng với bản chất của nhà nước pháp quyền. Vì vậy mà cậu mới mỏi tay viết cho tụi con🙂 Nước Anh không hề có bản Hiến pháp thành văn, nhà nước pháp quyền tồn tại trong ý thức của người dân Anh vì vậy mà nó tồn tại trên thực tế. Công bố của TQ về cải cách pháp quyền mới đây cho thấy họ chỉ muốn lợi dụng từ ngữ, nói pháp quyền mà chẳng nhắc gì đến QCN. Họ đang sai hướng rồi. Chúng ta cần tránh ảnh hưởng của họ. Thương tụi con.

Cậu Tám.

This entry was posted in Thư Xuyên Mộc and tagged , , , , , , , , , , , . Bookmark the permalink.

2 Responses to Thư 30A- Tự do suy tưởng – Cơ chế xã hội khoa học P2

  1. Pingback: Làm sao nhận được sự khai sáng p2 – Không kết bè phái (Thư 25C) | Trần Huỳnh Duy Thức

  2. Pingback: Thư 47A – Nhà nước Pháp quyền (phần cuối) | Trần Huỳnh Duy Thức

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s