Nguy cơ của “Tâm thức chiến tranh”- Thách thức và cơ hội (Thư 34A)

 

 

Nguồn:War Brain by Kazanevski-WP

Nguồn:War Brain by Kazanevski-WP

Xuyên Mộc ngày 28/02/2014

Thưa ba và cả nhà thương yêu!

Nhanh quá, mới đó mà lại hết năm rồi. Con vẫn nhớ giờ này năm trước ba vẫn đang vất vả bôn ba vì con giữa mùa đông giá lạnh. Năm nay thật tốt vì sức khỏe của ba ổn định, anh Tôn tai qua nạn khỏi. Thoa tuy bị tiểu đường nhưng đã phát hiện kịp thời và kiềm chế được nó. Con thì vẫn ngon lành hề hề . Càng lớn người ta càng thấy sức khỏe còn hơn vàng. Mắt phải con giờ đây rất ổn định, không khác gì mắt trái. Con chẳng có cảm giác gì là mình đang xài thủy tinh thể nhân tạo, hì hì. Thị lực hai mắt giờ như nhau, nhìn xa nhìn gần đều rõ. Con có thể đọc báo ngoài ánh sáng trời mà không phải đeo kính. Ánh sáng trong buồng có hai đèn nên cũng rất tốt, có đêm con viết rất khuya nhiều giờ liền mà cũng không bị mỏi mắt. Hồi giữa năm, ở đây cũng cho chụp X-Quang, phổi con cũng không bị gì. Nói chung con thấy mình rất ổn, tinh thần cũng vững vàng, chưa bao giờ bị stress. Cả nhà mình hãy học gương ba/ ông ngoại/ ông nội mà tập luyện giữ gìn sức khỏe cho thật tốt nha. Học ba/ cậu tám nữa, mùa lạnh này mà chưa đến 5h sáng đã dậy tắm xối nước lạnh ào ào mới đã.

Nhìn lại thế giới năm 2014 – điểm nóng thực sự ở đâu?

Năm nay thời cuộc cũng nhiều biến động và xoay chuyển, con đánh giá là tốt theo xu hướng phát triển tiến bộ. Thế giới đang chuyển mình để xác lập xu thế này nên tất nhiên không thể tránh được những xung đột lớn. Vấn đề là nhân loại sẽ giải quyết chúng bằng cách nào, bằng chiến tranh hay tiến triển hòa bình mà thôi. Dù cơ hội cho hòa bình là rõ ràng hơn nhưng nguy cơ chiến tranh vẫn ngày càng rõ nét. Putin như con đã viết nhiều lần, đang thể hiện rõ những động thái khơi dậy tâm thức chiến tranh trong lòng người Nga để khơi dậy lòng yêu nước của họ nhằm củng cố cho quyền lực đang bị lung lay tận gốc của ông ta. Ông ta đỗ lỗi những yếu kém kinh tế mà mình đã gây ra cho đất nước là do thế lực thù địch bên ngoài muốn làm suy yếu để tấn công nước Nga. Từ đó ông ta mới có cớ tăng cường kiểm soát quốc phòng – an ninh để tăng cường đàn áp các lực lượng chính trị đối lập của mình. Hơn nữa, ông ta dùng cái cớ này để đánh lừa dư luận Nga và chuyển hướng nó bớt công kích mình, làm cho người Nga lầm tưởng là họ thực sự bị thế lực thù địch bên ngoài đe dọa và vì thế họ cần một người hùng như Putin bảo vệ họ. Những trò chơi “gắp lửa bỏ tay người như vậy chỉ có hai điểm dừng: một là người gây ra bị thất bại, bị vạch mặt và thay thế, hai là cục lửa ấy sẽ thành một ngòi lửa chiến tranh để che đậy cho những sự dối trá. Tuần trước, trong cuộc họp báo cuối năm Putin đã bác bỏ khả năng xảy ra đảo chính. Con nghĩ ông ta đã không còn nhiều lựa chọn. Thời buổi này càng không dễ bưng bít nữa, con ngồi đây xa ông ta hơn chục ngàn cây số mà còn nhìn rõ, đừng nói là người Nga, nhất là giới trẻ. Hơn 10 năm trước con đến Nga đã thấy những người trẻ, năng động và thích cơ hội công bằng rất không thích Putin. Giờ lượng người này chắc chắn là ngày càng đông đảo. Hầu hết những người già hoài cổ và những người thích kiếm tiền nhờ đặc quyền thì rất ủng hộ ông ta. Nhưng có lẽ giờ họ đã vỡ mộng nhiều. Nói gì thì nói, kinh tế vẫn thay đổi lòng người ghê gớm nhất. Có đỗ cho ai đi nữa thì Putin cũng không thể không đối mặt với thực tế là kinh tế Nga đang suy sụp, người Nga đang nghèo đi nhanh chóng. Và một thực tế là Putin không còn cách nào để thay đổi tình trạng này tốt hơn như ông ta đang ra sức hứa hẹn. Không có phép màu hô biến trên thế giới này đâu chỉ có quy luật. Quy luật ấy đang nhấn chìm nước Nga do chính quy luật của mình gây ra. Hậu quả sẽ còn ghê gớm hơn nhiều chứ không phải chỉ như bây giờ mà gọi là đáy đâu. Những tác động bên ngoài lên Nga chỉ là sự thể hiện tất yếu theo quy luật thôi. Cũng chỉ có quy luật này mới cứu được nước Nga thôi. Nhưng Putin không bao giờ hiểu được quy luật nên không thể chấp nhận những liều thuốc đắng. Ông ta chỉ còn thấy được chiến tranh có thể giúp được mình. Vì thế mà Nga vừa điều chỉnh học thuyết quân sự cho rằng mình đang bị đe dọa bởi nhiều nguy cơ và nhấn mạnh sức mạnh răn đe hạt nhân. Nhưng thế giới dễ gì mắc mưu khiêu khích của ông ấy. Sẽ chẳng có sự tấn công nào vào nước Nga để tạo cơ hội cho ông ấy. Người ta chỉ tăng cường phòng thủ với sức mạnh vượt trội để ông ta không thể liều lĩnh phiêu lưu quân sự ra ngoài lãnh thổ Nga vào lúc này.

isolated-russia-WP

“Người ta chỉ tăng cường phòng thủ với sức mạnh vượt trội để ông ta không thể liều lĩnh phiêu lưu quân sự ra ngoài lãnh thổ Nga vào lúc này.”

Chỉ cần duy trì tình trạng này để quy luật có thời gian diễn ra. Khi ấy các mồi lửa do Putin mồi sẽ bùng phát và chỉ có thể phun trào vào chính ông ta. Nước Nga sẽ thay đổi trong hòa bình và thế giới sẽ tránh khỏi nguy cơ chiến tranh rất nguy hại. Với học thuyết quân sự mới khẳng định sự đáp trả bằng hạt nhân đối với những tấn công phi hạt nhân thì Putin đã đánh mất mọi chính nghĩa và đẩy nước Nga vào thế bị cô lập, thành tiêu điểm đề phòng của thế giới. Nhưng có lẽ Putin nhầm to vì nhân loại không vì thế mà khiếp sợ sự răn đe của nước Nga ngược lại sẽ càng cùng nhau hóa giải nó một cách hòa bình. Dân Nga cũng sẽ không dễ dàng để Putin đẩy nước Nga lún sâu vào thảm họa hơn nữa. Nếu không có một cuộc tấn công nào bằng quân sự vào Nga thì ông ta sẽ không thể huy động sức mạnh quân sự và lợi dụng lòng yêu nước của người Nga. Các chiêu bài của Putin sẽ nhanh chóng rơi mặt nạ. Vì vậy mà trong các thư trước con đã nhận định rằng quy mô từ khu vực này sẽ không còn quá lớn nữa, nó sẽ bị hóa giải bằng những biện pháp chiến lược trong năm 2014 này thôi. Putin muốn biến Nga thành tâm điểm để buộc các nước chiều theo ý mình. Nhưng chẳng ai chiều vì sợ ông ta cả. Giờ mọi thứ từ từ mà tiến triển theo quy luật thôi Điểm nóng miền đông Ukraina chẳng khiến NATO để tâm đổ quân can thiệp tạo điều kiện cho Putin leo thang được như ý muốn. Thế giới tiến bộ sẽ giúp đỡ Ucraina, nhưng chính nước này phải giải quyết những vấn đề của họ và chịu trách nhiệm cho những sai lầm về phương pháp của họ. Các giải pháp mà liên quan đến bạo lực, đập phá, đạp đổ sẽ không tránh được những hậu quả và trả giá lâu dài. Nhưng chính phủ mới của thủ tướng Yatseniuk dường như chưa rút ra được bài học, còn hận thù và hậm hực dữ lắm, vẫn tâm thức chiến tranh nặng nề lắm. Dân tộc nào còn mang nặng tâm thức đó thì còn khó mà phát triển được trong thời đại mới này. Ông Yatseniuk còn muốn ăn thua đủ với Putin lắm.

Điểm nóng Trung Đông và IS, nhìn vậy thôi chứ không còn chứa đựng ngòi nổ chiến tranh lớn nữa. Chỉ còn là vấn đề thời gian để tận diệt IS và bao vây các tổ chức khủng bố để chúng thoái trào dần. Chủ nghĩa khủng bố sẽ kết thúc khi kỉ nguyên năng lượng xanh xác lập. Khi đó dòng chảy của thời đại của QCN sẽ khai sáng những đầu óc giáo điều mê muội để không còn những kẻ nuôi dưỡng và phụng sự cho những kẻ cực đoan khủng bố. Không thể triệt tiêu khủng bố bằng sức mạnh quân sự. Phải dùng sức mạnh này để kiềm chế những tác hại của nó mà thôi. Còn phải làm, nhưng chống khủng bố không còn là tập trung chiến lược nữa của Mỹ nói riêng và thế giới nói chung. Xét cho cùng, chủ nghĩa khủng bố đã lợi dụng được tâm thức chiến tranh của không biết bao nhiêu người để điều khiển họ phục vụ cho ý đồ cực đoan man rợ của chúng. Con người được khai sáng QCN thì họ sẽ thay đổi được tâm thức này.

Chính tâm thức chiến tranh đang trỗi dậy trong người TQ đang tạo nên một nguy cơ nghiêm trọng nhất đối với hòa bình thế giới. Chính quyền Trung Quốc ngầm nuôi dưỡng tâm thức này và chủ nghĩa dân tộc cực đoan để phục vụ cho tham vọng bá chủ của họ. Tâm thức chiến tranh vốn tồn tại lâu đời ở TQ trong mấy ngàn năm lịch sử của họ. Giống mọi nơi trên thế giới, sự tranh hùng xưng bá ở TQ luôn được tiến hành dưới danh nghĩa bảo vệ dân tộc. Từ đó các anh hùng dân tộc thường được gắn với những chiến công hiển hách hay những giai đoạn lịch sử và triều đại được lập nên từ chiến trường. Những hình ảnh như vậy được ca ngợi từ đời này sang đời khác nên khắc ghi trong tâm trí người dân sự ngưỡng mộ các tài năng quân sự. Đồng thời việc này cũng tạo nên tính cách ưa chuộng giải quyết vấn đề bằng bạo lực ở hầu hết các dân tộc. Sự tiến bộ đã thay đổi tâm thức này theo hướng văn minh phi bạo lực ở nhiều nước. Sự thay đổi này ấn tượng nhất là ở Nhật sau thế chiến thứ II. Nhưng cũng còn rất nhiều nước sự tiến bộ này rất chậm, sự ưa chuộng bạo lực vẫn còn phổ biến trong tiềm thức con người nên rất dễ bị kích động đập phá, chiến tranh. Những nước như Ucraina nằm sát trung tâm châu Âu mà vẫn không tránh được những cuộc biểu tình hòa bình bị biến thành những cuộc đốt phá, trút giận, đập đổ. Hậu quả của nó không chỉ là những thiệt hại về con người và của cải, mà còn là tình trạng của một đất nước phải căng ra vì chiến tranh và đánh mất những cơ hội để phát triển. Sự đè nén bị tích chứa biến thành năng lượng tàn phá phun trào. Ukrane không chỉ đánh mất năng lượng chuyển hóa khoa học để xây dựng phát triển mà còn phải chật vật từ những đống tro bụi và những chiến dịch thanh lọc chính quyền. Hận thù lại tiếp tục được nuôi dưỡng, tâm thức chiến tranh vì vậy mà càng trỗi dậy.

Tâm lý hiếu chiến của Trung Quốc là vấn đề lớn của thế giới

china-warlike

Chính tâm thức chiến tranh đang trỗi dậy trong người TQ đang tạo nên một nguy cơ nghiêm trọng nhất đối với hòa bình thế giới

Ở Trung Quốc, một mặt chính quyền kiềm chế bạo lực bùng phát trong nước nhưng mặt khác lại khuyến khích tư duy của người dân ủng hộ chiến tranh để khẳng định vị thế dân tộc. Trong một đất nước mà truyền thông bị kiểm soát nghiêm ngặt lại nhan nhãn các trang mạng khổng lồ với hàng trăm triệu truy cập đăng tải công khai những chiến lược quân sự tấn công VN, khống chế Mỹ, kiềm chế Ấn, hợp tác Nga,… nhằm độc chiếm biển Đông. Phim ảnh lại tràn ngập những câu chuyện kích động lòng tự tôn dân tộc bằng sự hận thù đối với Nhật và các nước Phương Tây đã xâu xé Trung Quốc. Những bình luận của người đọc về các chiến lược quân sự hung hăng như vậy không chỉ ủng hộ mà còn kêu gọi ĐCS TQ phải thực hiện ý nguyện của nhân dân để “lấy lại công bằng” và làm cho “những kẻ thù làm nhục người TQ” nếm được mùi nhục nhã. Không biết những trang mạng như thế đã phát triển đến cỡ nào so với lúc con còn ở ngoài. Ở những đất nước phát triển văn minh, không những luật cấm những hành động bạo lực mà còn nghiêm cấm mọi sự kích động bạo lực và chiến tranh. Người dân được tự do vận động cho mọi mong muốn của mình nhưng không được vì bạo lực và bằng bạo lực. Ở TQ, cách chống đối diễn biến hòa bình của chính quyền vô hình trung làm người dân hiểu chiến tranh là được khuyến khích. Nói chuyện với một số người TQ là doanh nhân, con thấy họ có suy nghĩ rất lạ. Họ bảo họ cần hòa bình để làm ăn nhưng lại muốn chiến tranh để trở thành số một thế giới !?. Họ dẫn chứng là nếu không có cuộc chiến Nga- Nhật 1904-1905 thì làm sao Nhật thành cường quốc số một Đông Á, không có chiến tranh thế giới I thì làm sao Đức trở thành bá chủ thế giới trong thế chiến II, và không có cuộc đại chiến này thì Mỹ vượt lên thành cường quốc số một thế giới? Họ còn có một niềm tin sai lầm rất nguy hiểm nữa là: Nhật, Đức dù thảm bại sau chiến tranh thế giới thứ II nhưng “nền tảng chiến tranh” đã giúp cả hai nước này đã vươn lên thành cường quốc được nể trọng. Cho nên theo họ, phát động chiến tranh thì cuối cùng thắng hay thua gì vẫn là thắng. Những lỗ hỏng tư duy “suy luận theo hiện tượng mà không hiểu bản chất” như vậy lại rất phổ biến và chiếm đa số tại TQ. Con đã nhờ vài người bạn của mình là người Phương Tây sống và làm việc lâu tại TQ kiểm chứng suy nghĩ trên với nhiều thành phần khác nhau trong xã hội nước này. Câu trả lời mà con nhận được là đúng như thế. Hỏi rất nhiều người Trung Quốc nhưng con không thấy ai hiểu được “diễn biến hòa bình” mà chính quyền TQ chống là gì, cả ý nghĩa nguyên thủy của nó lẫn ý nghĩa mà chính quyền này diễn giải. Họ chỉ biết chính xác rằng đó là điều chính quyền TQ không muốn nên phải tránh xa. Vì không hiểu bản chất của nó là gì nên cái lỗ hổng tư duy nói trên sẽ tự động diễn dịch trong não của họ một cách dễ hiểu là: chính quyền muốn phát triển chiến tranh. Một nhà nghiên cứu về TQ người Mỹ gốc Nhật nói với con rằng đây là sự thâm hiểm của giới chóp bu Trung Quốc. Họ lợi dụng khái niệm “diễn biến hòa bình” một mặt để bóp nghẹt mọi sự đối lập với họ, một mặt để nuôi dưỡng ý chí chiến tranh trong tiềm thức người Trung Quốc để phục vụ cho mưu đồ bá chủ của họ. Con đồng ý với ông ấy. vì không thể tìm thấy bất cứ một định nghĩa chính xác , rõ ràng và chính thống của chính quyền Trung Quốc cho khái niệm “diễn biến hòa bình”, tất cả đều rất mơ hồ và theo kiểu “lưới trời lồng lộng”. Một nguy cơ thực sự cho quốc gia thì phải được định nghĩa rất rõ ràng và cụ thể, không gây nhầm lẫn để người dân cùng hiểu rõ và cùng tránh và chống lại nó. Trung Quốc lại không muốn thế.Chính quyền Trung Quốc rất giỏi trong việc sử dụng từ ngữ làm người ta mơ hồ về mục đích thực sự của mình. Khái niệm “trỗi dậy hòa bình” của họ cũng là một kỹ thuật như vậy. Vì thế bây giờ ai mà còn mơ hồ về thiện chí hòa bình của TQ thì nhất định sẽ phải trả giá.

Tiềm lực như Nhật mà còn phải tăng cường phòng thủ tập thể và vận động hình thành chuỗi kim cương bảo đảm an ninh Nhật –Mỹ- Úc- Ấn để đối phó với việc tăng cường xây dựng những cơ sở quân sự của Trung Quốc ở các đảo gần Senkaku trên biến Hoa Đông. Cơ hội để Trung Quốc phiêu lưu quân sự ở khu vực Đông Bắc Á và vùng biển này là rất thấp. Việc giật dây Triều Tiên để hăm dọa hạt nhân chủ yếu là để “giương Đông kích Tây” để tập trung quân lực của Mỹ-Nhật-Hàn vào khu vực này. Mục tiêu chính của Trung Quốc là Biển Đông và khu vực Đông Nam Á, với các liên kết nội khu và liên kết với bên ngoài của nó còn chưa thực sự chặt chẽ và vững mạnh. Nguyên tắc quyết định của ASEAN là đồng thuận tuyệt đối, tức là không có nước nào phản đối thì mới thông qua được một quyết định nào đó. TQ đã từng vài lần thành công trong việc vận động một thành viên nào đó của ASEAN bất đồng để không thông qua các quyết định bất lợi cho Trung Quốc. Hồi năm 2011, Campuchia làm chủ tịch luân phiên ASEAN, TQ đã vận động thành công nước này để các hội nghị ASEAN năm đó không ra được tuyên bố về Biển Đông. Có lẽ vì tin vào khả năng này mà năm nay Trung Quốc đã thử phiêu lưu HD-981 nhưng không ngờ ngành ngoại giao VN đã vận động thành công cho sự đồng thuận của ASEAN và sự ủng hộ của các đối tác và các cơ chế đối thoại của ASEAN tại Myanmar để lên án và ngăn chặn Trung Quốc. ASEAN đã giữ được sự độc lập và mạnh mẽ hơn để giữ vai trò trung tâm mà các đối tác ủng hộ. Tuy vậy Trung Quốc chắc chắn là không thể chịu thua, họ sẽ rút kinh nghiệm và thực hiện ngoại giao “chia để trị” ASEAN với thực tế là nhiều nước ASEAN vẫn chưa thực sự dân chủ nên khả năng vận động, can thiệp chi phối chính quyền các nước này hành động có lợi cho Trung Quốc không phải là điều bất khả thi. Nhất là trong một bối cảnh chính trị mà chính quyền các nước ASEAN thường chỉ nhìn được lợi ích dân tộc ngắn hạn, cộng với tiềm lực kinh tế và thị trường rộng lớn của TQ thì con không nghi ngờ ngành ngoại giao của TQ có thể thành công trong việc “chia để trị” ASEAN. Điều này nếu xảy ra vào thời điểm mà TQ tính toán rất cẩn thận để thực hiện cho mưu đồ xâm chiếm của họ và đặt thế giới vào “chuyện đã rồi” như Hoàng Sa và Gạc Ma trước đây thì thật là thảm họa. Con cũng không nghi ngờ gì chính quyền TQ khát khao thực hiện kế hoạch này. Họ phải thực hiện để giải cơn khát cho dân chúng đang nóng bừng vì mồi lửa “dân tộc cực đoan” và “tâm thức chiến tranh” mà họ châm lên.

Lỗ hổng “cơ chế đồng thuận” và “chuyện nội bộ quốc gia” trong khối ASEAN và nguy cơ từ nó

Cộng đồng ASEAN đã hình thành chính thức vào 31/12/2015, tròn 365 ngày nữa với ba trụ cột: Kinh tế, chịnh trị – an ninh và văn hóa –xã hội. Nhưng vẫn với cơ chế đồng thuận làm nền tảng quyết định của cộng đồng, con thấy thật khó mà dẫn đến được một cộng đồng có sức mạnh. Nó chủ yếu vẫn là tiếng nói của các chính phủ, sự vận động với nhân dân và liên kết của họ trong cộng đồng không thể xảy ra và thực tế. Lợi ích chung vì vậy sẽ rất mờ nhạt, các giá trị chung sẽ chỉ là xã giao, khó tạo ra được sự giao thoa văn hóa nhưng sự xung đột lợi ích và giá trị sẽ lại dễ xảy ra vì sự mở cửa thị trường, dịch chuyển lao động, đầu tư… một quy tắc quan trọng các của ASEAN là “không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau”. Trong khi chính sách ngoại giao can dự của các nước lớn vào khu vực này là một thực tế không thể thay đổi, không vi phạm luật pháp quốc tế và cũng chẳng phải vấn đề đạo lý được dư luận quốc tế quan tâm. TQ là nước lên án rất dữ “can thiệp nội bộ” nhưng rất giỏi “ném đá giấu tay” trong việc chi phối bằng cách mua chuộc các nhân vật quyền lực trong các đảng cầm quyền từ Á sang Phi, nhất là tại các nước độc tài tham nhũng. Trong một thế giới toàn cầu hóa và ngày càng liên thuộc lẫn nhau, nguyên tắc không can thiệp không còn ý nghĩa nữa, Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc (HĐBALHQ) – cơ quan có trách nhiệm cao nhất về hòa bình và ổn định của thế giới đã phải ra quyết định can thiệp không biết bao nhiêu lần vào nhiều nước. Nga rõ ràng là can thiệp giúp chính quyền của Yanukovich nhưng sao lại lên án phương Tây can thiệp giúp chính quyền mới ở Ucraina sau khi Yanukovich sụp đổ. Sự lên tiếng của Mỹ và EU phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền ở VN cũng là sự can thiệp để giúp đỡ VN. Họ trừng phạt Nga để bảo vệ Ucraina cũng là can thiệp. Khoảng 40 năm trước Mỹ can thiệp để giúp chính quyền TQ lấy ghế đại diện tại LHQ từ Đài Loan. Cái ghế đó cũng chính là vị trí thường trực HĐBA đầy quyền lực hiện giờ. Lúc ấy TQ hoan nghênh can thiệp. Nhưng lại lên án can thiệp khi Mỹ hỗ trợ Đài Loan chống lại các biện pháp thống nhất bằng vũ lực của TQ. Sẽ không thể được cộng đồng quốc tế tôn trọng nếu chỉ ủng hộ một loại biện pháp nào đó khi có cơ hội cho mình và phản đối khi có bất lợi. TQ nghĩ mình khôn ngoan trong khả năng sử dụng ngôn từ, nhưng chính điều này khiến thế giới đánh giá họ không cao. Can dự bằng ngoại giao, kinh tế, quân sự, dư luận… là điều không thể tránh khỏi, là đặc trưng của thế giới toàn cầu hóa. Các nước phải biết sử dụng nó và vận dụng nó làm lợi cho mình, và hạn chế bất lợi của nó. Vì vậy, nó cần được đòi hỏi và đánh giá theo luật pháp quốc tế, chuẩn mực quốc tế. Nguyên tắc không can thiệp của ASEAN chỉ tự ngăn chặn mình sử dụng một cách thức cần thiết, nhưng lại không ngăn chặn được các cường quốc đang sử dụng nó. Khi thiết lập một cộng đồng thì rõ ràng là vấn đề của một nước sẽ ảnh hưởng nhiều đến nước khác. Nếu cộng đồng ASEAN chỉ xem đó là vấn đề nội bộ của nước đó và chờ mong sự đồng thuận để giải quyết vấn đề thì cộng này chỉ có thể suy yếu dần chứ không thể mạnh lên được.

Con hiểu các nước ASEAN đã tránh né một vấn đề khó. Nếu xem cách can dự là một nguyên tắc của mình thì phải xây dựng những chuẩn mực và luật lệ để điều chỉnh nó. Điều này là bất khả thi trong hoàn cảnh của ASEAN: không thể tìm được sự đồng thuận trong một đề tại mà trước đây được xem là nhạy cảm, chính là QCN. QCN chính là chuẩn mực và luật lệ nói trên. Cộng đồng châu Âu (EC) được thành lập trên nền tảng và mục tiêu là QCN. EC sau này phát triển thành Liên Hiệp Châu Âu (EU) cũng với nền tảng và mục tiêu không đổi là QCN. Tất cả mọi chuẩn mực và luật lệ của EU đều được xây dựng trên nền tảng và mục tiêu là QCN. Liên hiệp châu Phi (AU) không có mục tiêu này nên đây chỉ là một liên kết rời rạc trên danh nghĩa, chẳng tạo ra được sự tiến bộ gì cho mình hoặc sự ảnh hưởng đến thế giới.

ASEAN thấy rõ một nhu cầu tối quan trọng là có một cộng đồng vững mạnh để tập hợp sức mạnh cùng nhau phát triển, cùng nhau bảo vệ mình và cùng nhau tạo ra ảnh hưởng cho thế giới. Nhưng ASEAN lại không vượt qua được chính những rào cản mà mình tạo ra. Cơ hội tuyệt với cho VN chính là ở chỗ này. Nếu VN phất ngọn cờ QCN, đột phá về QCN bằng QCN thì VN tự động trở thành ĐIỂM CÂN BẰNG của DÒNG CHẢY THỜI ĐẠI QCN, lan tỏa khắp ASEAN và xóa bỏ mọi rào cản của cộng đồng ASEAN mà trước đây không thể nào vượt qua được. Lúc đó ASEAN mới thực sự trở thành một cộng đồng và lớn mạnh trở thành một trung tâm quyền lực của châu Á TBD. Sự can dự của nước ngoài vào cộng đồng này sẽ làm nó càng lớn mạnh hơn, hoàn toàn có thể phát triển thành cộng đồng châu Á Thái Bình Dương rồi Liên Hiệp Châu Á Thái Bình Dương (Pacific Asean Union – PAU). EU đã được hình thành từ những bước đi cụ thể của QCN như thế, chỉ có QCN mới có thể sắp xếp và xóa nhòa đi những khác biệt mà lúc đầu ít tai dám nghĩ đến. Giờ nó là ngôi nhà chung của những dân tộc đã từng có lịch sử thù địch căng thẳng mấy trăm năm, đánh giết nhau không biết bao nhiêu lần mà đỉnh điểm là hai cuộc Đại Thế Chiến. Những khác biệt và xung đột ở châu Á Thái Bình Dương chẳng là gì so với châu Âu thời đó. QCN là điểm chung không thể thay thế. Ở EU, QCN là tối thượng.

Cộng đồng tiến tới Liên Hiệp Châu Á TBD là sự bảo đảm vững chắc cho hòa bình và thịnh vượng cho khu vực này và cho cả thế giới. VN sẽ hưởng lợi nhiều nhất và tạo ra được những thành tựu có giá trị như con đã nêu trong các thư trước. Con tin là VN sẽ phát triển theo tầm nhìn này, ta có thể gọi là TẦM NHÌN QCN. Hướng theo tầm nhìn đó là dân tộc mình sẽ dễ dàng gắn kết trong sự khác biệt, bỏ lại sau hận thù và thay đổi tâm thức chiến tranh vốn còn rất phổ biến trong lòng người Việt như con đã viết trong thư 19.

Tâm thức chiến tranh không làm nên sự vĩ đại

Vietnam-has-nothing-to-show-except-wars-588x1024

“Vietnam has nothing to show except wars” tạm dịch “Việt Nam chẳng có gì ngoài chiến tranh” – Nguồn từ một forum giải trí nổi tiếng trên thế giới – Nguồn 9GAG

Lúc 8, 9 tuổi con đã thấy nhiều cuốn sách nói rằng chiến tranh là một tất yếu, là một sự cần thiết để phát triển thế giới. Con biết đến học thuyết Nhân Mãn của Malthus vào thời đó, từ một cuốn sách trong tủ sách của ba: “Những tư tưởng làm biến đổi nhân loại” Ba còn nhớ không? Trong đó nói đến luật vạn vật hấp dẫn của Newton, học thuyết nhân mãn của Malthus, chủ nghĩa cộng sản của KarlMax, cuộc chiến đấu của tôi của Hitler và một số cái khác nữa, con không nhớ nhưng con nhớ rõ là cuốn sách đó cổ vũ cho chiến tranh. Con cũng nhớ rõ cảm giác bất đồng của mình lúc đó. Đấy chỉ thuần túy là cảm xúc tự nhiên, ở tuổi ấy con cũng không thể hiểu được những lý luận sách viết và cũng chẳng thể có được những lý luận gì của mình. Nhưng càng lớn những gì con đã đọc được nghe được hầu hết không ủng hộ cảm xúc đó của mình. Khi trở thành doanh nhân, thương trường không chỉ dạy con mà còn ép con hành xử theo phương châm “thương trường là chiến trường”. Phải khó nhọc lắm mới thoát được khỏi nó và giữ được cho mình một con đường kinh doanh “cùng nhau thắng” (win-win). Với bối cảnh và lịch sử của Việt Nam thì tâm thức chiến tranh phổ biến là điều không thể tránh được. Vấn đề đáng quan tâm là nó vẫn tiếp tục phát triển, gây bất lợi cho sự phát triển của đất nước. Hồi cuối tháng 9 năm nay, VTV1 đưa tin “tuần lễ văn hóa Việt Nam tại Hà Lan” và phỏng vấn vài người Hà Lan ở đấy. Người ta đã trả lời rằng trước giờ họ chỉ biết đến VN là một đất nước chiến tranh, chiến đấu anh dũng chống ngoại xâm với nhiều người anh hùng bất khuất. Nhờ tuần lễ này mà họ mới biết rằng VN đã có hòa bình lâu rồi và đang phát triển.Con gặp rất nhiều người hiểu biết tương tự như vậy về VN khi ra nước ngoài. Con tìm hiểu và biết nguyên nhân không chỉ là sự thiếu thông tin mà còn là sự cảm nhận của người nước ngoài từ cách hành xử của người Việt. Sự hiểu biết như thế không thể giúp nâng cao giá trị dân tộc mình.

Ồ! Con vừa nghe gà gáy. Vậy là đã bước qua năm 2015 rồi, trời cũng đã trở lạnh hơn bình thường. Nãy giờ con mãi viết mà không để ý thời gian. Chúc mừng năm mới cả nhà thân thương, chúc mọi người thật khỏe mạnh và toại nguyện. Con sẽ cố gắng mang đến điều mà mọi người nha mình mong ước. Năm mới hạnh phúc, sáng mai con sẽ viết tiếp đề tài trên.

1/1/2015 Sáng nay con không viết vì con xem chương trình Dấu Ấn 2014 trên VTV1. Hôm nay lễ nên ở đây mở TV ban ngày. Chương trình này khá hay, con ấn tượng nhất là QCN được chọn là dấu ấn trong năm 2014. Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng (Văn phòng quốc hội) nhận định rằng QCN đang trở thành một vùng chủ lưu tạo nên một nền tảng cho người dân hoạt động và cho nhà nước vận hành cơ quan công quyền. Con tin rằng trào lưu mềm này đang vận hành và sẽ lớn mạnh nhanh thôi vì nó thuận theo quy luật, như nước chảy về trũng. Các biên tập viên VTV thực hiện chương trình này đã thấy được QCN là nền tảng phát triển lâu dài. Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng đánh giá rằng các quyền biểu tình, bày tỏ chính kiến, lập hội đang được thể chế chế hóa thành luật chứng tỏ QCN đang dần trở thành nhận thức và hành động trong xã hội, và đây là sự phát triển đúng đắn nhất, con người nhất. Ông ấy cũng nhắc đến cuộc “Minh Trị Duy Tân” của Nhật và bày tỏ ước vọng Việt Nam không thể mãi là “công dân hạng hai” của thế giới. Con cũng thấy được trong năm qua những khát vọng và nhận thức nảy mầm từ QCN ngày càng sinh sôi nhiều hơn, sức sống mãnh liệt hơn. Hạt giống QCN ngày càng sinh sôi nhiều hơn, sức sống mãnh liệt hơn. Hạt giống QCN nảy nở trong con người là một quy luật hiển nhiên không có gì ngăn cản được. Sẽ không lâu nữa những khát vọng ấy sẽ tuôn trào thành một dòng chảy lớn mạnh, đưa Việt Nam đến thịnh vượng và văn minh, một nền văn minh tri thức – VĂN MINH QUYỀN CON NGƯỜI. Còn vô số việc đất nước phải làm, nhưng tất cả đều bắt đầu từ QCN và hướng đến QCN. VN đang đi đúng hướng dù còn rất nhiều rào cản.

Cả nhà đừng quá lo cho con, con thấy rõ là mình đang đi đúng đường và con đường ấy đang sáng dần lên. Vài năm tù với con như vài khoảnh khắc. Con hiểu được thuyết tương đối nên biết cách làm thời gian ngắn lại. Con hiểu tâm trạng mong mỏi của gia đình. Nhưng đừng trông chờ, hãy cứ vững tin. Đó là bí quyết của con để thấy thời gian trôi mau. Nhà mình thử xem. Ngày mai con sẽ viết tiếp. Tối nay con thả lỏng, xem chương trình chào 2015 trên VTV1. Lâu rồi không nghe nhạc.

2/1/2015 Con viết tiếp về tâm thức chiến tranh. Con đưa ra một ví dụ sau đây chắc ba sẽ giật mình. Hồi 7-8 tuổi, nghe cái tên Hoa Thịnh Đốn con hỏi ba là ai. Ba viết cho con đúng cái tên tiếng anh của ông ấy là Gorge Washington và kể cho con đó là một vị tướng đã giải phóng và giành độc lập cho nước Mỹ rồi trở thành tổng thống đầu tiên của nước này. Lớn lên con đọc rất nhiều sách về ông ấy, về những cuộc chiến cam go của ông ấy với quân Anh. Tất cả những sách đó đều khẳng định những nội dung giống nhau là nhờ những chiến công vang dội ấy mà ông trở thành tổng thống. Nên con chẳng nghi ngờ gì về điều này cả.Khi lớn ai hỏi con về Washington thì con đều kể cho mọi người nghe như vậy. Khi con nghiên cứu về hiến pháp Mỹ thì con mới phát hiện ra sự khiếm khuyết về mặt hiểu biết của mình về tiểu sử của ông ấy. Lúc đó là năm 2003, con đã 37 tuổi rồi. Cuộc chiến Anh tiến hành đàn áp người Mỹ tuyên bố độc lập năm 1776 kéo dài mấy năm. Cuối cùng Anh thất bại bởi một trận đánh nổi tiếng của Washington. Uy tín của ông cũng nổi lên từ đó. Nhưng cả một thành tựu lớn giành độc lập cho Mỹ là do nhiều người, chứ không phải Washington đóng vai trò quyết định theo kiểu mà một lãnh tụ khởi nghĩa mà các sách TQ và VN viết về ông. Sau khi thắng Anh, Mỹ thành lập một chính quyền hiệp bang (Confederation) với 13 bang đầu tiên. Mô hình này bộc lộ vấn đề nghiêm trọng. Xã hội Mỹ thời đó rất rối loạn, nơi thì tự do vô chính phủ, nơi thí chủ nghĩa dân túy bùng lên với rất nhiều kiểu mị dân. Những cuộc khởi nghĩa chống chính quyền vì bất mãn cũng bắt đầu nhen nhóm. Phản đối thuế và các chính sách cộng đồng trở nên phổ biến tới mức tạo ra những thái độ ghét bỏ chính quyền. Các kiểu hoạt động chính trị bè phái, cục bộ địa phương nổi lên chi phối chính trường. Sự xâm phạm QCN xảy ra nhiều nơi trong khi nhiều nơi khác thì “đòi tự do hơn” phát triển đến mức không kiểm soát nổi. Nói chung là thực trạng mà những người có quyền lực và suy nghĩ trực quan, thiếu hiểu biết luôn dẫn đến sự thiết lập một chế độ độc tài để chống lại những nguy cơ trên mà họ nghĩ là đe dọa đến lợi ích an ninh quốc gia. Nhưng điều này đã không xảy ra ở nước Mỹ. Những người có trách nhiệm và hiểu biết đã nhìn thấy được nguyên nhân gốc của mọi vấn đề là chính quyền hợp bang không phải là thiết kế một nhà nước tốt để đáp ứng được yêu cầu “Của dân, do dân và vì dân”. Họ đã thành lập Hội nghị Lập Hiến nhằm thiết kế được một nhà nước vững mạnh đáp ứng được nhu cầu trên. Và họ đã thuyết phục được tướng Washington làm chủ tịch hội nghị này, lúc đó ông đang làm chủ nông ở đồn điền rộng lớn của mình. Sau chiến tranh, ông không giữ vai trò gì trong chính quyền Hợp Bang và cũng không ở lại quân đội. Hội nghị lập hiến bắt đầu tháng 5/1787 nhưng bị nhiều lãnh đạo quân sự nổi tiếng trong cuộc chiến giành độc lập tẩy chay. Họ không chỉ nổi tiếng trong đánh trận mà còn gây chú ý bởi những khẩu hiệu nghe rất chiến tranh, kiểu như “tự do hay là chết”. Nhưng nhờ họ tẩy chay mà hội nghị này được tham gia bởi những người không có hoặc có ít tâm thức chiến tranh. Diễn ra trong 4 tháng tập trung căng thẳng tranh luận không hạn chế và cả nể, cuối cùng hội nghị đã ra được bản dự thảo hiến pháp mà sau đó thành hiến pháp nước Mỹ dùng tới ngày nay. Nó đưa nước Mỹ vượt qua mọi thử thách khắc nghiệt nhất và phát triển, đứng vững trước mọi biến động trong nước và thế giới hơn 200 năm nay. Học giả trẻ tuổi James Madison được gọi là cha đẻ của Hiến Pháp Mỹ vì đã đóng góp và bảo vệ thành công những nguyên tắc thiết kế chính, đồng thời là người vận động tích cực để thuyết phục người dân thông qua. Nhưng chính Washington mới là người có đóng góp quan trọng bậc nhất trong hội nghị lập hiến, đó là vì ông gần như không đưa ra ý kiến riêng mà chỉ đảm bảo cho mọi đại diện tham gia được thực hiện quyền trình bày và bảo vệ quan điểm của mình tới cùng nhằm tìm được phương án tối ưu và được chấp nhận. Phương án này đã trở thành một thiết kế điển hình của nhà nước Pháp Quyền trên thế giới mà sau này EU đã học theo rất nhiều để thiết kế liên hiệp này. Chính nhờ hiến pháp này mà nước Mỹ non trẻ nhất thế giới lại trở nên hùng mạnh nhất thế giới. Vì vậy mà giá trị của nó vượt xa các cuộc chiến giành độc lập. Không có nó thì nước Mỹ giờ đây không khá gì hơn các nước Mỹ Latin trải qua hàng trăm năm độc tài và chậm tiến hoặc cũng có thể tan rã 13 bang ban đầu và bị xâm chiếm chỉ sau một thời gian ngắn giành độc lập. Hiến pháp chứa đựng tinh hoa trí tuệ Mỹ vượt hẳn so với nhiều nước nếu không muốn nói là phần còn lại của thế giới thời đó, chứ không phải là những chiến công vốn vẫn na ná nhau. Trí tuệ chiến trường đã có từ lâu và ở nhiều nước, của Mỹ chắc gì đã vượt trội so với các cường quốc thời đó mà phát huy. Những người thắng trận thường không vượt qua được chính mình ở chỗ này nên ít tao ra được những thành tựu to lớn và bền vững. Washington đã vượt qua được nên ông vĩ đại. Giá trị và thành tựu của ông chính từ việc lập hiến, nhờ đó ông được lập làm tổng thống đầu tiên của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, chứ hoàn toàn không phải do những chiến công của ông

George-Washington

Giá trị và thành tựu của George Washington chính từ việc lập hiến, nhờ đó ông được lập làm tổng thống đầu tiên của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, chứ hoàn toàn không phải do những chiến công trên chiến trường

Các nhà nghiên cứu, viết sách của TQ và VN ngày xưa vì bị tâm thức chiến tranh ngự trị nặng nề nên đã không nhìn được giá trị này của Washington và giá trị của Hiến Pháp Mỹ. Họ chỉ bị ấn tượng với những chiến công và cho rằng chính vì vậy mà Mỹ được độc lập, và chỉ cần “giải phóng dân tộc” như vậy mà Mỹ thịnh cường. Vì vậy mà họ bỏ qua những chi tiết mà họ không coi trọng. Việc này cũng có thể xuất phát từ bối cảnh lịch sử. Đầu thế kỉ 20 là lúc Trung Quốc bắt đầu du nhập nhiều tư tưởng phương Tây bởi các học giả và các nhà cách mạng muốn lật đổ triều đình Mãn Thanh. Những người bạn Trung Quốc của con cho rằng như thế mà họ dịch và viết rất nhiều sách về những hình tượng anh hùng chiến trường để cổ vũ cho cuộc đấu tranh của mình. Bỏ qua những chi tiết không phục vụ cho mục đích của họ là chuyện dễ hiểu. Con nghĩ đây cũng có thể là điều đã xảy ra tương tự ở VN. Hơn nữa, trước năm 1975 con thấy nhiều sách Việt Nam được biên soạn từ sách Trung Quốc, nhiều sách tiếng Anh được dịch ra tiếng Việt từ bản dịch tiếng Hoa. Con hỏi nhiều người trung quốc về Washington, không ai không hiểu giống con trước 37 tuổi. Ba thử hỏi có mấy người ở Việt Nam mình xem có bao nhiêu người hiểu đúng. Con chắc là dưới 10%.

Người ta biết nhiều và học theo bản Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ nhưng chẳng quan tâm và học hiến pháp của họ về bản chất. Nhiều nước chỉ bắt chước các mô thức, tên gọi của nó để xây nên những nhà nước mà cuối cùng là độc tài và lạc hậu. Chính tâm thức chiến tranh đã làm người ta tự nhiên ( một cách vô thức) chỉ thấy những giá trị và giải pháp quân sự và cường điệu chúng, đồng thời bỏ qua thậm chí xem thường các giá trị và giải pháp khác. Có một số người VN thậm chí TQ sau khi nghe con kể về giá trị “hòa bình” của Washington và hiến pháp Mỹ, đã thừa nhận rằng họ đã từng đọc được như thế ở đâu đó nhưng chẳng ấn tượng gì nên chỉ nhớ đến ông ấy với những chiến công giải phóng dân tộc. Tâm thức chiến tranh ngự trị trong lòng người thực sự là một mối nguy hại. Ngay cả sống trong hòa bình nó vẫn khiến người ta tôn vinh chiến tranh và bạo lực, ngưỡng mộ các hình tượng sức mạnh và cách thức dùng sức mạnh để đạt được mục đích của mình, kể cả chèn ép những người yếu và luồng cuối những kẻ mạnh. Vì vậy sự nguy hại nhất chính là người ta khó nghĩ được đến các giá trị và các giải pháp bằng tri thức, lại càng không nghĩ đến sự vận động tự do bình đẳng. Tâm thức chiến tranh dẫn đến văn hóa “thượng đội hạ đạp” xã hội vì thế không thể tránh khỏi những vấn nạn và lạc hậu.

thuong-doi-ha-dap

Tâm thức chiến tranh dẫn đến văn hóa “thượng đội hạ đạp” xã hội vì thế không thể tránh khỏi những vấn nạn và lạc hậu.

Xóa bỏ “tâm thức chiến tranh” để đi lên và phát triển

3/1/2015 Phát triển theo TẦM NHÌN QCN sẽ bỏ được tâm thức chiến tranh. Việc này không khó hiểu nhưng lập luận khá dài, dịp khác con sẽ viết. Quan sát quá trình phát triển của Mỹ, Nhật ta cũng sẽ dễ dàng thấy rõ nhận định này. Tâm thức chiến tranh là điều không tránh khỏi ở Mỹ trong bối cảnh lịch sử lập quốc của họ. Chỉ vài năm sau khi kết thúc chiến tranh với Anh, trong lòng nước Mỹ đã nổ ra cuộc khởi nghĩa nông dân do Daniel Shays phát động. Khi hội nghị lập hiến diễn ra thì cuộc khởi nghĩa này đã lan rộng rồi. Nếu không có bản Hiến Pháp Mỹ ra đời thì theo lẽ thường, sau khi cuộc khởi nghĩa bị dập tắt thì chính quyền Mỹ sẽ thiết lập một sự kiểm soát độc đoán nhằm ngăn chặn những nguy cơ tương tự. Nền độc tài sẽ hình thành từ đó, không sớm thì muộn vì không có nó thì bạo lực, vũ trang sẽ không bao giờ tắt. Hiến pháp Mỹ đã tạo ra một không gian tự do cho từng người được vận động mọi lợi ích cho mình trừ bạo lực và bằng bạo lực. Người ta dễ dàng đạt được mục đích của mình một cách hòa bình nên mọi mầm mống bạo lực nhanh chóng bị triệt tiêu- tâm thức chiến tranh sẽ bị gỡ bỏ. Tâm thức này ở Mỹ giờ chỉ con tồn tại trên phim ảnh, trên các võ đài wrestling,… như một cách giải trí để cân bằng với thực tế thiếu vắng bạo lực thôi. Tâm thức chiến tranh trong người dân là chỗ dựa vững chắc cho các nhà độc tài nên những kẻ này luôn khơi dậy tâm thức đó. Vì thế mà Putin chú trọng quảng bá hình ảnh của mình như một người hùng, đai đen nhu đạo, tổng thống lái máy bay chiến đấu, và nhiều hình tượng “cơ bắp” khác để tạo ra sự tôn sùng một hình ảnh hiên ngang bất khuất trước kẻ thù. Những người như vậy rất sợ người dân có tâm thức hòa bình vì lúc đó họ sẽ thấy hình ảnh như thế thật nực cười, chẳng ích gì cho một nguyên thủ giỏi vốn phải cần sức mạnh trí tuệ. Ở Mỹ, Nhật, đi tranh cử mà khoe mình biết võ, biết cầm sung, lái máy bay thì rớt chắc từ vòng đầu.

Cũng chính QCN đã giúp người Nhật sám hối sau chiến tranh thế giới thứ 2, từ một dân tộc hiếu chiến trở nên hòa bình và đầy lòng nhân ái. Con đã kể sơ qua câu chuyện này trong thư 21A. Cốt lõi làm sao là để con người có được một xã hội tự do để vận động cho mọi lợi ích của mình. Bài học của Nhật cung cấp nhiều kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay. Lúc ban đầu luật biểu tình của họ được thiết kế để hạn chế hiệu quả khả năng xảy ra bạo lực nhưng vẫn đảm bảo người dân có thể dùng quyền biểu tình để biểu đạt, vận động cho những gì mình mong muốn. Sự hạn chế ấy được nới lỏng dần theo mức độ giảm tâm thức chiến tranh trong suy nghĩ của dân Nhật. Nước Nhật bây giờ có lẽ là nơi có biểu tình ôn hòa và văn minh nhất thế giới, có khi còn hơn hẳn Mỹ. Điều quan trọng là phải luôn đảm bảo cho người dân thực hiện quyền của mình, chứ không phải là cấm. Càng cấm thì tâm thức chiến tranh càng tích tụ.

Ở VN mình, tâm thức chiến tranh chẳng có lợi gì, kể cả trong bảo vệ tổ quốc. Nó làm cho lòng yêu nước chỉ trỗi dậy khi có chiến tranh hoặc nguy cơ xâm lược thể hiện. Còn bình thường người ta hành xử với nhau bằng văn hóa của nó – thượng đội hạ đạp, vô hình trung gây tổn hại cho đất nước. Tiềm lực quốc gia vì thế mà chẳng thể mạnh, lúc nào cũng có thể bị đe dọa chủ quyền. Nếu tâm thức chiến tranh vẫn tiếp tục phổ biến ở VN thì chỉ có TQ có lợi. Họ, chính quyền TQ hiện nay không bao giờ muốn VN mạnh lên vì như vậy họ sợ không hoàn thành được tham vọng “cường quốc biển” của họ. Nếu như tâm thức chiến tranh điều khiển quyết định của quốc gia thì VN sẽ dễ dàng mắc bẫy của TQ, tạo cớ cho họ sử dụng bạo lực. VN đã xử lý đúng đắn vụ HD-981 nhưng con tin là sẽ còn những vụ khác nữa mà TQ sẽ chuẩn bị kĩ càng hơn. Những áp lực từ tâm thức chiến tranh không ủng hộ những cách xử lý như vậy. Sự tức giận tận cùng với tâm thức này sẽ khiến người ta chỉ muốn ăn miếng trả miếng mà không bao giờ đủ tỉnh táo để nghĩ đến hậu quả. Vì thế mà họ chẳng thấy vừa lòng với những quyết định sáng suốt, chỉ muốn đối đầu căng thẳng với Trung Quốc ít ra là trên mặt ngoại giao nếu không có đủ sức đối đầu quân sự. Đó là tâm trạng tự nhiên của tâm thức chiến tranh. Nhưng nó đã chi phối Ucraina, tạo nên tâm trạng chung của số đông dẫn đến sự bài Nga nên tạo cớ cho Putin huy động tâm thức chiến tranh của dân Nga và gây ra vấn đề Crime và miền Đông Ukraine. Tâm thức chiến tranh ở nước này vì vậy càng dâng lên, nước Nga cũng thế. Hậu quả là một sự đỗ vỡ toàn diện quan hệ, nổ ra chiến tranh, gây thiệt hại nặng nề cho người dân hai nước. Một khi tâm trạng như trên lan rộng thì ngay cả những người lãnh đạo tỉnh táo cũng khó mà đi ngược lại được. Những người đứng đầu chính quyền Ukraina hậu Yanukovich nếu không nhìn thấy nguồn gốc của vấn đề và bắt đầu từ việc tạo ra một tâm trạng tích cực trong xã hội hướng đến những giải pháp hòa bình để xây dựng và bảo vệ đất nước, thì họ sẽ còn lún sâu vào khủng hoảng và việc lấy lại được chủ quyền đã mất càng khiến họ tăng chi tiêu quân sự. Cái vòng luẩn quẩn như vậy đang có cơ hội xảy ra ở Ukraine khi họ đang dự kiến tăng đôi ngân sách quốc phòng trong năm nay trong lúc đầu tư cho kinh tế thì phải vay mượn hàng chục tỷ USD. Cái vòng luẩn quẩn ấy hoàn toàn có thể biến thành vòng xoáy nhấn chìm nước này.

 ĐIỂM CÂN BẰNG hay ĐIỂM XUNG ĐỘT – bài học từ Ukraina

4/1/2015 Con vừa xem xong chương trình toàn cảnh thế giới VTV1 nói vui rằng Ukraine đã thực hiện chính sách cân bằng Đông –Tây bằng việc chia lãnh thổ phía Đông theo Nga và phía Tây theo phương Tây. Nhưng đây là một thực tế đắng cay chẳng vui chút nào cho bất kì nước nào. Thực tế này chứng minh thêm cho sự cần thiết về một ĐIỂM CÂN BẰNG tại những vị trí địa chiến lược kết nối các xu hướng khác biệt như VN và Ukraine. Vì tính chất tương đồng này mà con đã quan sất rất kỹ Ukraine từ năm 2004 khi họ diễn ra cuộc cách mạng cam. Khi còn ở ngoài con đã nhận định rằng họ đã tự biến mình thành điểm xung đột để thu hút sự tranh chấp nên sẽ nhận lấy hậu quả, tương tự như những gì đã xãy ra ở Đông Nam Á và Việt Nam thời chiến tranh lạnh. Nó như một quy luật thôi nếu không có một giải pháp khoa học để tạo ra sự cân bằng tự nhiên thì xung đột sẽ xảy ra cho dù không có ai muốn đi nữa. Vì vậy mà con chẳng ngạc nhiên gì với hậu quả họ gặp phải bây giờ, nên ngay từ đầu tháng 4 năm ngoái con đã viết cho ba trong bức thư 16A là VN cần tránh xa con đường Uraina. Con đường đó thiếu hẳn TẦM NHÌN QCN. Từ lúc tách khỏi Liên Xô, các cuộc cách mạng và cải cách xã hội của họ hầu như chỉ là sự thể hiện của tâm trạng bè phái số đông theo những sắc màu Đông –Tây, trút giận và tích tụ hận thù lên nhau mà thôi. Hậu quả chiến tranh là không thể tránh khỏi vì bản chất của các cuộc cách mạng và cải cách xã hội như thế là cuộc đấu tranh giành giật lẫn nhau, chứ không phải là sự vận động tự do vì lợi ích. Bản chất như vậy thì dù hình thức là những cách đấu tranh đòi hòa bình cũng chẳng thể có kết quả hòa bình. Khi sự thù hằn đã tích chứa đủ năng lượng thì chẳng ai kiểm soát nỗi những đám đông phun trào. Một số nước thấy sợ hiện tượng này nên cố gắng ngăn cấm nó, càng làm cho nặng lượng tích chứa nghiêm trọng hơn. Chỉ có hiểu rõ bản chất, hướng đến QCN để tạo ra một CƠ CHẾ XÃ HỘI KHOA HỌC thì sự vận động cho tự do của mọi người mới tự động cân bằng các khác biệt và hóa giải xung đột. Đó chính là ĐIỂM CÂN BẰNG đảm bảo cho hòa bình và thịnh vượng. Ukrane trước đây cũng không thiếu những lời kêu gọi phải duy trì hòa bình để phát triển, nhưng lại thiếu chiến lược và những giải pháp hợp quy luật. Mong muốn tốt thì dễ, hầu như ai cũng muốn nhưng rất ít người đạt được. Đó là những người hiểu và tôn trọng quy luật.

Lịch sử thế giới đã có rất nhiều dân tộc muốn xây dựng một nhà nước “của dân, do dân, vì dân” nhưng có ít nước đạt được, hầu hết chỉ nằm trên giấy của các bản tuyên ngôn và hiến pháp. Người Mỹ xác định mục đích đó ngay từ khi giành độc lập nhưng chính quyền hợp bang đầu tiên đã giúp họ tỉnh ngộ và hiểu ra rằng những lý tưởng và lòng nhiệt thành ngây thơ không giúp đạt được mục đích. Họ đã thừa nhận mình khờ dại và bắt tay thiết kế lại một nhà nước “Của dân, do dân và vì dân” bằng một hiến pháp mới. Hiến pháp này đã thành công nhưng điều thú vị là nó hoàn toàn không có cụm từ “của dân, do dân, vì dân”. Nó được thiết kế sao cho bản chất tự nhiên của con người và sự vân hành theo quy luật sẽ dẫn tới được mục đích đó ngày càng tốt hơn. Nó bảo vệ trên hết QCN nhưng nội dung chẳng mấy nhắc đến QCN, khiến cho các nhà vận động nhân quyền lo lắng và yêu cầu chỉ được thông qua hiến pháp nếu cam kết sẽ ban hành Đạo luật về Quyền (Bills of Rights, còn được gọi là tuyên ngôn nhân quyền của Mỹ). Những người thiết kế hiến pháp Mỹ xem QCN là điều mặc nhiên vốn có, là của thượng đế ban cho con người và đã được khẳng định trong tuyên ngôn Độc Lập của họ, chứ không phải của ai cho cả. Họ sợ càng liệt kê thì sẽ càng không đầy đủ nên sẽ vô tình làm thiếu sót QCN. Họ phân tích kỹ bản chất và quy luật để thiết lập nên các thiết chế và quy định sao cho người dân Mỹ được đảm bảo tự do vận động cho mọi loại lợi ích của mình – đây chính là bản chất và mục tiêu của các QCN, chứ không phải dùng những câu khẳng định và những ngôn từ đầy cảm xúc thể hiện sự quyết tâm bảo vệ QCN để đưa vào hiến pháp. Quy luật chỉ vận hành theo những gì tồn tại trên thực tế chứ không phải trên danh nghĩa, chữ nghĩa. Tồn tại trên thực tế nghĩa là sự tồn tại trong ý thức và niềm tin của con người, của mọi người dân. Câu chữ hay đẹp sẽ chẳng có giá trị gì nếu người dân không tin vào nội dung của nó. Tinh thần pháp quyền – QCN tồn tại trong lòng người Anh trong hàng trăm năm phát triển nên họ chẳng cần đến một bản hiến pháp thành văn mà nhà nước và xã hội Anh vẫn vận hành tốt đẹp dựa trên QCN. Các văn bản pháp luật hay ho mà không đi vào được cuộc sống thực tế của người dân, không những không tạo ra giá trị tốt đẹp mà còn gây ra nhiều vấn nạn. Nghiêm trọng nhất là làm dân mất niềm tin vào pháp luật.

Cần có sự ĐỘT PHÁ NIỀM TIN trong lòng dân

thuong-uong

Thương Ưởng – Người ban hành chính sách Pháp Trị cho nhà Tần

5/1/2015 VN mình đang có xu hướng đúng về QCN. Nhưng phải có một sự đột phá niềm tin, làm cho người dân bùng nổ tin tưởng vào QCN, vào sự bảo vệ của pháp luật đối với QCN thì QCN mới trở thành một dòng chủ lưu thúc đẩy mọi cải cách tốt đẹp của xã hội. Chỉ khi đó con người mới vừa là mục tiêu vừa là động lực của mọi sự phát triển.Có một truyền thuyết về sự đôt phá niềm tin vào pháp luật do Thương Ưởng thực hiện ở nước Tần thời Đông Chu Liệt Quốc. Thời đó nước Tần là một chư hầu nhỏ bé, Thương Ưởng đã thuyết phục thành công vùa Tần áp dụng pháp trị thay cho nhân trị. Ông ấy giúp vua Tần xây dựng luật pháp với nguyên tắc bình đẳng cho mọi người, từ dân thường đến quý tộc, vương gia. Ai vi phạm pháp luật cũng đều phải xử theo pháp luật, ai làm tốt cũng được thưởng theo pháp luật.Khi luật pháp như thế được ban hành, chẳng ai tin vào nó, mọi người chỉ nghĩ đó là nói cho vui tai. Để đột phá niềm tin vào nó, Thương Ưởng đã chôn một cái cột giữa chợ và nói rằng ai đó bứng nó lên được sẽ thưởng nhiều vàng. Nhiều ngày trôi qua chẳng ai dám động đến nó vì nghĩ đây là một cái bẫy. Nhưng rồi cũng có một người liều mạng làm được và nhận được nhiều vàng. Câu chuyện lan truyền và dân Tần bắt đầu tin vào luật pháp. Nước Tần nhanh chóng giàu mạnh, tiến tiến nhất trong các chư hầu. Về sau Thương Ưởng còn dám xử theo luật, xeo tai thái tử kế vị vua Tần. Niềm tin đột phá càng mãnh liệt. Nước Tần ngày càng lớn mạnh và thống nhất các chư hầu thành TQ rộng lớn nhờ bắt đầu từ Biến Pháp Thương Ưởng là một sự thật, không phải truyền thuyết. Truyền thuyết nói trên là để cho người dân dễ hiểu, dễ nhớ. Thực tế là Thương Ưởng đã thực hiện rất nhiều biện pháp để xóa bỏ sự sợ hãi, thay bằng niềm tin tích cực vào pháp luật. Nếu không có sự đột phá này thành công trong vài năm đầu thì luật pháp Thương Ưởng làm ra sẽ đi ngày vào quên lãng. Niềm tin vào nó sẽ chẳng bao giờ tốn tại. Lúc đó nếu có ai muốn cải cách pháp trị mới, hẳn sẽ vô cùng khó khăn, gần như là vô vọng.

thuong-uong-bien-phap

Để đột phá niềm tin, Thương Ưởng đã chôn một cái cột giữa chợ và nói rằng ai đó bứng nó lên được sẽ thưởng nhiều vàng

Tâm lý đám đông từ ngàn xưa là như vậy, đến ngày nay vẫn thế, chẳng có mấy thay đổi, giống nhau ở bất kỳ nơi nào dù phương Đông hay phương Tây, giàu hay nghèo, sang hay hèn,… Con nghiên cứu khá kỹ tâm lý học đám đông và quan sát nhiều hiện tượng từ Âu sang Á, xưa đến nay đều thấy đặc tính nổi bật như trên. Trong tất cả các lĩnh vực từ kinh doanh đến chính trị đến nghê thuật, đám đông mà thích một sản phẩm, một chính sách hay một bộ phim, bài hát thì thích ngay, tin ngay. Và tâm trạng đó sẽ lây lan ra rất nhanh. Số lượng thích từ từ, tin từ từ là vô cùng nhỏ và không tạo ra được sự lan truyền. Internet, mạng xã hội ngày nay làm cho đặc tính này càng thái quá chứ không hề giảm di J. Điều thú vì là những người thích và tin từ từ thường lại là những người có khả năng dẫn dắt tâm trạng đám đông. Lịch sử mấy ngàn năm TQ, có vô số cuộc biến pháp thất bại, chỉ có ít cái thành công như của Thương Ưởng. Lịch sử châu Âu cũng vậy. Nguyên nhân chính là ở chỗ có đột phá niềm tin được hay không. Những sản phẩm, dịch vụ bùng nổ tiêu dùng toàn cầu ngày nay là nhờ các công ty biết khai thác triệt để đặc tính này của đám đông. Nhờ mạng Internet, hiệu ứng đám đông ngày càng ghê gớm.

Phê phán đặc tính này thì chẳng để làm gì, chống lại thì càng không thể và phản tác dụng. VN cần tận dụng nó để kiến tạo nên một sự đột phá niềm tin tích cực cho xã hội dẫn đến sự bùng nổ phát triển cho đất nước. Cơ hội đang đến nhưng không đứng lại để chờ mà sẽ trôi qua rất nhanh. Con vừa đọc bài viết “đón bắt thời cơ, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đưa đất nước tiếp tục tiến lên” của ông Trương Tấn Sang trên báo nhân dân 1/1/2015, có viết rằng: “…hoặc là tụt hậu bị bỏ rơi, hoặc là tiến lên bắt nhịp cùng thời cuộc”. Ông ấy cũng nhắc nhiều đến nguy cơ bị xâm chiếm biển đảo, chủ quyền quốc gia và kêu gọi 90 triệu dân nguyện làm hết sức mình, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tổ quốc. Những nguy cơ ông ấy nói là quá rõ và cũng đang đến gần. Nhưng chúng ta không thể thắng TQ bằng tâm thức chiến tranh. Họ cần nó nhưng chúng ta thì không. Chúng ta không thay thế nó bằng tâm thức hòa bình nhanh chóng thì cơ hội sẽ vụt qua và nguy cơ sẽ ập đến. Muốn vậy VN cần có cách đột phá niềm tin, đồng thời phải tránh mọi nguồn góc tạo ra sự sợ hãi mơ hồ theo cách là TQ làm như con đã viết ở trên. Bài viết của ông Sang đã không đề cập đến những nguy cơ mơ hồ như thế, chỉ nói rõ ràng hai nguy cơ là tụt hậu và chủ quyền biển đảo bị đe dọa . Cũng trên báo ND 1/1/2015, có bài viết của ông Phạm Bình Minh, viết rất hay: “Dòng chảy của thời đại rất nhanh và nghiệt ngã, không đợi bất cứ ai. Biến thách thức thành cơ hội, quyết không bỏ lỡ thời cơ, không để đất nước lỗi nhịp với bước tiến của khu vực và thế giới”. VN cần một chiến lược đột phá niềm tin hơn bao giờ hết và phải thành công trong năm nay thì mới đạt được mong ước trên. Ngay sau đó chúng ta sẽ tiến rất nhanh và vượt qua TQ bỏ lại sau những nguy cơ từ họ và để họ tự gậm nhắm tâm thức chiến tranh của mình. Khi họ tỉnh ngộ thì cũng phải theo dòng chảy của thời đại thôi. Nhưng từ giờ đến đó, để chắc chắn có hòa bình thì phải phòng vệ tập thể giống Nhật thôi. Đọc bài của ông Minh, con cảm nhận rằng VN sẽ sớm đi đến những hiệp ước,hợp tác như thế trong vài tháng tới thôi. Ngành ngoại giao VN thấy rất rõ những nguy cơ đe dọa hòa bình của VN và của thế giới từ sự mất cân bằng quyền lực và lực lượng trong khu vực. TQ liên tục tăng cương sức mạnh quân sự trên Biển Đông nên họ thấy mình vượt trội thì không bao giờ bỏ qua cơ hội “tiên hạ thủ vị cường”. Ấy thế mà cuối năm ngoái Tập Cận Bình đưa ra tầm nhìn kêu gọi “người châu Á giải quyết vấn đề của Châu Á”. Ông này nhiều lúc hơi ngây ngô. VN mình đang nắm giữ vai trò rất quan trọng để đảm bảo sự cân bằng vì hòa bình cho cả khu vực. Vì vậy mà phòng vệ tập thể là lựa chọn tối ưu. Giữ quan hệ hữu nghị với Nga là việc khôn ngoan để hạn chế sự siết chặt quan hệ quân sự của Nga với TQ gây bất lợi cho VN. Nhưng những khó khăn của Nga sẽ còn lâu dài nên không thể bảo đảm các hợp đồng vũ khí cho VN mình. Thôi con dừng ở đây. Nhà mình yên tâm nha. Mọi người hãy vui khỏe

Con Thức.

This entry was posted in Thư Xuyên Mộc and tagged , , , , , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s