Thấy gì từ những cuộc cách mạng suy tưởng nổi tiếng trên thế giới (Thư 35B) – Phần 1

Những cuộc cách mạng suy tưởng thay đổi lịch sử thế giới

Những cuộc cách mạng suy tưởng thay đổi lịch sử thế giới

Xuyên Mộc, 14/01/2015

Các con cháu thương!

Hôm qua cậu nhận được hai thiệp chúc sinh nhật của Phát và Kim rồi, vui lắm. Cậu ngắm nghía rất lâu và hình dung xem Kim nắn nót làm thiệp cho cậu như thế nào. 2015 được 2 tuần rồi, tụi con có gì mới, vui chưa? Cậu thì có rất nhiều cái mới trong đầu rồi. Những cái cũ thì cũng còn rất nhiều chưa viết xong cho tụi con. Kiểu này thì mỏi tay dài dài. Tri thức là như vậy đó – là một nguồn vốn vô tận, ta càng xài nó càng nhiều lên chứ không hề mất hay hao mòn đi. Nó còn được nhân lên theo cấp số nhân và tồn tại mãi theo thời gian. Tài nguyên càng khai thác càng cạn kiệt. Tiền càng xài càng mắc nợ. Nhân loại đang tiến tới nền kinh tế tri thức ứng với nền văn minh tri thức. Ở đó, tư duy của con người là nguồn lực chính và đắt giá nhất. Con người vì vậy mà được tôn trọng trên hết, người tài trở thành đối tượng tranh chấp chứ không còn là tranh giành đất đai, nô lệ, tài nguyên như trong nền kinh tế nông nghiệp và công nghiệp. Tụi con hãy nhìn những nơi đã có nền kinh tế tri thức như Google, Microsoft, Apple, Toyota, Nike mà xem họ ưu đãi để thu hút nhân tài về với mình như thế nào. Lương căn bản hơn 200 ngàn USD/năm cho một người là chuyện vô cùng bình thường, tổng thu nhập cho một người tạo ra thành tích tốt trong một năm đến vài triệu USD là chuyện phổ biến. Những hãng kinh tế tri thức như vậy không còn làm công nghiệp nữa. Các dây chuyền lắp ráp của họ được chuyển đến những nước đang phát triển như Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ, … để tận dụng giá lao động rẻ. Cuối năm 2014 cậu xem một phim tài liệu trên VTV về tình trạng những nhà máy gia công cho các hãng Apple, Nike ở Trung Quốc sử dụng lao động trẻ em trong điều kiện làm việc tồi tệ, phải làm đến 60giờ/tuần với mức lương tháng 100-200 USD. Một trăm lao động này nhận chưa bằng một lao động ở các hãng đó. 60giờ/tuần thì chẳng còn thời gian nào để nâng cao trí tuệ, kỹ năng – không có điều kện, cơ hội nào để thay đổi công việc. Cái gì tạo ra sự khác biệt quá lớn như vậy? Tại sao chúng ta không có được mức lương hàng trăm ngàn USD/năm? Sự khác biệt và nguyên nhân đều từ khả năng suy nghĩ của con người, chính xác hơn là SUY TƯỞNG – suy nghĩ và tưởng tượng – tiếng Anh là conceive (think and imagine). Thư 23A cậu đã nói rằng hãy bắt đầu bằng cách mạng suy tưởng. Đây là đề tài cậu chia sẻ lần này.

Đã qua rồi nên kinh tế Nông - Công nghiệp và dịch vụ. Thời đại ngày nay là thời đại của nền kinh tế tri thức

Đã qua rồi nền kinh tế Nông Công nghiệp và dịch vụ. Thời đại ngày nay là thời đại của nền kinh tế tri thức

15/1

Tất cả thành tựu vĩ đại nhất của nhân loại vẫn còn giá trị đến ngày nay đều xuất phát từ các cuộc cách mạng suy tưởng:

A/ Phong trào phục hưng (The Renaissance) chính là một cuộc cách mạng suy tưởng của Châu Âu vĩ đại nhất thế giới. Nó xuất phát từ Ý vào thế kỷ 15 và lan ra khắp lục địa này mãi đến thế kỷ 17. Nhờ nó mà Châu Âu vượt lên thành khu vực thịnh vượng và văn minh nhất thế giới từ xuất phát điểm thua Châu Á. Thành tựu của nó bao trùm từ văn hoá nghệ thuật, khoa học kỹ thuật đến kinh tế, chính trị … Tác động hầu hết mọi mặt trong cuộc sống con người và xã hội Châu Âu. Ngày nay hàng tỷ người du lịch vẫn còn phải say đắm trước những công trình kiến trúc Phục hưng, trước những tác phẩm hội hoạ đầy mê hoặc như La Joconde. Hàng chục triệu người vẫn tìm đọc và xem kịch Shakespear. Tất cả học sinh trên thế giới đều phải học Thuyết Nhật tâm của Copernicus, Galileo, và luật vạn vật hấp dẫn của Newton … Cậu không thể kể hết. Tụi con lên Google mà tìm hiểu Phong trào Phục hưng thì sẽ thấy rằng tụi con đang sử dụng hằng ngày những thành tựu của nó. Lúc nào có dịp du lịch đến Châu Âu thì cũng nhớ phải tận mắt chiêm ngưỡng cho bằng được kiến trúc và hội hoạ Phục hưng nhe hôn. Cậu bị mấy cái này “đánh gục” luôn đó, hèhè.

Ý nghĩa của từ Phục hưng là trở về với sự tốt đẹp. Như cậu đã kể trong các thư trước, thể kỷ 15 là thời kỳ hoành hành của chủ nghĩa phong kiến thần quyền Châu Âu. Quyền lực của Gíao hội Thiên Chúa giáo La Mã khuynh đảo mọi chính trường, các giáo chủ do giáo hoàng bổ nhiệm tại từng quốc gia có quyền lực lấn át cả vua. Giáo hội La Mã áp đặt quan điểm của mình thành pháp lý, đạo lý và chân lý lên con người, xã hội và nhà nước của các nước. Áp đặt thì đương nhiên dẫn đến nhiều sai trái và vấn nạn, giáo hội chính là thứ quyền lực tuyệt đối đứng trên cả xã hội và nhà nước. Do Đó nó cũng dẫn đến sự phản kháng. Có những xu hướng phản kháng bằng bạo lực để lật đổ triều đại phong kiến thần quyền, đã có vài trường hợp thành công nhưng triều đại mới thay thế lại nhanh chóng đi theo vết xe đổ của triều đại cũ vì cái ông vua mới nhận ra rằng tốt nhất là dựa vào quyền lực của giáo hội để tồn tại. Người dân phải đổ bao nhiêu máu nhưng lại tiếp tục chịu đựng bình mới rượu cũ. Phong trào Phục hung cũng là sự phản kháng thần quyền (Theology) nhưng là xu hướng phản kháng bằng suy tưởng. Nó vận động con người trở về với những giá trị tốt đẹp vốn có của Thiên Chúa giáo, không chấp nhận những giá trị Thiên Chúa giáo bị bóp méo và áp đặt bởi giáo hội La Mã thông qua các triều đại phong kiến thần quyền. Mục đích khởi đầu của phong trào là như vậy, nhưng khi nó lan toả mạnh mẽ vào cuộc sống thì nó tạo ra vô số mục đích khác nhau đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người. Đó là lý do nó phát triển nhanh rộng và lâu dài. Chỉ cần suy nghĩ để thấy được những giá trị đích thực vốn có thì tự nhiên con người nhận ra những sai trái của sự bóp méo, áp đặt. Khi đã hiểu ra chân lý đúng đắn thì con người sẽ tự nhiên hành động theo quy luật của nó mà không có bất cứ quyền lực nào có thể ngăn cản nổi. Các thứ quyền lực tuyệt đối vì vậy mà không còn chổ dựa, buộc phải tự điều chỉnh để thuận theo lòng dân – tức dòng chảy của quy luật. Dòng chảy ấy len lỏi vào tất cả mọi lĩnh vực trong cuộc sống, đánh động đến khả năng sáng tạo của con người lâu nay vốn bị xơ cứng vì sự sắp đặt tư tưởng kéo dài. Sự sáng tạo ấy vượt qua mọi giới hạn và thần quyền đặt ra bằng quanh điểm chủ quan của các giáo hoàng, giáo chủ. Sức sáng tạo của con người là vô hạn nên khi nó vượt qua được sự giới hạn của quyền lực chủ quan thì nó tạo ra nhựng thành tựu khổng lồ. Người ta thể hiện đức tin của mình vào Thiên Chúa bằng văn học, nghệ thuật, kinh tế, khoa học và bằng vô số các cách thức khác nhau thông qua cách giao tiếp của mình hàng ngày – tức là bằng chính cảm nhận của mình. Cảm nhận ấy là kết quả của sự tự do suy tưởng của họ về đức tin của họ, chứ không phải là khuôn sáo từ cảm nhận của người khác áp đặt lên họ. Vì thế mà thành tựu sáng tạo mới có giá trị, đa dạng và đáp ứng tốt cho các nhu cầu khác nhau của con người. Thần quyền làm đức tin Thiên Chúa trở nên tiêu cực, khiến con người sợ hãi quyền lực vì sự mơ hồ về sự liên quan của nó với quyền năng của Chúa. Phong trào Phục Hưng làm cho đức tin Thiên Chúa trở thành động lực vô hạn giúp con người tự tin vào chính mình, vượt qua nỗi sợ hãi mơ hồ. Không lệ thuộc vào suy nghĩ của quyền lực mà tự mình suy tưởng để sáng tạo. Sự sáng tạo thăng hoa tột đỉnh nhờ nguồn cảm hứng vô tận từ Thiên Chúa. Do vậy mà thành tựu suy tưởng hết sức rực rỡ.

Phong Trào Phục Hưng diễn ra ở Châu Âu thế kỉ 15 là ví dụ cụ thể cho "Cách mạng suy tưởng"

Phong Trào Phục Hưng diễn ra ở Châu Âu thế kỉ 15 là ví dụ cụ thể cho “Cách mạng suy tưởng”

16/01

Có nhiều trào lưu khác đấu tranh chống thần quyền hồi đó, nhưng ảnh hưởng của phong trào Phục Hưng là sâu rộng và căn bản nhất vì nó giúp thay đổi tận gốc ý thức của người dân và những người cầm quyền Giáo hội La Mã cũng phải chuyển biến, buông bỏ giáo điều và trở về với chân lý đích thực. Nó không đấu tranh để phủ định ai mà chỉ vận động để con người nhận ra được điều tốt đẹp, cái xấu vì vậy mà tự khắc biến đổi. Những người từng làm sai, hiểu ra và lẳng lặng thay đổi. Thay đổi không vì hận thù hay trút giận. Bruno bị lên giàn hoả, Galileo bị xử quản chế vì bảo vệ Thuyết Nhật tâm nhưng họ không vì thế mà đấu tranh xoá bỏ Thiên Chúa giáo. Các nhà khoa học khác cũng vậy, như Newton, chỉ hướng đến bảo vệ chân lý bằng khoa học. Chính Newton khẳng định rằng Thiên Chúa truyền cảm hứng và niềm tin cho sự nghiệp khoa học của ông. Sự nghiệp đó vĩ đại thế nào thì tụi con biết rồi, nổi bật là Luật vạn vật hấp dẫn đã giúp chứng minh một cách khoa học, không thể bác bỏ Thuyết Nhật tâm, làm sụp đổ hoàn toàn Thuyết Địa tâm sai trái của các giáo hoàng, giáo chủ. Newton không nhằm phủ định Thiên Chúa giáo, sự nghiệp của ông còn góp phần tăng thêm các giá trị của tôn giáo này. Các cuộc chuyển mình vĩ đại luôn gắn với những luận thuyết khoa học như vậy đó, khoa học giúp con người khai sáng, đầu tiên là các nhà khoa học, rồi họ truyền ánh sáng chân lý ấy đến cho hàng triệu tỷ người. Xã hội nhờ vậy mới thay đổi sâu rộng, mới tạo ra thành tựu rực rỡ. Một vài con người áp đặt tư tưởng chủ quan của mình cho mọi người, cho dù quyền lực của họ có lớn đến đâu thì cũng không thể tạo nên thành tựu như thế được, mà chắc chắn là lụi tàn. Chủ nghĩa thần quyền tồn tại được là nhờ sự mê muội, giáo điều của con người. Muốn thay đổi nó thì phải bắt đầu từ sự khai sáng cho con người. Chỉ có suy tưởng mới giúp con người khai sáng.

21/01

B/ Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật thế kỷ 19 chính là kết quả của một cuộc cách mạng suy tưởng từ Anh tiếp nối Phong trào Phục hưng. Cũng như các nước Châu Âu khác, nước Anh lại bị chủ nghĩa thần quyền áp đặt và gây ra rất nhiều vấn nạn. Giáo hội thu thuế tuỳ tiện và tước đoạt nhiều lợi ích của người dân. Các giáo sĩ trở thành tầng lớp thượng đẳng, lạm quyền ức hiếp dân, luôn được hưởng đặc quyền, đặc lợi mà không hề đóng góp giá trị vào quá trình lao động của xã hội, đạo đức giả: toàn làm chuyện bậy mà lúc nào cũng rao giảng điều thanh cao. Toà án tôn giáo là công cụ của giáo chủ, xét xử không công khai, không có bồi thẩm đoàn chính thức. Những vấn nạn này đi ngược lại cái giá trị QCN đã có tại Anh từ thời Đại biểu chương Magna Carta (1215) nên người Anh không chỉ tiếp nhận mạnh mẽ Phong trào Phục Hưng mà còn tiến hành một phong trào cải cách tôn giáo phản kháng lại giáo hoàng La Mã. Phong trào này có khởi nguồn sâu xa từ các học thuyết tiến bộ như “Thần quyền luận”, “Chính quyền luận” xuất hiện ở Anh cuối thế kỷ 14. Trong đó đề ra rằng chính quyền của quốc gia phải nắm lại đầy đủ quyền lực, thoát khỏi sự chi phối của thần quyền để bảo vệ quyền lợi cho người dân. Năm 1529 Cải cách tôn giáo chính thức nổ ra ở Anh, Vua Henry VIII ra lệnh cho các giáo chủ, giáo sĩ không được nộp bỗng lộc; thu tô về cho giáo hoàng ở La Mã, mà phải nộp cho vua Anh Henry VIII còn ban hành nhiều sắc lệnh khác hạn chế quyền lực của giáo chủ do giáo hoàng bổ nhiệm, làm quyền lực của thần quyền ở Anh suy yếu nghiêm trọng, các toà án dị giáo cũng bị xoá bỏ. Nhờ đó mà cuộc cách mạng suy tưởng từ Phong trào Phục hưng bùng nổ ở Anh hơn bất cứ nơi nào khác ở Châu Âu, nhất là vào thời kỳ của nữ hoàng Elizabeth cầm quyền trong suốt nửa cuối thế kỷ 16. Thanh giáo (Purity) – một tôn giáo được cải cách từ Thiên chúa giáo phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ này. Đạo Tin lành cũng ra đời trong xu thế cải cách như vậy và sau này tạo ra sự ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển xã hội ở Mỹ, Canada, Úc, … Giáo hội La Mã đương nhiên không dễ dàng chấp nhận sự “nổi loạn” ở Anh nên cương quyết bảo vệ chủ quyền và lợi ích của mình, buộc giáo hoàng cuối cùng phải chấp nhận và đối thoại với chính quyền Anh, kết quả là dẫn tới những thoả thuận qua đó giáo chủ và Thiên Chúa giáo vẫn được hoạt động ở Anh như các tôn giáo khác, nhưng không còn đủ quyền lực để chi phối hoạt động của chính quyền. Chủ nghĩa thần quyền sụp đổ ở Anh từ đó và lan dần đến sự suy thoái của nó đến phần còn lại của Châu Âu trong thế kỷ 17. Song song với quá trính suy thoái này là trào lưu tiến bộ rực rỡ của châu lục này bởi những tư tưởng mới là kết quả của quá trình suy tưởng của con người hướng đến các giá trị đích thực lâu nay bị các quan điểm sai lầm của giáo hội La Mã che lấp.

Tiếp nối phong trào Phục Hưng, cuộc cách mạng Công Nghiệp ở anh Thế Kỉ 19 đã biến nước Anh trở thành một cường quốc "mặt trời không bao giờ lặn trên đất Anh" thế kỉ 19

Tiếp nối phong trào Phục Hưng, cuộc cách mạng Công Nghiệp ở Anh đã biến nước Anh trở thành một cường quốc “mặt trời không bao giờ lặn trên đất Anh” thế kỉ 19

Sự kết thúc của quyền lực thần quyền và toà án dị giáo của nó ở Anh đã tạo ra một không gian tự do suy tưởng chưa từng có trên thế giới trước đó. Kết quả của nó là những thành tựu sáng tạo vĩ đại trong tất cả lĩnh vực của cuộc sống, từ chính trị, kinh tế đến văn hoá, nghệ thuật, khoa học. Nước Anh không phải là cái nôi của khoa học cơ bản nhưng lại là nôi bứt phá trong lĩnh vực này, tạo nên những phát minh phục vụ con người cho đến tận bây giờ. Chính nhờ sự hiểu biết sâu rộng các quy luật của Tạo hoá và tự do áp dụng chúng mà người Anh đã vươn lên đi đầu về khoa học kỹ thuật và trờ thành cái nôi của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật giúp chuyền đổi thế giới từ thời đại kinh tế nông nghiệp sang thời đại kinh tế công nghiệp từ cuối thế kỷ 18. Nền kinh tế công nghiệp phục vụ loài người như thế nào thì tụi con biết rồi. Newton đặt nền tảng cho khoa học kỹ thuật, Adam Smith đặt nền tảng cho khoa học kinh tế, Darwin đặt nền tảng khoa học về sinh vật muôn loài. Họ đều là người Anh và đều là những người có khả năng suy tưởng táo bạo, vượt qua mọi định kiến, giáo điều và cả những đe doạ của các thế lực cực đoan trong xã hội. Những suy tưởng như vậy rất dễ bị kết tội trong một xã hội thiếu tự do bởi các thứ quyền lực tuyệt đối, bóp chết sang tạo – đồng nghĩa với tước đoạt các thành tựu vĩ đại phục vụ nhân loại. Nước Anh đã kịp thời thoát khỏi quyền lực tuyệt đối của thần quyền, giành lại đầy đủ quyền lực nhân dân trao cho nhà nước để bảo vệ tự do cho nhân dân. Mọi người được tự do tư tưởng, phát biểu chính kiến, quan điểm về bất kỳ lĩnh vực, phạm vi nào để thuyết phục người khác chấp nhận giá trị của mình. Đó chính là biểu hiện của sự suy tưởng. Nước Anh vì thế mà trở thành một xã hội suy tưởng. Thần quyền hay bất kỳ quyền lực tuyệt đối nào cũng đều dựa vào sự mê muội của dân chúng mà tồn tại. Muốn thay đổi nó căn bản thì phải làm cho người dân suy tưởng để thấy được sự phi lý của nó. Đó cũng là sự thay đổi tận gốc vì chính những người đại diện cho quyền lực tối thượng cũng bị buộc tự thay đổi dưới áp lực của nhân dân và cũng những ánh sáng chân lý không thế bác bỏ. Cuối cùng họ cũng phải suy tưởng và thấy ra và hướng về chân lý. Ai cũng thắng và cùng tạo nên những giá trị tốt đẹp cho xã hội. Thiên Chúa giáo không còn độc tôn nhưng chính nhờ đó mà thăng hoa rực rỡ, tạo ra một nền văn minh mà tới giờ vẫn chưa có đối thủ.

C/ Sự kiện lập hiến của Mỹ mà cậu đã kể nhiều trong các thư trước cũng là một cuộc cách mạng suy tưởng dẫn đến kết quả là một nước Mỹ siêu cường. Hội nghị lập hiến từ tháng 5 đến tháng 9/1787 là nơi để những người ưu tú được 13 bang lựa chọn tha hồ suy tưởng và tranh luận với nhau đến tận cùng để tìm ra ra giải pháp tối ưu. Với hơn 50 đại diện tham dự, họ tự do trình bày quan điểm của mình, chỉ ra vấn để từ quan điểm của người. Bốn tháng hội nghị tập trung thực sự là một thời gian suy tưởng ở tầm cao trí tuệ. Những kiến thức, kinh nghiệm thành công lẫn thất bại trong việc xây dựng nhà nước suốt mấy ngàn năm của thế giới được phân tích cặn kẽ, khoa học, từ thời Hy Lạp cổ đại đến nhà nước Anh hiện đại vào thời đó. Họ nhận ra được bản chất và rút ra được quy luật phát triển xã hội để thiết kế nên Nhà nước Liên bang tồn tại đến ngày nay với các thiết chế và nguyên tắc căn bản không hề thay đổi theo thời gian – quy luật cơ bản của Tạo hoá bất biến theo thời gian và sự phát triển của con người và xã hội. Nhưng nếu trí tuệ này chỉ quanh quẩn trong những người tinh hoa của hội nghị lập hiến, rồi họ cho rằng mình vượt trên thiên hạ nhờ trí tuệ ấy và áp đặt nó xuống cho người dân thì chắc chắn nó đã thất bại thảm hại. Không có nước Mỹ như ngày nay nếu sự áp đặt ấy xảy ra. Dự thảo Hiến pháp đã được đưa ra thuyết phục dân chúng chấp nhận nó. Các chiến dịch vận động ủng hộ và phản đối nó kéo dài từ tháng 9/1787 đến tháng 7/1788. Chính các cuộc vận động này đã tạo ra một phong trào suy tưởng của người dân Mỹ hướng về Hiến pháp, nên dù ủng hộ hay phản đối thì họ vẫn hiểu rõ về nó. Ban đầu, sự phản đổi nổi lên rất mạnh mẽ nhưng thiếu những lý luận khoa học chặt chẽ nên sức thuyết phục của nó giảm dần. Có những lúc họ biểu tình phản đối bằng bạo động, gây thương tích cho những người ủng hộ Hiến pháp, đốt Hiến pháp. Tụi con biết câu cười gì hôn? Ít trí tuệ thì thích bạo lực, phải không?

Trong khi đó những người ủng hộ Hiến pháp thì rất khoa học, chiến lược và bình tĩnh thực hiện các biện pháp thuyết phục và bài bản. James Madison – cha đẻ Hiến pháp Mỹ cùng với Hamilton – Bộ trưởng tài chính đầu tiên của Mỹ đã cùng nhau xuất bản gần một trăm bài luật gọi là Federist papers, phân tích sự cần thiết của một chính quyền Liên Bang mạnh và làm sao nó giải quyết những vấn nạn của xã hội và phát triển tốt đẹp, v.v… Chúng không chỉ giúp Hiến pháp cuối cùng được thông qua mà còn giúp người Mỹ hiểu rõ Hiến Pháp, hiểu rõ bản chất và quy luật vận động của con người và xã hội. Sự hiểu biết này cùng với môi trường tự do được bảo đảm hiệu quả bằng Hiến pháp mới đã nhanh chóng làm nước Mỹ ổng định sau gần 10 năm bất ổn rồi phát triển vượt bậc. Từ đó về sau, dân Mỹ chẳng ngừng suy tưởng, nước Mỹ là nơi lý tưởng nhất thế giới để suy tưởng và sáng tạo. Nhân tài từ Châu Âu ùn ùn kéo qua Mỹ để mặc sức mà khám phá, chinh phục, thi thố… Cuối cùng họ lấy luôn vị trí siêu cường số một thế giới của Anh. Bản Hiến pháp ban đầu ấy, đến nay đã được điều chỉnh vài lần nhưn những nguyên tắc để bảo đảm một nước Mỹ luôn suy tưởng thì không bao giờ thay đổi. Đó là lý do vì sao họ là nhà vô địch chiếm giữ các kỹ lục về số lượng phát minh các quy luật cơ bản, về khoa học công nghệ đột phá chấn động thế giới. Suy tưởng dẫn đến QCN. QCN bảo vệ cho suy tưởng. Xã hội vì thế mà thăng hoa, tiến đến văn minh QCN.

35B-American-Revolution

Nhờ một môi trường “tự do suy tưởng” được thừa hưởng từ nền văn minh phương Tây và đảm bảo bởi một hiến pháp tiến bộ vượt bậc. Cuối cũng nước Mỹ đã thu hút nhân tài từ Châu Âu, tạo nên “giấc mơ Mỹ” và cuối cùng vượt mặt chính Anh Quốc thành cường quốc số 1 thế giới ngày nay.

22/01

D/ Một cuộc cách mạng suy tưởng vĩ đại khác là Duy Tân Minh Trị của người Nhật. Trước khi vào thời kỳ này, nước Nhật trải qua thời đại Edo kéo dài hơn 250 năm (từ 1600) đóng cửa tự cô lập mình hoàn toàn với thế giới. Nho giáo du nhập vào Nhật từ hơn 1000 năm trước, pha trộn với văn hoá bản địa vốn ưa chuộng bạo lực vì các cuộc chiến triền miên nhằm cát cứ bản địa và tái thống nhất cứ lặp đi lặp lại trong nhiều thế kỷ. Kết quả tạo nên một tâm thức chiến tranh ăn sâu trong văn hoá ứng xử của người Nhật. Tầng lớp võ sĩ đạo (samurai) ra đời vào thời Kamakura cũng là thời mà Shogun xác lập ở Nhật. Shogun là tên gọi của của một vị trí trong chính quyền phong kiến Nhật, tương tự như các chúa trong thời vua Lê – Chúa Trịnh của VN mình vậy. Vua Nhật là Thiên hoàng, danh nghĩa là tối cao đứng đầu nhà nước nhưng mọi quyền lực thực tế đều thuộc về Shogun. Thiên hoàng chỉ ngồi làm vì để hợp thức hoá cho các mệnh lệnh của Shogun. Chế độ của Lê – Chúa Trịnh tồn tại từ khoảng 200 năm, còn chế độ Shogun kéo dài gần 700 năm, từ cuối thế kỷ 12 đến năm 1867 – một năm trước khi vua Minh Trị lên ngôi. Về bản chất chế độ Shogun cũng giống như các nhà nước thần quyền Châu Âu hoặc nhiều chế độ toàn tự sau này: quyền lực của nhà nước bị tước đoạt bởi các thế lực tiếu quyền. Các thế lực này không loại bỏ các nhà nước bị tiếm quyền và duy trì để lợi dụng nhằm đánh lừa dân chúng. Bằng cách đó, các nhà nước này phải chịu trách nhiệm cho tất cả các quyết định cho thế lực tiếm quyền đưa ra. Khi tạo ra công trạng thì các thế lực này vươn ra nhận lấy về minh. Còn khi họ gây ra sai lầm thì rút vào đưa nhà nước ra gánh chịu. Để xoa dịu dân chúng thì họ sẵn sang cưỡng ép thay thế những người đứng đầu nhà nước. Tụi con xem lịch sử VN thì thấy, các chúa Trịnh phế ông vua này lập ông vua khác như cơm bữa. Các giáo chủ và giáo hoàng thời thần quyền thừa sức để khuynh đảo các ông vua bà hoàng ở hầu hết Châu Âu. Shogun ở Nhật cũng vậy đó. Vì thế mà nước Nhật cũng đầy rẫy vấn nạn xã hội như tại các nước có quyền lực tuyệt đối đứng trên cả nhà nước và pháp luật mà chúng ta đã nhiều lần phân tích.

Đến giữa thế kỷ 17, chính quyền Edo, đã bế quan toả cảng hoàn toan, từ một đảo nhỏ từ tên Dijema trong vịnh Nagasaki mà cậu đã kể trong thư 23A. Các đạo ki-tô (Thiên Chúa giáo, Tinh lành,…) bị cấm hoàn toàn vì bị xem là nguy cơ nghiêm trọng đối với chế độ chính trị của Shogun lúc đó. Có nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là Shogun sợ làn gió Phục Hưng thổi vào làm lung lây thế lực tiếu quyền. Đây là giai đoạn mà Thiên Chúa giáo đang thăng hoa mãnh mẽ nhờ Phục hưng và các nhà nước ở Châu Âu xoá bỏ thần quyền để nắm đầy đủ lại quyền lực. Shogun cho phép Dijema tiếp xúc với người Hà Lan chủ yếu để tiếp thu y học hiện hại nhằm đảm bảo sức khoẻ cho mình. Những các thế hệ trí thức Nhật vẫn âm thầm tận dụng cái đảo nhỏ này để thu nhận nhiều tri thức khoa học khác. Họ nắm bắt được các tư tưởng tiến bộ của Phong trào Phục Hưng, các trào lưu dân chủ hoá đang ngày càng lớn mạnh ở Châu Âu và các dòng chảy khoa học kỹ thuật đang cuộn trào ở lục địa này. Dù bị cấm đoán nghiêm ngặt nhưng họ vẫn suy tưởng và nuôi dưỡng ước mơ mở cửa hội nhập qua nhiều thế hệ. Điều này giúp hình thành nên một lực lượng trí thức có tư duy độc lập, hiểu biết vững vàng và khát khao cháy bỏng về một nước Nhật hội nhập huy hoàng. Dù không nhiều người nhưng họ có một sức mạnh suy tưởng khổng lồ, một khả năng thu nhận năng lượng của vũ trụ và sử dụng năng lượng của Dòng chảy thời đại. Chính họ kiến tạo ra tầm nhìn của một Nhật Bản thần kỳ, dám nghĩ mình vươn lên thành cường quốc từ một xã hội cô lập và lạc hậu. Tầm nhìn đó đã truyền cảm hứng và niềm tin cho người Nhật, từ dân thường đến chính quyền, dám bỏ lại những định kiến, giáo điều của quá khứ và dũng cảm cùng bước vào một con đường mới chưa từng đi bao giờ. Những nhà trí thức nổi bật xuất hiện vào những năm cuối cùng (thập kỷ 1860) của Thời Edo để thúc đẩy đến Thời Minh Trị Duy Tân (từ 1868) bao gồm: Susume (tác giả “Sự vẫy gọi của học vấn”), Kunijukushi (tác giả “Các quốc gia trên thế giới”), Seihojinjo (tác giả “Các trí thức về phương Tây”) và đặc biệt là Fukuzawa mà cậu đã nhiều lần đề cập. Còn nhiều người ưu tú khác nữa mà cậu không nhớ. Tất cả họ cùng nhau tạo nên một cuộc cách mạng suy tưởng vĩ đại nhất cho toàn dân Nhật, đẩy lùi tâm thức chiến tranh và lối học tầm chương trích cú của Nho giáo, hướng mọi người đến niềm say mê khám phá khoa học và những tư tưởng văn minh mới lạ. Người Nhật ùn ùn lao vào suy tưởng, tạo nên những trào lưu khoa học mạnh mẽ kết nối vào Dòng chảy của Thời đại kinh tế công nghiệp, đưa nước Nhật tiến xa, tiến nhanh theo thế giới văn minh.

Thiên Hoàng minh trị, người có công mở đường cho cuộc cách mạng suy tưởng vĩ đại ở Nhật

Thiên Hoàng minh trị, người có công mở đường cho cuộc cách mạng suy tưởng vĩ đại ở Nhật

Nhưng đó là những gì xảy ra sau khi Minh Trị lên ngôi và cuộc Duy Tân đã bắt đầu. Để dẫn đến được thời kỳ này thì nước Nhật phải trải qua một giai đoạn gay cấn đấu tranh giành lại quyền lực nhà nước bị Shogun tiếm quyền, bắt đầu từ 1853 – năm chiến hạm Mỹ cập cảng Tokyo vận động chính quyền Nhật mở cửa hội nhập mà cậu đã kể. Giai đoạn này kéo dài 14 năm, là sự đấu tranh giữa lực lượng cấp tiến ủng hộ Nhật hoàng nắm lại quyền lực và thế lực của Shogun vốn được ủng hộ mạnh mẽ bởi các lãnh chúa phong kiến cát cứ. Cuối cùng lực lượng cấp tiến thắng thế, kết thúc hoàn toàn chế độ Shogun vào năm 1867 và trao quyền lực về cho nhà nước đứng đầu là Nhật hoàng 1868 Minh Trị thay vua cha lên ngai lúc mới 14 tuổi. Ông tuyên bố tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và xoá bỏ các đẳng cấp xã hội, mọi người đều bình đẳng, nước Nhật mở cửa bang giao, hội nhập với thế giới trong mọi lĩnh vực. Đây là sự hình thành nhà nước quân chủ lập hiến đầu tiên ở Châu Á. Gọi hình thức là quân chủ nhưng bản chất là dân chủ, giống nước Anh. Nhật hoàng đứng đầu nhà nước, nhận sự uỷ quyền của nhân dân để bảo vệ tự do, QCN cho mọi người dân. Công trạng của lực lượng cấp tiến – các nhà chính trị yêu nước và thức thời đối với thành tựu dân chủ hoá này là vô cùng to lớn. Nhưng họ đã không thể thành công nếu không có sự ủng hộ của lực lượng trí thức tinh hoá nói trên của người dân Nhật. Tầm nhìn về một nước Nhật huy hoàng của lực lượng này cùng với những luận thuyết và tư tưởng khoa học của họ đã thức tỉnh và kiến tạo nên một con đường chiến lược cho lực lượng chính trị cấp tiến. Đó là con đường thay đổi êm đẹp, không đổ máu, không hận thù, không tàn phá, không phủ định và loại trừ nhau. Các nhà trí thức học hỏi từ Châu Âu nên hiểu rõ rằng muốn đất nước phát triển tốt đẹp thì nhà nước phải giành lại quyền lực đã bị tiếu để có thể bảo vệ nhân dân, chứ không phải cho các thế lực tiếm quyền và cát cứ. Từ kinh nghiệm Châu Âu, họ cũng thấy rằng những cuộc thay đổi bằng bạo lực, lật đổ chỉ dẫn tới sự thay thế thế lực tiếm quyền chứ không thể dẫn tới dân chủ thực sự. Từ đó họ đưa ra những luận chứng đầy thuyết phục để hướng các lực lượng chính trị khác nhau, đối nghịch nhau cùng hướng đến một cách thức đổi mới êm đẹp nhất. Người dân cũng bị thuyết phục, hướng mong muốn của mình đến đó, tạo ra sức mạnh rất lớn ủng hộ sự trấn quyền và cát cứ. Sự vừa đấu tranh vừa vận động như vậy đã tác động tốt đến lực lượng này, làm họ hiểu ra và cuối cùng cùng với nhân dân hướng về chân lý. Đó chính là kết quả của suy tưởng của những người bảo thủ. Không ai thua cả, mọi người cùng thắng. Có rất nhiều câu chuyện hay trong giai đoạn chuyển đổi triều Minh Trị, là những bài học rất bổ ích. Dịp khác cậu sẽ kể.

Còn tiếp…

This entry was posted in Thư Xuyên Mộc and tagged , , , , , , . Bookmark the permalink.

One Response to Thấy gì từ những cuộc cách mạng suy tưởng nổi tiếng trên thế giới (Thư 35B) – Phần 1

  1. Pingback: Thư 47A – Nhà nước Pháp quyền (phần cuối) | Trần Huỳnh Duy Thức

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s