Nhà nước pháp quyền (phần 2) – Nguyên lý cơ bản để thiết kế nên một nhà nước pháp quyền (thư 43b)

Nhà nước pháp quyền thực sự là một nhà nước vừa không triệt tiêu đi tham vọng của mỗi người dân, vừa đảm bảo cơ chế tự điều chỉnh quyền lợi của mỗi người bằng một thái độ khoa học chứ không phải giáo điều đạo đức rồi mong nó sẽ theo ý kiến chủ quan của bất kì ai

Nhà nước pháp quyền thực sự là một nhà nước vừa không triệt tiêu đi khát vọng cá nhân, vừa đảm bảo cơ chế tự điều chỉnh quyền lợi của mỗi người bằng một thái độ khoa học chứ không phải giáo điều đạo đức rồi mong nó sẽ theo ý kiến chủ quan của bất kì ai

Xuyên Mộc, 13/5/2015

1/Bản chất tự nhiên của con người là hướng lợi

Các con, cháu thương!

Chúng ta tiếp tục đề tài Nhà nước pháp quyền. Thư 42A chúng ta đã đề cập đến quy tắc tiên quyết của NNPQ là “Thượng tôn QCN”. Đây là một bước tiến bộ của nhân loại vì QCN là cái bình đẳng tuyệt đối đối với từng con người trên cả thế giới. QCN là vốn có, tức do Tạo hóa trao cho con người chứ không ai có quyền trao nó cho người khác. Nói theo cách Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ là: “Thượng đế ban cho cmg các quyền được sống, quyền tự do…”. Ai sinh ra trên thế gian thì ngay lập tức đã có QCN và nó sẽ theo họ đến suốt cuộc đời mà không phân biệt màu da, chủng tộc, xuất thân, thành phần, ngôn ngữ, địa vị, v.v… Nói chung là không hề có sự phân biệt nào bởi bất kỳ thuộc tính nào thuộc về con người đối với QCN vì QCN là sản phẩm của Tạo hóa ban cho bất kỳ ai là con người. Tạo hóa không phân biệt anh/chị giàu hay nghèo, nam hay nữ hoặc đồng tính, da trắng hay da màu, con ông cháu cha hay thường dân, làm công nhân hay nông dân, doanh gia hay chính trị gia, có chức quyền hay không, v.v… và v.v… để ban cho anh/chị có nhiều hay ít QCN hơn người khác. Chúng ta không thể liệt kê hết được tất cả thuộc tính thuộc về con người. Tụi con chỉ cần hiểu rõ rằng những thuộc tính này là kết quả từ sự vận động của con người chứ không phải do Tạo hóa tạo ra và chúng chẳng có tác dụng gì với Tạo hóa cả. Cũng chẳng ai có thể liệt kê được hết các QCN. Chúng ta chỉ cần hiểu rằng QCN là quyền được mưu cầu bất kỳ điều gì mà con người mong muốn. Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền liệt kê khoảng 30 quyền cơ bản nhưng cuối Tuyên ngôn vẫn nói rõ rằng không được dùng sự liệt kê này để giới hạn mong muốn của con người. Thực ra bản Tuyên ngôn này ra đời nhằm giúp người dân ở các xã hội không tôn trọng QCN biết được các quyền cơ bản vốn có của họ vì họ là con người, chứ không phải để liệt kê QCN. Thật tình mà nói, chẳng mấy ai nhớ nổi một danh sách dài như thế được. Nhưng ai cũng có thể hiểu và nhớ dễ dàng câu này: “QCN là quyền tôi được làm bất kỳ điều gì tôi muốn miễn là không bị trừng phạt bởi điều ấy”, Ở nơi nào mà giết người không bị trừng phạt thì người ta giết người tràn lan trước sự bất lực của những tiếng kêu đạo đức. Tình trạng này không chỉ thời xa xưa mà ngay trong thế giới hiện nay như ở những vùng mà IS đang kiểm soát. Lịch sử loài người đã tồn tại những giai đoạn rất dài mà giỏi giết người lại trở thành thành tích được ban thưởng. Nhưng ở nơi nào mà giết người sẽ bị trừng phạt nặng và người ta không bị cấm đoán hoặc phải xin phép khó khăn để lập hội, nhóm thì họ sẽ dễ dàng tập hợp lại với nhau để chống lại những kẻ giết người và đưa chúng ra trước công lý. Bản chất của con người là vậy, là bản chất hướng lợi mà chúng ta đã phân tích trong đề tài CCXHKH. Lợi ích là động lực chính thúc đẩy ý thức và hành động của con người. “Muốn xã hội tốt đẹp thì phải có cách để các giá trị đạo đức trở thành lợi ích một cách tự nhiên và tự nguyện”. Cách đó chính là CCXHKH mà chúng ta đã bàn nhiều trong các thư trước. Mà muốn cơ chế này vận hành hiệu quả thì phải thiết kế một NNPQ – là điều chúng ta đang tìm hiểu.

crowd-heart

Lợi ích là động lực chính thúc đẩy ý thức và hành động của con người. “Muốn xã hội tốt đẹp thì phải có cách để các giá trị đạo đức trở thành lợi ích một cách tự nhiên và tự nguyện”

2/Nhà nước pháp quyền là một bộ máy cấu thành từ nhân tố con người

14/5/2015

Motivation-Clip-Art1

Suy nghĩ và hành động của con người đều bắt nguồn từ lợi ích cá nhân

Thiết kế bất kỳ bộ máy nào dù là máy móc cơ khí hay một tổ chức của con người thì việc đầu tiên phải tính đến là động lực cho nó. Đó chính là nơi để tạo ra năng lượng cho nó hoạt động. Với máy bay, đấy là động cơ và nhiên liệu. Với bộ máy con người, động lực là sự thôi thúc từ bên trong mỗi người (tiếng Anh gọi là drive) khiến họ hành động và nguồn lực cần thiết để hành động, trong đó sự thôi thúc là chủ yếu vì khi được thôi thúc thì con người sẽ tự phải tìm nguồn lực cần thiết. Sự thôi thúc từ bên trong con người (sau đây cậu dùng từ Drive thay cho cụm từ này cho đỡ mỏi tay nhen ) có thể đến từ vô thức (bản năng) hoặc ý thức (kết quả của suy nghĩ). Nhưng dù bằng vô thức hay ý thức, Drive luôn được thúc đẩy bởi mong muốn làm điều gì đó có lợi – tức là bởi bản chất hướng lợi của con người.Chẳng ai làm việc gì mà họ không thấy lợi ích từ đó. Quan điểm lợi ích của con người rất đa dạng và khác nhau. Có thể người khác không thấy có lợi nhưng người hành động lại thấy có. Thấy vậy nên người ấy mới hành động. Người nào mà nói làm chẳng vì lợi gì thì một là đạo đức giả, hai là có vấn đề về năng lực.

Xã hội càng tiến bộ thì Drive được thúc đẩy bởi ý thức càng nhiều hơn bởi vô thức, tức qua đó con người quan tâm càng nhiều đến lợi ích tinh thần hơn lợi ích vật chất và biết cân bằng hợp lý hơn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng. Nhưng dù một người nào đó có hướng mạnh mẽ đến lợi ích cộng đồng thì việc này cũng xuất phát từ nhu cầu cá nhân của người ấy. Đó có thể là nhu cầu được thừa nhận, được trở thành người có ích để giúp dỡ người khác, hoặc để được nổi tiếng, v.v… Tất cả những nhu cầu nghe có vẻ như không liên quan đến tiền bạc như thế, thực chất cũng chỉ là lợi ích cá nhân mà thôi. Trong đề tài CCXHKH chúng ta đã phân tích rằng không thể phân biệt rạch ròi được các loại lợi ích của con người. Đã có nhiều công trình nghiên cứu, ví dụ như :”Tháp Maslow”, cho thấy là nhu cầu về cật chất có thể phổ biến ở giai đoạn đầu nhưng càng về sau con người càng quan tâm đến nhu cầu tinh thần. Nói chung là rất khó tách bạch các loại nhu cầu/lợi ích này. Chúng liên quan và tương hỗ mật thiết lẫn nhau. Vì vậy mà những việc làm cố gắng gán ghép khái niệm “lợi ích cá nhân” với những từ ngữ mang tính đạo đức như hám lợi, tham vọng,… để đánh đổ nó là những việc thiếu khoa học. Nó không chỉ gây ra cái “Bẫy đạo đức” mà còn triệt tiêu mất động lực phát triển của xã hội vì Drive hướng lợi của con người bị đe dọa trừng phạt. Thiếu động lực thì không thể đủ năng lượng để tồn tại, chứ đừng nói là phát triển bền vững. Nhưng đến ngày nay rồi mà đa số quốc gia trên thế giới vẫn bị mắc phải tình trạng này vì các Nhà nước ở đó thiếu hiểu biết để được thiết kế đảm bảo động lực phát triển bền vững.

out-of-fuel-man

Cái “bẫy đạo đức” sẽ triệt tiêu động lực của người dân. Bộ máy nhà nước xã hội khi đó sẽ ví như 1 cỗ máy thiếu năng lượng. Sẽ khó mà tồn tại nói gì đến phát triển

3/ “Lòng tham vô đáy” hay “động lực vô tận”?

Động lực mãi mãi của xã hội là con người. Động lực vô tận của con người là Drive hướng lợi. Câu nói “Lòng tham của con người là vô đáy” lâu nay vẫn bị nghĩ theo nghĩa tiêu cực và thiếu hẳn sự nhìn nhận và khai thác sức mạnh tích cực của nó. Từ nhỏ, vì có lẽ chịu ảnh hưởng bởi quan điểm Nho giáo nên cậu cũng chỉ nghĩ đến mặt tiêu cực của nó và luôn thấy bất lực trước những suy nghĩ nhằm thay đổi lòng tham của con người. Cậu còn thấy hầu hết những người thuộc thế hệ trước, cùng và cả sau cậu cũng đều nhìn nhận như vậy. Nhưng họ phải công nhận là con người luôn tham lợi không giới hạn và chẳng có cách gì để thay đổi tính tham ấy cả. Dù nhìn nhận một cách rộng rãi như thế nhưng nhận thức đó lại chẳng được nói ra công khai vì người nói vừa có thể bị lên án bởi các quan điểm đức trị hằn sâu bao đời, vừa có thể bị trừng phạt. Sự không thừa nhận công khai một thực tế như vậy của xã hội không chỉ làm cho con người và xã hội hành xử đạo đức giả mà còn đánh mật đi động lực để phát triển xã hội lành mạnh. Chắc tụi con không ít lần chứng kiến một người nói trước công chúng một đằng nhưng thực tế thì làm một nẻo. Cậu có những người bạn như vậy, có những lần họ nói với cậu: “Nói thì phải nói thế vì xã hội lâu nay vẫn muốn nghe thế. Nhưng mà làm đúng như thế thì người ta cười cho và lấy gì mà ăn”. Họ không phải là người xấu, có những người tốt bụng. Nhưng chẳng ai có niềm tin là xã hội có thể thay đổi tốt đẹp, khác hơn thế được. Niềm tin tác động rất mạnh đến Drive của con người. Nếu đa số không tin họ có thể làm những điều giúp xã hội tốt đẹp thì xã hội chẳng thể tốt đẹp. Nỗ lực thay đổi niềm tin của họ rằng có thể thay đổi lòng tham của con người là một cố gắng vô vọng, không bao giờ làm được trên thực tế. Điều này đã diễn ra hàng ngàn năm ở TQ, VN, Nhật, Hàn quốc và rất nhiều những nước có nền đức trị lâu đời khác. Kết quả chỉ là sự đè nén bằng pháp luật, quyền lực và những quan điểm đạo ký giả tạo. Chúng ta có thể hiều được tâm trạng của các nhà đức trị trước những vấn nạn hoành hành bởi lòng tham vô đáy của con người, và cũng hiểu rằng họ là những người quá lý tưởng chủ nghĩa đến mức không biết chấp nhận thực tế khách quan để giải quyết vấn đề bằng quy luật . Vì vậy mà họ trở nên ảo tưởng và làm xã hội bị trì kéo lại hàng trăm năm. Nhưng lòng tham của con người trong những xã hội đó dù bị đè nén hàng ngàn năm lại vẫn trỗi dậy mạnh mẽ trong vài năm sau khi gặp điều kiện thuận lợi. Thực ra trong suốt thời gian bị đè nén, lòng tham chẳng mất đi , chỉ bị biến tướng và che đậy dưới nhiều hình thức vì lợi ích chung, và vẫn hoành hành xã hội bằng vô số vấn nạn, nghiêm trọng hơn rất nhiều những vần đề cũng gây ra bởi lòng tham nhưng trong một xã hội thừa nhận lòng tham như một động lực tự nhiên của con người, đồng thời áp dụng cơ chế xã hội và thiết kế nhà nước hiệu quả để điều chỉnh lòng tham hướng đến tích cực.

15/5/2015

Lòng tham vô đáy của con người là động lực vô tận của xã hội. Không thừa nhận lòng tham là không hiểu được bản chất hướng lợi của con người, tức là không tôn trọng quy luật khách quan. Đánh đổ lòng tham chính là triệt tiêu động lực phát triển bền vững của xã hội và làm xã hội phát triển không lành mạnh. Cố gắng phân biệt giữa lòng tham tốt và lòng tham xấu là việc làm không khoa học vì sự phân biệt ấy chẳng có tác dụng gì với quy luật phát triển xã hội – là chân lý của Tạo hóa, tức là LẼ PHẢI TUYỆT ĐỐI. Quy luật này chi phối bản chất hướng lợi của con người để họ tự động điều chỉnh ý thức của mình đối với sự vận động hướng lợi. Chúng ta đã phân tích trong CCXHKH: chính sự điều chỉnh này tự nhiên hình thành nên những quy tắc đạo lý tự nguyện chi phối các hoạt động hướng lợi của con người để họ đáp ứng nhu cầu lẫn nhau. Đây chính là cơ chế vận hành của khu vực LẼ PHẢI CƠ BẢN hay “Đạo lý” trong CCXHKH. Cơ chế này vận hành đồng nghĩa với việc con người vận động để mưu cầu lợi ích cho mình, bao gồm cả việc lên án những hành động gây tổn hại cho lợi ích của mình và người khác. Lòng tham tốt hay xấu sẽ được định hình thông qua quá trình vận hành như vậy bởi sự xác lập các giá trị đạo lý phổ biến trong nhận thức của con người. Các giá trị đó tác động mạnh đến hành xử của con người khiến họ càng hướng đến lợi ích của cộng đồng để đạt được lợi ích của mình. Xã hội vì vậy mà phát triển cà vật chất lẫn tinh thần và ngày càng văn minh. Nhưng các giá trị này không cố định tuyệt đối mà thay đổi theo sự vận động của con người, ý thức của con người càng tiến bộ thì các giá trị đó càng văn minh, theo đó các quan điểm về lòng tham tốt hay xấu cũng thay đổi theo từng giai đoạn phát triển chứ không bị định khung theo các tiêu chuẩn tuyệt đối của một người hay nhóm người nào đó. Sự định khung như thế khi được áp đặt bởi những người có quyền lực của nhà nước thì đó chính là một Nhà nước đức trị. Vì thế các nhà nước đức trị là những chế độ làm xói mòn động lực phát triển bền vững của xã hội nhữ đã từng xảy ra trong thời phong kiến thần quyền ở Châu Âu, phong kiến Nho giáo ở Đông Á, phong kiến Hồi giáo ở Trung Đông và Ả Rập v.v… Ngay trong thời đại ngày nay, bản chất đức trị vẫn tồn tại phổ biến ở rất nhiều các chế độ chính trị trên thế giới mà hầu hết những nơi đó đều là những quốc gia chậm hoặc chưa phát triển. TQ hiện đang là đất nước điển hình đang bị rơi vào cái “Bẫy đạo đức” này. Động lực tăng trưởng của họ đang giảm rất nhanh vì những nỗ lực khổng lồ nhằm chấn chỉnh đạo đức của Chình quyền. Họ không hiểu được quy luật hướng lợi tự nhiên của Tạo hóa sinh ra con người. Giới cầm quyền TQ đang rơi vào tâm trạng của chính tổ tiên họ hàng ngàn năm trước khi nhìn thấy qua nhiều vấn nạn đạo đức mà không hiểu được nguyên nhân của chúng là do sự thiếu vận động tự do của xã hội. Họ đổ lỗi cho lòng tham, cùng với thói quen sử dụng quyền lực và quyền lực sẵn có trong tay. Họ tiến hành những chiến dịch lớn nhằm đàn áp những người mà họ cho là bị lòng tham làm cho tha hóa dẫn đến tham nhũng, tham vọng quyền lực, cấu kết phe phái, v.v… và nhằm áp đặt những tiêu chuẩn đạo đức cho cả quan chức lẫn người dân mà họ chủ quan nghĩ là tốt và có thể giúp chống lại lòng tham. Có thể đó là mong muốn thật lòng của họ nhưng chắc chắn họ không thề thành công vì sức của họ không thể thắng được quy luật của Tạo hóa.

long-tham-tot-xau

Cơ bản việc phân biệt lòng tham tốt – xấu là việc làm vô nghĩa. Chính yếu là chúng ta cần thừa nhận nó và dùng tính chất tự điều chỉnh của CCXHKH để con người trong xã hội đó hành động theo hướng nổ lực vì lợi ích tập thể để đạt được lợi ích cá nhân.

Một thiết kế nhà nước tốt thì trước hết phải làm cho con người tham vọng càng nhiều thì động lực phát triển xã hội càng lớn. Thật ảm đạm cho những dân tộc mà con người có ít hoặc chẳng có tham vọng gì. Cậu tôn trọng mong muốn xây dựng “Tổng hạnh phúc quốc gia” của Bhutan nhưng cậu chẳng thấy được cơ hội phát triển và hạnh phúc của họ khi người dân ở đó tìm kiếm hạnh phúc bằng cách thức cơ bản là làm cho mình chẳng còn tham vọng. Họ cho rằng nó là nguồn gốc của sự bất hạnh. Cậu không tin mọi người có thể trở thành những nhà tu khổ hạnh được. Năng lực ấy không dành cho số đông nên không thể là điều thực tế. Còn thực tế thì diễn ra như thế nào? Tụi con hãy quan sát những nước chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo cả ngàn năm và hiện đang là Quốc đạo như Myanmar, Thai Lan, Campuchia, Người dân rất sùng đạo và hướng thiện nhưng xã hội vẫn đầy những vấn nạn hoành hành hàng trăm năm và không thiếu những cuộc xung đột vũ trang. Thậm chí ở CPC còn xảy ra một cuộc diệt chủng ghê rợn trong thập niên 1980. Như chúng ta đã phân tích nhiều lần, tôn giáo là một phần, phần rất quan trọng trong sự vận động của xã hội để thúc đẩy con người hướng đến các giá trị tốt đẹp, nhưng không nên và không thể là duy nhất, là nền tảng của xã hội.

Kế tiếp, một nhà nước được thiết kế tốt là phải làm sao cho con người khi thực hiện tham vọng của mình thì phải tạo ra lợi ích cho cộng đồng. Nói một cách hình tượng là: “Hãy để cho những người tham vọng lấy thành tích còn xã hội thì nhận thành quả”. Đây chẳng phải là ước vọng xa xôi đâu. Một người rất nổi tiếng mà tụi con đều biết là Bill Gates. Bên cạnh những lời khen và ngưỡng mộ, ở Mỹ ông ấy còn bị lên án rất dữ vì bị cho là tham. Thậm chí có những cây bút nổi tiếng như Thomas Friedman còn chửi Bill là “tham như heo” vì Microsoft dùng thế mạnh chi phối về hệ điều hành Windows để chèn ép các trình duyệt của đối thủ cạnh tranh. Vào thời điểm đó ở VN, cậu thấy hầu hết những người biết về sự kiện này của Microsoft đều ủng hộ Bill Gates vì cho rằng đó là việc làm chính đáng do Microsoft có được thế độc quyền là nhờ khả năng công nghệ vượt trội của chính họ, chứ không phải dựa vào quyền lực của Nhà nước như các doanh nghiệp độc quyền ở VN. Nhưng ở Mỹ, nơi xã hội vận động tự do thì không hẳn như thế. Độc quyền bằng quyền lực thì không thể tồn tại ở Mỹ. Độc quyền bằng năng lực thì không dễ được chấp nhận. Người Mỹ hiểu rõ rằng độc quyền cho dù bằng cách thức nào thì cuối cùng cũng sẽ làm cho thị trường nói riêng hay xã hội nói chung mất tính cạnh tranh, tức là người dân sẽ ít đi sự lựa chọn. Nếu họ không vận động để chống độc quyền, buộc nó phải thay đổi và chấp nhận sự cạnh tranh thì đến khi nó đạt được khả năng độc quyền tuyệt đối thì nó sẽ chèn ép họ mà họ thì chẳng còn sự lựa chọn nào khác. Cuối cùng thì phải phục tùng và lệ thuộc vào nó. Không thể vì Bill Gates là nhà từ thiện nổi tiếng mà người Mỹ hy vọng vào sự đức độ ấy và đồng ý cho Microsoft được độc quyền. Cậu tin rằng một người như Gates nếu hoạt động trong một xã hội thiếu vận động tự do thì sẽ trở thành một doanh nhân gây hại vì ông ấy sẽ làm mọi cách như đút lót, mua chuộc, chơi xấu đối thủ để đạt được thế độc quyền. Nếu Gates không có tham vọng thì đã không có một Microsoft lẫy lừng. Lợi ích mà ông ấy nhận được từ Microsoft là cực lớn nhưng vẫn nhỏ hơn rất nhiều lợi ích tổng thể của cổ đông, của nhân dân, của người dùng của hãng này, và cả của người dân và nước Mỹ nói chung nếu xét về thuế và vị thế công nghệ Mỹ. bill gates naziVà với tuyên bố sẽ hiến hơn 99% tài sản của mình cho từ thiện thì rõ ràng điều lớn nhất mà Gates làm được cho mình là niềm hạnh phúc thỏa mãn được sự khát vọng của mình và một danh tiếng để đời. Còn kết quả cụ thể thì xã hội Mỹ được hưởng, người dân ở một số nước mà Quỹ Melinda & Bill hoạt động cũng được hưởng phần nào. Đây là ví dụ điển hình về: “Để cho những người tham vọng lấy thành tích, còn xã hội thì nhận thành quả”. Câu chuyện về vua dầu hỏa Rockerfeller cũng thế.

4/ Pháp trị và đạo đức là hai phạm trù không bao giờ đứng chung

Ở trên cậu vừa dùng cụm từ “hạnh phúc thỏa mãn được khát vọng của mình”. Dùng từ khát vọng chứ không phải tham vọng, tụi con nghe dễ chịu hơn phải không? Thực ra đây chỉ là một thói quen cảm giác tại những xã hội chịu ảnh hưởng lâu đời bởi đức trị như TQ, VN, HQ. Đây chỉ là sự cố gắng phân biệt giữa lòng tham tốt và lòng tham xấu, một cố gắng không khoa học nà chúng ta đã nói ở trên. Khi dịch ra tiếng Anh, tham vọng hay khát vọng đều thường được dịch là ambition và không kèm thêm tính từ để phân biệt. Mà thực sự là rất khó phân biệt, ngay cả trong quá trình vận động của khu vực đạo lý. Trong ví dụ trên về Bill Gates, cùng một hành động của ông ấy nhưng có người cho là tốt, có người cho là xấu nên sẽ có người ủng hộ và có người lên án. Giả sử Thomas Friedman biết nói tiếng Việt thì anh sẽ bảo” “Tham vọng của Gates là đáng xấu hổ”. Còn người ủng hộ thì sẽ nói: “Khát vọng của Gates thật đáng để học hỏi”. Còn nếu đem hỏi Tạo hóa thì Ngài sẽ trả lời: “Tham vọng hay khát vọng chỉ là một thôi, đều là sự mong muốn mạnh mẽ xuất phát từ bản chất hướng lợi mà ta ban cho loài người trong đó có Gates”. Và Ngài nói thêm: “Các ngươi rối rắm lắm chuyện”. Tạo hóa mà còn phải bó tay thì làm sao con người phân biệt nổi hihi. Cậu từng hỏi nhiều người thử phân biệt giữa tham vọng và khát vọng. Một số trả lời rằng tham vọng chỉ có lợi cho mình và không có lợi cho người khác, còn khát vọng thì có lợi cho người khác mà mình có thể không được lợi. Nhưng họ không phản bác được thực tế là lợi cho người này có thể gây bất lợi cho người khác. Cách phân biệt ấy hết sức tương đối và tùy thuộc vào cảm giác chủ quan của từng người. Hầu hết những người khác thì không thể phân biệt được. Có người còn cho rằng tham vọng gợi đến điều tốt, khát vọng gợi đến cái xấu vì nghe như là khát máu vậy . Những sự phân biệt như thế này đều mang tính đạo đức rất chủ quan và khác nhau đối với từng người. Vì vậy mà sự phân biệt của quan điểm đạo lý không thể là tiêu chuẩn phân định của chân lý, và lại càng không được là tiêu chuẩn xét đoán của pháp lý. Luật pháp mà được xây dựng dựa trên các quan điểm đạo lý, bằng những từ ngữ mang cảm giác đạo đức thì sẽ tạo nên một sự lập lờ tai hại. Điều tai hại nhất là nó tạo ra sự đe dọa lòng mong muốn của người dân, làm họ sợ hãi mơ hồ về những lợi ích mà mình ham muốn, từ đó xói mòn Drive hướng lợi của họ. Động lực phát triển của xã hội vì vậy mà bị suy giảm. Sự an toàn – không bị trừng phạt bởi pháp luật – luôn là lợi ích hàng đầu của đại đa số con người nên họ sẽ ưu tiên hướng đến lợi ích an toàn. Xu hướng này sẽ càng mạnh lên khi mà các quan chức tiêu cực sử dụng lập lờ của luật pháp để gia tăng nỗi sợ hãi mơ hồ của người dân nhằm trục lợi. Hiệu ứng tương hỗ này theo thời gian sẽ phát triển thành một vòng xoáy triệt tiêu động lực của con người va xã hội, đồng thời tạo ra hàng loạt vấn nạn nghiêm trọng, bao gồm cả vấn nạn đạo lý và pháp lý, làm suy đồi cả con người lẫn xã hội.

16/5/2015

Cho nên trong đề tài NNPQ này, tụi con lưu ý là cậu dùng từ tham vọng hay khát vọng đều chỉ một mà thôi, không có mục đích tạo cảm giác phân biệt về quan điểm đạo đức. Tương tự như vậy đối với các từ như lòng tham/sự ham muốn, hám lợi/hướng lợi, v.v… Nhà nước pháp quyền – The Rule of Law – Bộ quy tắc của luật, gồm Luật trời (quy luật của Tạo hóa) tức Chân lý và Luật người (luật pháp gồm hiến pháp và luật) tức Pháp lý. NNPQ không có các quy tắc về đạo lý. Đạo lý là khu vực được hình thành bởi sự vận động của người dân dưới sự điều chỉnh tự nhiên bởi bàn tay vô hình (hay Quy luật phát triển xã hội). Tụi con xem lại thư 33A, trong bảng tóm tắt Mô hình CCXHKH, chúng ta đã chia thành 3 khu vực là: TUYỆT ĐỐI (Chân lý) được bảo đảm và bảo vệ tuyệt đối bởi Hiến pháp, CƠ BẢN (Đạo lý) được hình thành bởi Bàn tay vô hình và THỎA ƯỚC (Pháp lý) do người dân thuyết phục nhau nhằm hạn chế bằng luật. Một nhà nước mà đưa ra các quy tắc đạo lý tức là xâm phạm vào sự vận hành của Quy luật phát triển xã hội nên Nhà nước đó không đúng là một NNPQ. Ở các nước dân chủ thịnh vượng, chính trị gia nào mà lấy đạo đức ra rao giảng thì bị đánh giá rất thấp và dễ bị mất ghế. Cậu từng khảo sát Hiến pháp của nhiều nước và nhận thấy rằng những nước càng chậm phát triển thì Hiến pháp của họ càng nhiều ngôn từ đạo đức, càng thể hiện sự cao đẹp. Hệ quả là càng nhiều chính trị gia mị dân. Hiến pháp bị thay đổi đến chóng mặt, còn luật thì chẳng có quy tắc gì ngoài ý muốn của những người có quyền lực. Rất nhiều bản Hiến pháp như thế lại khẳng định mình là Nhà nước pháp quyền và lặp đi lặp lại ở nhiều chỗ. Mỉa mai hôn? . Đa phần là do họ không hiểu NNPQ và còn bị quán tính đức trị. Tụi con nhớ nha, phải tránh cái “Bẫy đạo đức”.

5/ Thương tôn quyền con người là cái duy nhất mà một nhà nước pháp quyền bảo vệ, không phải bất kì yếu tố nào thuộc về con người

18/5/2015

Từ những gì đã phân tích, ta thấy rằng: muốn cho động lực phát triển của xã hội không bị suy kiệt thì con người phải có tự do làm bất cứ điều gì mình ham muốn; muốn cho động lực này tuôn trào thì phải làm cho những ham muốn này thật mạnh mẽ, tức con người phải có tham vọng và xã hội phải có cơ chế để khuyến khích các tham vọng này, làm chúng có thể trở thành hiện thực, và muốn cho những ham muốn/.tham vọng tạo ra nhiều thành quả và ít vấn nạn cho cộng đồng thì xã hội phải vận động tự do. Trong CCXHKH, chúng ta đã cho thấy rằng các điều kiện đều được đáp ứng khi mà QCN được bảo vệ trên hết và đầy đủ cho từng người – tức là “Thượng tôn QCN”. Mà muốn bảo vệ QCN đầy đủ thì chẳng cần liệt kê những quyền cụ thể, càng không được cho phép từng quyền cụ thể. Việc cần làm là phải thiết kế một Nhà nước để từng người không chỉ được bảo đảm sự tồn tại của mình mà còn có quyền làm bất cứ điều gì mình ham muốn, và để ngăn chặn hiệu quả bất kỳ ai xâm phạm hoặc đe dọa đến sự tồn tại và quyền này của người khác. Muốn bảo vệ QCN trên hết thì Nhà nước không được thiết kế để bảo vệ bất cứ đối tượng nào có thuộc tính về con người như: chủng tộc, màu da, chế độ, ý thức hệ, quan điểm xã hội, tôn giáo v.v… Các đối tượng này phải được tồn tại đa dạng và tự do trong xã hội. Có những cái sẽ chiếm ưu thế hoặc được chấp nhận phổ biến trong một giai đoạn nào đó, nhưng đấy là kết quả tổng hợp của sự vận động nhằm mưu cầu lợi ích của từng người trong xã hội – tức là kết quả của việc sử dụng QCN, chứ không phải là kết quả của sự bảo vệ ưu tiên bằng quyền lực nhà nước. QCN phải được bảo vệ trên hết, đứng trên mọi đối tượng này để có thể bảo đảm quyền cho bất kỳ ai cũng được vận động để thay đổi chúng. Họ có thể thành công hoặc không nhưng không ai được trừng phạt họ vì sự vận động đó trừ khi họ dùng bạo lực hoặc xâm phạm QCN của người khác để vận động. Hàng chục năm nay ở Úc có nhiều nhóm vận động thay đổi nước này thành chế độ Công hòa thay vì Quân chủ lập hiến như hiện nay. Họ chưa thành công nhưng cũng chẳng bị làm sao cả. Biết đâu vài chục năm nữa họ lại đạt được tham vọng của mình. Scotland vừa rồi đã đi tới một cuộc trưng cầu dân ý luôn, những người vận động cho nền công hòa cuối cùng cũng thất bại nhưng gần 48% cử tri bỏ phiếu ủng hộ cho nó, cả những người công khai vận động và bỏ cả công sức và tiền của ra để làm cũng có bị gì đâu. Ngược lại, ai mà xâm phạm, đe dọa đến sự ham muốn đó của họ sẽ bị trừng phạt bởi quyền lực nhà nước. Những người ủng hộ chế độ cộng hòa cho Scotland vẫn có quyền tiếp tục vận động cho khát vọng đó của mình, chẳng ai có quyền bắt họ phải dừng nỗ lực của mình vì đã có trưng cầu dân ý cả. Họ có thể bắt đầu lại bằng việc tuyên truyền về lợi ích của nền cộng hòa và khiếm khuyết của nền quân chủ lập hiến. Biết đâu năm, mười năm nữa họ lại thuyết phục được thêm 3% cử tri nữa ủng hộ họ, đâu phảo là không thể. Lịch sử cũng đã từng chứng kiến một cuộc trưng cầu dân ý của Nam Phi đầu thập niên 1960 để tách khỏi Vương quốc Anh dưới chế độ quân chủ lập hiến và trở thành một nước Cộng hòa một cách hòa bình. Nhưng giới cầm quyền nước này đã xây dựng nên chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid và dùng quyền lực nhà nước của nền cộng hòa để bảo vệ cho chế độ này, đặt nó lên trên QCN của người da màu, là, xã hội rối loạn: xung đột và bạo lực.Cuối cùng chế độ này cũng kết thúc và mở ra một chế độ bình dẳng màu da, sắc tộc vào năm 1994.

Có thượng tôn QCN hay không thì phải đánh giá thực chất của xã hội đang vận động như thế nào, chứ không phải qua các hình thức của tên gọi, câu chữ. Muốn xã hội có thực chất pháp quyền, tức “Thượng tôn QCN” thì Nhà nước phải được thiết kế theo những yêu cầu được gạch ở phần dưới (trang 16). Thiết kế là phải tính toán được phải cần những bộ phận nào, chức năng gì, quyền hạn ra sao, kiểm tra và phát hiện lỗi bằng cách nào, sửa sai như thế nào, v.v… Thiết kế tốt thì sẽ cho sản phẩm tốt và ít lỗi, tương đương với một xã hội thượng tôn QCN và ít vấn nạn. Khi đó Nhà nước được thiết kế ra sẽ trở thành Nhà nước pháp quyền. Một bộ máy được gọi là máy bay vì nó bay được và an toàn, chứ không phải là một cái vỏ giông giống hình máy bay và in đầy lên trên vỏ câu chữ máy bay. Tụi con hiểu hôn?. Nhà nước Liên bang Hợp chủng quốc Hoa Kỳ – Nhà nước pháp quyền đầu tiên dưới thể thức cộng hòa đã được thiết kế theo cách như vậy. Cậu đã kể nhiều về lập hiến Mỹ trong các thư trước. Tụi con tìm đọc Hiến pháp Mỹ xem họ có xưng mình là NNPQ không? Và có bao nhiêu ngôn từ đạo đức trong đó. Tụi con sẽ chỉ thấy trong bản Hiến pháp này toàn những thiết kế cho từng bộ phận của một bộ máy nhà nước và cách thức người dân vận hành bộ máy đó. Cậu đã kể về việc không đưa Tuyên ngôn Nhân quyền vào Hiến pháp khiến nhiều nhà hoạt động QCN lo lắng và phản đối. Những người thiết kế Hiến pháp không chịu đưa Tuyên ngôn Nhân quyền vào vì như vậy vô hình trung là liệt kê QCN, vì thế mà sẽ hạn chế QCN trong các liệt kê đó. Nhưng những người ủng hộ Tuyên ngôn Nhân quyền vận động rất tích cực, họ e ngại việc thiếu vắng nó có thể tạo ra sự lập lờ, chông chênh đối với quyền tự do của con người. Cuối cùng họ đã đạt được thỏa hiệp với những người thiết kế Hiến pháp là sẽ ban hành một Đạo luật về Quyền (Bill of Rights) sau khi Hiến pháp được thông qua. Đạo luật này đã ra đời đúng như dự kiến và thường được xem như Tuyên ngôn Nhân quyền của Mỹ. Nhưng đó không phải là bảng liệt kê các QCN, mà là sự cam kết sẽ không có luật nào được ban hành để hạn chế các quyền tự do ngôn luận, tư tưởng, tôn giáo, lập hội, sử dụng súng, v.v… Đạo luật này có hiệu lực từ 1790 cho đến tận ngày nay. Nó là một trong những thỏa hiệp đầu tiên của nhân dân được ghi nhận thành luật sau khi Nhà nước Liên bang ra đời. Mỹ từ đó đến nay đã trải qua rất nhiều biến động, kể cả nội chiến và 2 cuộc đại thế chiến nhưng chưa bao giờ các quyền tự do nêu trên bị hạn chế. Vì vậy mà động lực phát triển của nước Mỹ luôn mạnh mẽ và chưa bao giờ suy kiệt. Họ trở thành siêu cường là nhờ thế. Dù vẫn trải qua những giai đoạn suy giảm và khủng hoảng vì sự sai lầm của con người nhưng nước Mỹ luôn vượt qua được và càng trở nên mạnh mẽ hơn sau những lần như thế.

19/5/2015

Nói về tham vọng chắc chẳng có nước nào bằng Mỹ. Số người Mỹ dám tham vọng cũng bỏ xa các nước, ngay cả đối với TQ có dân số gần 4 lần nước Mỹ. Ai cũng có ham muốn nhưng dám tham vọng và theo đuổi nó thì chỉ ít người làm được vì nó đòi hỏi những nỗ lực phi thường đi kèm với những rủi ro lớn đối với cá nhân. Nước Mỹ là nơi được thiết kế để khuyến khích cho con người tham vọng và hỗ trợ họ giảm thiểu rủi ro. Rủi ro nguy hiểm nhất là rủi ro pháp lý. Nó hủy hoại động lực cho tham vọng và sáng tạo ghê gớm nhất. Ở nhiều nước, người ta dễ dàng bị vào tù vì làm ăn thất bại hoặc vì những sáng kiến, tư tưởng phát triển mới cho xã hội. Nhưng cái lưới “hình sự hóa”, “chính trị hóa” có thể chụp xuống con người bất kì lúc nào, nhiều khi chỉ vì họ có quan điểm đạo lý khác với những kẻ có quyền lực hoặc những kẻ “to miệng”. Tình trạng này đang hoành hành TQ và ngày càng nặng vì vậy mà hy vọng họ sẽ hóa rồng thành một quốc gia phát triển, văn minh chỉ là ảo tưởng mà thôi. Chỉ khi nào TQ xây dựng được NNPQ đưa xã hội vào “thượng tôn QCN” thì điều này mới xảy ra và sẽ rất rực rỡ. Trong tình trạng của xã hội TQ hiện nay, những người dám tham vọng hầu hết sẽ bằng mọi cách cấu kết với quyền lực để thực hiện mục đích của mình nên sẽ gây họa cho cộng đồng là chủ yếu. Chẳng ai, quyền lực nào hay sự áp đặt hoặc kêu gọi tiêu chuẩn hóa đạo đức nào có thể ngăn chặn được cách hành xử như thế của những người tham vọng. Trong một xã hội có rủi ro pháp lý cao, tuyệt đại đa số con người sẽ không dám tham vọng nên những người dám chính là những người có động lực mãnh liệt nhất. Họ sẵn sàng làm bất kỳ điều gì, kể cả giết người nếu họ chắc là không bị phát hiện để đạt được mục đích của mình. Cậu không vơ đũa cả nắm, không phải tất cả đều như vậy nhưng đó là tình trạng thực tế do sự tiến hóa chậm của bản năng (theo thuyết Darwin) so vớ sự tiến bộ của ý thức của con người và trình độ phát triển của xã hội. Tình trạng này còn khá phổ biến như cậu đã phân tích trong thư 39A về tầm lý đám đông. Cậu tin là những vụ trục lợi những thực phẩm độc hại như sữa gây chết trẻ em đã bị đưa ra ánh sáng chỉ là một số rất nhỏ trong vô số những cách thức thiên hình vạn trạng để đạt được tham vọng bất chấp tính mạng con người đang xảy ra hằng ngày ở TQ mà không bị phát hiện. Những cách thức bất chính như vậy cũng xảy ra ở Mỹ hoặc bất kỳ nước nào. Nhưng ở những xã hội vận động tự do, những gì liên quan đến cộng đồng dù nhỏ thì vẫn bị đặt dưới sự giám sát hiệu quả của công chúng. Họ sẽ dễ dàng sử dụng các thiết chế của Nhà nước pháp quyền để ngăn chặn hầu hết từ trong trứng nước những ý định trục lợi bất chính xâm phạm đến lợi ích chính đáng của họ. Còn những ý định dám liều lĩnh thực hiện thì cũng dễ dàng bị phát hiện và đưa ra trước ông lý. Hơn nữa, trong một xã hội vận động tự do, những người tham vọng cũng dễ dàng sử dụng các thiết chế của NNPQ để đạt được mục đích của mình một cách hợp pháp, chẳng mấy ai dại mà đặt mình vào rủi ro pháp lý. Vì vậy mà tình trạng trục lợi bất chính ở Mỹ ít hơn hẵn ở TQ, chứ chẳng phải bản tính người TQ ác, xấu hơn người Mỹ. Tính cách dựa vào quyền lực để tạo lợi thế và khi có điều kiện thì thao túng quyền lực là tính cách phổ biến của những người tham vọng. Thừa nhận thực tế này nên Mỹ mới có luật để điều chỉnh việc lobby (vận động hành lang) nhằm đặt nó vào một sự giới hạn kiểm soát được. Lobby là việc các cá nhân hoặc nhóm lợi ích gây ảnh hưởng với giới lập pháp và hành pháp nhằm đạt được những chính sách có lợi cho mình. Ai cũng có quyền làm như vậy nhưng phải trong sự giới hạn của luật, kể cả việc dùng tiền để tài trợ. Nhờ có luật nên mới giảm thiểu được việc đưa và nhận hối lộ và những sự cấu kết mờ ám giữa quyền lực và tiền bạc. Cái xấu ít hoành hành là nhờ biết thừa nhận thực tế khách quan và tạo điều kiện cho nó diễn ra trong sự kiểm soát của luật và công chúng. Lúc đó, rủi ro pháp lý không dành cho người dám tham vọng mà dành cho những kẻ cố tình vi phạm luật nhằm tạo ra sự bất bình đẳng cho người khác nhưng có lợi cho mình. Thừa nhận việc lobby thực ra là sự thừa nhận QCN và người dân thỏa hiệp với nhau đặt ra một giới hạn khi dùng quyền lobby bằng luật về lobby.

china-milk-melamine

Thiếu CCXHKH hướng hành động của những người có tham vọng ở TQ vào những việc làm lợi cho bản thân mà xâm hại quyền lợi của người khác, để tránh những trách nhiệm từ pháp luật tạo nên từ những quy chuẩn đạo đức chủ quan – vụ sữa melamine ở TQ chỉ là một trong số đó

20/5/2015

Bảo đảm quyền lobby không chỉ có ý nghĩa trong việc giảm thiểu sự tiêu cực từ thói quen mua chuộc quyền lực để tạo lợi thế của con người, một thói quen thuộc về bản chất hướng lợi nên không dễ và nhanh thay đổi. Bảo đảm quyền lobby còn có ý nghĩa rằng NNPQ phải được thiết kế sao cho người dân có quyền và có thể sử dụng quyền lực để bảo vệ và mưu cầu lợi ích của mình. Quyền lực ở đây bao gồm quyền lực nhà nước (Authority) và sức mạnh nhân dân (People’s power). Ở những Nhà nước toàn trị, quyền bầu cử lựa chọn người đại diện cho mình tại các thiết chế quyền lực nhà nước chỉ bị lợi dụng để hợp thức hóa cho sự lựa chọn của giới cầm quyền, đồng thời những sức mạnh nhân dân hiệu quả như biểu tình, bào chí, đình công,… gần như không thể tồn tại. Còn ở các Nhà nước độc tài đa đảng thì người dân hầu như chỉ có thể sử dụng quyền lực của mình vào những lúc bỏ phiếu, sau đó thì những người giành được quyền lực lại sử dụng cái quyền mà người dân vừa trao cho họ để cấm đoán người dân sử dụng quyền lực vì có thể đe dọa đến quyền lực của họ. Bằng những thủ đoạn chính trị mị dân tinh vi, nhiều kẻ độc tài tập hợp được sự ủng hộ mang tính bè phái bầy đàn để duy trì ngai vị cho mình suốt một thời gian dài bằng chính lá phiếu của nhân dân. Đây là tình trạng mà cậu đã phân tích và đưa ra nhiều ví dụ trong đề tài CCXHKH. Nguồn gốc của nó là ở chỗ: Người dân thực chất chẳng có quyền lực gì trong cái thiết kế của Nhà nước mà hệ quả là họ chẳng có sức lực gì để vận động cho lợi ích của mình, phải lệ thuộc hết vào những người có quyền. Đó là tình trạngcủa một xã hội không vận động tự do nên CCXHKH không vận hành được. Chúng ta đã nói rất nhiều rằng phải “Thượng tôn QCN” để xã hội vận động tự do. Nhưng muốn thượng tôn QCN thì không thể bằng câu chữ; khẩu hiệu;… mà phải bằng một thiết kế nhà nước mà kết quả vận hành thực tế của nó bảo đảm “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Trong Hội nghị lập hiến Mỹ, James Wilson đã phát biểu: “Phương thuốc chữa trị mọi hư hỏng của một nền chính trị là quyền lực tối cao phải thuộc vế dân chúng. Nếu chính quyền có bất cứ sai lầm nào thì dân không những có quyền sửa mà còn có quyền thay thế hoặc loại bỏ nó”. Quan điểm này được ủng hộ và Nhà nước Liên bang đã được thiết kế để bảo đảm được kết quả như vậy. Trong phạm vi của đề tài NNPQ này cậu không đi vào công nghệ thiết kế NNPQ. Đây là chuyên môn sâu mà cậu nghĩ tụi con không quan tâm lắm và là những học thuật mà cậu đã hứa tránh làm tụi con đau đầu. Điều cậu tập trung chuyển tải là ý nghĩa, chức năng, mục tiêu, thuộc tính, cơ chế vận hành của một Nhà nước pháp quyền để những người dân như tụi con hiểu mà biết đòi hỏi NNPQ của mình phải được thiết kế như thế nào và biết sử dụng nó ra sao. Như cậu đã nói nhiều lần, NNPQ chỉ tồn tại khi người dân vận hành nó trong thực tế. Ngay cả có thiết kế tốt mà người dân không sử dụng thì nó cũng chẳng tồn tại. Tuy nhiên, để tụi con biết được đại khái cấu trúc thiết kế của một NNPQ, cậu sẽ giới thiệu sơ qua quá trình thiết kế Nhà nước Liên bang Hoa kỳ trong Hội nghị lập hiến 1787 và so sánh nó với những mô hình thiết kế khác. Sau đó cậu sẽ tập trung hơn vào phân tích những sức mạnh nhân dân.

6/ Cấu trúc thiết kế của một NNPQ qua cái nhìn về sự hình thành nhà nước liên bang Hoa Kỳ trong Hội Nghị Lập Hiến 1787 so sánh với mô hình khác

Hội nghị lập hiến Mỹ 1787

Hội nghị lập hiến Mỹ 1787

21/5/2015

Nước Mỹ thời lập hiến đang chứng kiến sự thất bại của Chính quyền Hợp bang (Confederation Government). Những người sáng lập nước Mỹ và những người cầm quyền đã nhận ra nguyên nhân thất bại là do chủ nghĩa lý tưởng của họ. Họ đã từng tin rằng nếu họ có mục đích tốt, lý tưởng đẹp vì mọi người thì xã hội sẽ diễn ra theo ý họ. Họ tin bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ là một sự bảo đảm vững chắc để người Mỹ vốn đã có khát khao dâng trào về tự do và độc lập sẽ hành động vì một nước Mỹ tươi đẹp. Sau này họ đã thừa nhận mình quá ngây thơ khi chứng kiến một xã hội rối loạn chỉ vài năm sau khi giành được độc lập. Một nguyên nhân thất bại khác là họ không muốn đi theo mô hình Nhà nước Anh, có kẽ một phần vì họ mới đánh nhau “sứt đầu mẻ trán” với nước này để giành độc lập , dù Anh quốc đã xây dựng thành công nền dân chủ hiện đại đầu tiên trên thế giới. Đã có tin đồn là G. Washington từ chối làm Vua theo đề nghị của một nhóm mạnh thuộc quân đội. Dù ông ấy đã bác bỏ tin đồn này nhưng nhiều người vẫn tin chuyện ấy là có thật vì Washington không muốn hiểu lầm là mình gây áp lực để có ghế trong chính quyền mới. Tụi con cần hiểu là nền quân chủ chuyên chế/tập quyền là mô hình nhà nước phổ biến trên toàn thế giới vào thời đó. Dường như chỉ có nước Anh là đã chuyển sang chế độ quân chủ lập hiến sau mấy trăm năm cải cách từ từ (gradualism) để biến đỗi bản chất của nhà nước và xã hội từ quân chủ sang dân chủ. Cũng đã có một số quốc gia khác ở Châu Âu đã bắt đầu đi vào tiến trình cải cách này giống Anh nhưng hầu hết vẫn còn đang mang bản chất quân chủ nặng hơn dân chủ. Còn nước Pháp thì lúc đó đang phát triển lên tới đỉnh điểm mâu thuẫn giữa sự chuyên chế của nền quân chủ và sự đòi hỏi dân chủ ngày càng mạnh mẽ của người dân. Nhưng vua Louis … (đệ mấy cậu quên rồi ) không thức thời mà đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và tiến hành cải cách như Anh và một số nước Châu Âu khác cùng thời. Vì thế mâu thuẫn này đã phát triển thành cuộc cách mạng bạo lực đẫm máu, lật đổ và chém đầu vua và hoàng hậu. Đó chính là cuộc Cách mạng dân chủ tư sản Pháp nổi tiếng vào 1789, khoảng 2 năm sau Hội nghị lập hiến Mỹ. Thực ra xu hướng cách mạng bạo lực đã phát triển trước đó, từ thời công xã Paris, đánh mất niềm tin và cơ hội để triều đình Pháp có thề tiến hành cải cách từ từ như ở Anh. Nói chung, bối cảnh Châu Âu – lục địa chi phối xu hướng phát triển của thế giới lúc đó đang có 2 trào lưu là cải cách từ từ và cách mạng bạo lực. Nước Mỹ đã bị ảnh hưởng bởi trào lưu thứ hai, một phần vì đòi hỏi của dân thuộc địa Mỹ đã không được vua Anh đáp ứng mà còn bị đàn áp, phần khác là vì vũ lực thời ấy vẫn còn là giá trị phổi biến và chẳng bị lên án hiệu quả.

Khái niệm về nền cộng hòa đã gần như bị lịch sử cho vào quên lãng sau khi đế chế La Mã kết thúc khoảng hơn 1200 năm trước đó. Republic (cộng hòa) có nguồn gốc từ tiếng Latinh có nghĩa là dân quốc, tức đất nước của nhân dân, khác với Monarchy (quân chủ) là đất nước của Vua. Những tệ nạn và sự tàn bạo La Mã, nhất là vào cuối đời của nó đã để lại những hoài niệm chẳng mấy tốt đẹp về nền cộng hòa. Nhưng người Mỹ từ trước khi giành được độc lập vẫn khát khao xây dựng được một nền cộng hòa mới. Khát khao ấy thể hiện trong Tuyên ngôn Độc lập và trở thành một quyết tâm mạnh mẽ sau khi họ đánh bật quân Anh khỏi lãnh thổ Mỹ. Họ không muốn tái lập mô hình quân chủ đã cai trị họ như thuộc địa hàng trăm năm qua. Họ muốn nước Mỹ phải thực sự là của người dân Mỹ tức phải thực sự là cộng hòa cả hình thức lẫn bản chất. Nhưng với bối cảnh chính trị và lịch sử phát triển nền chính trị thế giới thời đó rất thiếu vắng kiến thức và kinh nghiệm của một nền cộng hòa, thì thất bại của chính quyền Hợp bang là chuyện dễ hiểu. Ta cũng có thể hiểu thêm sự thất bại này từ sự thắng thế của tâm thức chiến tranh và giá trị vũ lực sau thắng lợi của cuộc chiến giành độc lập đầy hy sinh và gian khổ. Tụi con thử nghĩ xem vì sao nước Mỹ đã vượt qua được những thách thức như vậy? Trước và sau Mỹ , những nước giành được độc lập bằng khởi nghĩa vũ trang thì sau đó chính quyền dân tộc lại tái lập bản chất quân chủ chuyên chế cai trị người dân còn hà khắc hơn cả ngoại bang, tước đoạt hơn nữa QCN của họ. Ở những nước này, sức mạnh của cơ bắp, của những kẻ giỏi thủ đoạn sử dụng quyền lực để trấn áp luôn lên ngôi vì “công trạng giải phóng dân tộc”. Đó là tình trạng của Nam Mỹ, những nước cách không xa Mỹ. Tụi con đã nghĩ ra chưa? Đó chẳng phải là một vận may ngẫu nhiên của nước Mỹ đâu. Họ đã vượt qua được những thách thức ấy, vượt qua được cái bẫy của tâm thức chiến tranh là chính nhờ sự vận động tự do. Chính quyền Hợp bang dù không bảo vệ hiệu quả QCN nhưng cũng không đàn áp sự tự do của người dân. Chính khát vọng tự do của người Mỹ và quyết tâm sử dụng quyền tự do của họ đã làm cho những sự đàn áp như thế không thể nẩy sinh, ít ra là trong khoảng thời gian tồn tại cùa chính quyền Hợp bang. Cậu thòng thêm khoảng thời gian này vì có nhiều ý kiến cho rằng nước Mỹ sẽ trượt sâu vào bạo lực và phát triển thành một chế độ độc tài nếu chính quyền Hợp bang không ra đời. Trong một môi trường mọi người có quyền vận động tự do như vậy thì giá trị của tri thức, khoa học và chân lý sẽ thắng thế dù đang tồn tại phổ biến các giá trị của bạo lực, giáo điều và bè phái. Các học giả trẻ tuổi như Hamilton lúc lập hiến mới 32 tuổi và sau này trở thành bộ trưởng tài chính đầu tiên của chính quyền Liên bang, Madison (37 tuổi) được mệnh danh là cha đẻ Hiến pháp Mỹ và sau này trở thành Tổng thống thứ 5, họ đã nổi lên như những Người truyền lửa xuất chúng để thuyết phục người dân Mỹ lựa chọn con đường khoa học dù trước đó họ không phải là những người có ảnh hưởng trong chính trường hoặc có sức hút với công chúng. Chính 2 người này đã đề nghị Quốc hội Hợp bang xem xét lại Các điều ước Hợp bang (Articles of the Confederation) và việc này đã dẫn đến Hội nghị lập hiến. Trong khi đó những người từng là các lãnh đạo chiến trường nổi tiếng trong cuộc chiến giành độc lập lại kiên quyết phản đối và cuối cùng tẩy chay Hội nghị, trong đó có Patrick Henry có sức hút lớn với công chúng bởi khẩu hiệu: “Tự do hay là chết”. Họ là những người yêu nước tự do, đầy nhiệt huyết nhưng thiếu hiểu biết khoa học. Họ cho rằng Hội nghị lập hiến là âm mưu nhằm xóa bỏ, lật đổ chính quyền hợp pháp mà họ tin rằng nó là biểu tượng của cuộc cách mạng giành độc lập Mỹ và đang làm tốt việc bảo vệ tự do và độc lập cho người Mỹ. Họ bị ảnh hưởng tâm thức chiến tranh nặng nề, che lấp sự hiểu biết và tính tìm tòi khoa học. Đó là lý do vì sao nhiều người tin rằng nếu con đường khoa học của những Người truyền lửa Madison, Hamilton không thắng thế thì nước Mỹ đã đi theo con đường của tâm thức chiến tranh với sự thắng thế của những người phủ đầy hào quang từ chiến trường. Nếu họ nắm quyền thì, không sớm thì muộn, sẽ dùng quyền lực để bảo vệ cho những niềm tin giáo điều của mình. Nước Mỹ bạo quyền là điều khó tránh khỏi.

give_me_liberty_or_give_me_death_by_fourdaysfromnow-d6r8s8m

Patrick Henry – một lãnh đạo chiến trường nổi tiếng có công cho độc lập của nước Mỹ. Nhưng so với những Madison, Hamilton ông hoàn toàn thiếu đi sự hiểu biết khoa học trong thiết kế một nhà nước pháp quyền. Nước Mỹ có lẽ sẽ khác đi rất nhiều nếu xu thế của ông thắng thế

Con đường khoa học đã thắng thế nhưng không phải bằng sự áp đặt của quyền lực mà bằng sự vận động, thuyết phục người dân (nếu bằng quyền lực thì sẽ phản khoa học ngay ). Thuyết phục lại không phải là chuyện dễ dàng trong bối cảnh chưa tồn tại một nhà nước cộng hòa nào theo đúng thực chất của từ này vào lúc đó trên thế giới để người Mỹ có thể hình dung được. Nghĩa Tổng thống của từ President lúc ấy chưa hề tồn tại. Người ta chỉ biết đến vua hay nữ hoàng là những người đứng đầu tối cao của một quốc gia quân chủ. Ngay cả thời La Mã, người đứng đầu nhà nước không phải do sự truyền nối hoàng gia mà do Viện Nguyên lão (tức quốc hội) bầu ra nhưng vẫn được gọi là vua/hoàng đế (vì đặc tính này mà họ được gọi là nền cộng hòa, chứ không phải vương quốc La Mã). Nền dân chủ thành công nhất lúc đó lại là của nước Anh. Nhưng đó là kết quả được tạo ra sau một quá trình vận động mấy trăm năm từ Đại Hiến chương Magna Carta 1215 (được xem là Tuyên Ngôn Nhân quyền đầu tiên của thế giới), chứ không phải là kết quả của một mô hình được định trước. Lịch sử phát triển của Anh cũng khác xa Mỹ. Quan điểm bảo hoàng (conservative) luôn thắng thế ở Anh vì Hoàng gia Anh thường chấp thuận sự đòi hỏi của dân chúng để cải cách theo hướng chuyển giao quyền lực từ vua/nữ hoàng sang cho nhân dân. Quan điểm này đã hình thành nên conservative Party mà tụi con thấy vẫn còn tồn tại mạnh ở Anh đến ngày nay và được dịch là đảng Bảo thủ. Dễ hiểu là quan điểm này không thể thắng thế ở Mỹ. Mà dù có được ủng hộ thì việc sao chép một mô hình sẽ luôn dẫn đến thất bại vì, như chúng ta đã phân tích nhiều lần, mô hình đấy không bảo đảm là kết quả của sự vận động của người dân. Nhưng nếu để sự vận động này diễn ra bình thường, thiếu chất xúc tác của những người có thái độ cân bằng/khoa học – tức ánh sáng của những Người truyền lửa thì quá trình ấy sẽ mất rất nhiều thời gian, có thể hàng chục hàng trăm năm. Trong khi đó, xã hội Mỹ lúc ấy đã rơi vào tình trạng rối ren và bạo lực đã bắt đầu phát triển, nên sự vận động tự do nhưng thiếu ánh sáng khoa học hoàn toàn có thể dẫn tới một kết quả tồi tệ nhấn chìm nước Mỹ. Nhưng người Mỹ đã không để tình trạng đó xảy ra nhờ khát vọng tự do của toàn dân và nhờ họ có những Người truyền lửa xuất chúng – những học giả, nhà khoa học hiểu được Quy luật phát triển xã hội, Quy luật của Công lý, Quy luật tiến hóa (thời đó Thuyết tiến hóa của Darwin chưa ra đời, nhưng qua những gì họ lý luận, cậu tin là họ đã hiểu được những cốt lõi của sự tiến hóa và đấu tranh sinh tồn). Có lẽ vì thời gian cấp bách, họ không phát triển sự hiểu biết đó thành các lý thuyết đầy đủ, mà họ áp dụng kiến thức ấy để suy tưởng ra một thiết kế nhà nước cộng hòa thực sự của dân, do dân, vì dân đầu tiên trên thế giới. Nói cách khác, thiết kế đó là kết quả của sự suy tưởng theo quy luật mà nếu để cho xã hội vận động trên thực tế thì các quy luật ấy cũng sẽ dẫn đến một kết quả tương tự. Bằng cách đó họ có thể rút ngắn đáng kể thời gian mò mẫm và sai lầm khi xã hội vận động thực tế. Nhưng nếu tầm nhìn đó chỉ tồn tại trên giấy và trong đầu của họ thì chẳng có giá trị. Xã hội được vận động bởi con người, Nhà nước phải được vận hành bởi nhân dân. Nếu người dân không có hiểu biết như những người thiết kế Nhà nước thì dân vẫn hành động chẳng ăn nhập gì với thiết kế ấy. Nó sẽ trở nên vô nghĩa và gây hại. Vì vậy mà những người thiết kế Nhà nước Mỹ đã thực hiện một cuộc Cách mạng suy tưởng thông qua những cuộc tranh luận và thuyết phục người dân ủng hộ bản Hiến pháp như cậu đã kể trong nhiều thư trước về CMST (cách mạng suy tưởng) (*) (**) và CCXHKH.

22/5/2015

Cuộc vận động ủng hộ Nhà nước Liên bang theo Hiến pháp thực sự là một cuộc Cách mạng Suy tưởng sâu rộng nhất của nước Mỹ về tư tưởng xây dựng Nhà nước và cách thức giải quyết những vấn đề của xã hội. Nó diễn ra gần một năm, từ cuối tháng 9/1787 đến cuối tháng 7/1788 và đã tác động sâu sắc đến ý thức của người Mỹ nhờ những cuộc tranh luận công khai trước công luận. Giai đoạn này ghi nhận sự đóng góp hiệu quả của “Các bài luận Người liên bang” (Federist papers) của Hamilton, Madison và John Jay. Họ đã phân tích cho công chúng hiểu Nhà nước Liên bnag được thiết kế dựa trên bản chất của con người. Có lẽ để tránh bị phản ứng hoặc bị lợi dụng bởi những người phản đối, họ không gọi thẳng đó là bản chất hướng lợi. Nhưng sự diễn giải của họ cho thấy rõ hàm ý về bản chất hướng lợi. Cùng với những lý luận sắc xảo và khoa học, họ đã làm cho người dân thấy được rằng” với bản chất như thế và để vận động cho lợi ích của mình thì họ cần một Nhà nước Liên bang như vậy. Do đó ý thức của nhân dân tiến gần đến tầm nhìn của những người thiết kế nhờ sự suy tưởng theo cùng một bản chất và quy luật. Điều này không chỉ giúp thông qua Hiến pháp mà còn đặt nước Mỹ vào một điểm xuất phát mà nếu theo sự vận động bình thường họ có thể mất cả chục cả trăm năm mới tới được đó. Đây chính là giá trị vĩ đại của suy tưởng, của một cuộc cách mạng suy tưởng. Nó có thể giúp cho một dân tộc vượt nhanh lên trước nhờ thay đổi được ý thức theo một tầm nhìn thuận quy luật. Cậu nhấn mạnh “thuận theo quy luật” vì có như vậy mới là suy tưởng, ngược lại chỉ là sự cưỡng bức tư tưởng. Tụi con cần lưu ý rằng cốt lõi của sự phát triển xã hội chính là sự phát triển của ý thức con người. Trong đề tài CCXHKH chúng ta đã phân tích rằng Bàn tay vô hình tự động điều chỉnh ý thức của con người thông qua sự vận động tự do của họ và làm xã hội phát triển. Những người thiết kế Nhà nước Liên bang Mỹ không những hiểu rõ quy luật này mà còn biết tạo ra xúc tác để thúc đẩy quá trình của nó nhanh hơn bằng một cuộc cách mạng suy tưởng. Chỉ 2 năm, từ Hội nghị Lập hiến/1787 đến khi Washington nhậm chức Tổng thống 4/1789 nước Mỹ đã thiết lập được một Nhà nước dân chủ hiệu quả – điều mà nước Anh đã mất cả trăm năm và rất nhiều quốc gia khác đến giờ vẫn chưa có được. Nhà nước đó đã đưa nước Mỹ phát triển rực rỡ, thu hẹp nhanh chóng khoảng cách với Châu Âu và cuối cùng vượt lên số một. Người Nhật đã học theo cách này và còn làm tốt hơn như thế nhiều từ cuộc Duy Tân Minh Trị. Chỉ bằng suy tưởng trong vài năm thôi, dân tộc Nhật đã thoát ra khỏi bóng tối và bước một bước dài, bỏ lại mấy trăm năm lạc hậu. Với tâm thế của ý thức nhờ sự suy tưởng ấy, chỉ 30 năm sau nước Nhật đuổi kịp Châu Âu và Mỹ. Thần kỳ quá phải không tụi con! VN chúng ta làm được không? Và có thể làm tốt hơn nữa không? Sao lại không chứ? Còn tốt hơn nhiều nữa là khác. Đã có kinh nghiệm của nhân loại, đã có hiểu biết về các quy luật, chúng ta còn cần gì hơn nữa? Tụi con nghĩ đi nhá! Mai cậu trả lời.

7/ Làm sao để có một cuộc cách mạng suy tưởng ở VN?

24/5/2015

Cậu hẹn hôm qua nhưng quên đó là ngày nhà mình lên thăm nên hôm nay mới trả lời . Dựa theo 3 Điều kiện của Quy luật của Công lý (Quy luật tiến đến thừa nhận lẽ phải) thì trả lời được thôi. Có đứa nào nghĩ đúng không? Báo cáo đi sẽ có thưởng . Thư sau cậu sẽ cho đáp án.

Sau khi đã xác định được các mục đích thiết kế, các nhà thiết kế Nhà nước Mỹ phải tính đến cấu trúc của nó – tức là tổ chức của Nhà nước – để sự vận hành của từng cấu trúc và sự tương tác của chúng sẽ tạo nên được kết quả đáp ứng được mục đích thiết kế. Đây mới chính là công việc tạo ra sự khác biệt, không khó lắm để xác định được những mục đích đúng và tốt đẹp, nhưng làm sao để đạt được nó là một thách thức lớn đòi hỏi sự hiểu biết quy luật lẫn con người. Không khó để xác định máy bay phải an toàn, ít tốn xăng, tiện dụng, v.v… nhưng chỉ có ít công ty chế tạo ra được những chiếc máy bay như thế. Chúng không chỉ có động cơ, những đôi cánh, những cần điều khiển cho phi công mà còn cần những hệ thống kiểm tra nhiên liệu, kiểm soát không lưu, các hệ thống hỗ trợ, đường băng và bãi đáp v.v… Phi công phải chịu sự giám sát và hỗ trợ của rất nhiều người khác trong khi lái máy bay và anh ta chỉ có quyền tự ý quyết định trong tình trạng khẩn cấp khi mà mọi sự hỗ trợ từ mặt đất không còn làm gì được nữa. Lúc ở ngoài cậu có làm một bảng so sánh vui giữa các chức năng của một NNPQ và một máy bay . Nhưng giờ cậu quên rồi.

Hội nghị Lập hiến Mỹ đã nghiên cứu hầu hết các mô hình nhà nước từ thời cổ đại đến tận thời điểm đó. Mô hình Vương quốc Anh đương nhiên là cho nhiều gợi ý và bài học quý giá vì đó là quốc gia thành công nhất vào thời đó trên cả phương diện dân chủ lẫn cường thịnh. Nhưng người Mỹ không muốn có vua như Anh được truyền nối bời Hoàng gia. Họ muốn người đứng đầu Nhà nước phải được bầu lên nhưng cũng không muốn theo cách bầu các hoàng đế La Mã. Ngay cả ý tưởng bầu một người đứng đầu Nhà nước và để người đó ở vị trí ấy suốt đời, chết mới bầu người khác cũng bị bác bỏ dễ dàng tại Hội nghị Lập hiến. Họ biết là phải cần có người đứng đầu nhà nước không lệ thuộc vào các thế lực nước ngoài và không bị chi phối bởi các phe phái trong nước. Vua hay nữ hoàng Anh đạt được những yêu cầu này bởi một lịch sử hình thành lâu dài của hoàng gia đã tạo cho họ một tài sản và lợi ích quá lớn để có thể bị mua chuộc. Hơn nữa, uy tín của Hoàng gia và lòng ngưỡng mộ của dân chúng dành cho Hoàng gia đã được xác lập vững chắc mấy trăm năm rồi. Điều này đảm bảo cho họ một sự độc lập về chính trị. Nước Mỹ không có hoàng gia, giờ có lập ra thì chẳng thể đạt được yêu cầu như vậy. Cũng chẳng thể liệt kê một lô một lốc các tiêu chuẩn đạo đức như yêu nước, thương dân, không tham nhũng, mị dân; tham vọng; quyền lực; v.v… rồi hy vọng vào đó.

britain-royal

Hoàng gia Anh đã được xác lập vững chắc mấy trăm năm rồi. Điều này đảm bảo cho họ một sự độc lập về chính trị. Nước Mỹ không có hoàng gia, giờ có lập ra thì chẳng thể đạt được yêu cầu như vậy

29/5/2015

Không chỉ vì hy vọng ấy là sự bắt đầu của cái “Bẫy đạo đức”, mà đó còn là sự ảo tưởng về phương pháp. Phương pháp này giống như một cái sàng giữ lại tất cả trừ những kẻ siêu đạo đức giả. Trong Hội nghị lập hiến Mỹ, nhiều người đã dẫn ra “cái mạng nhện” của Solon để mô tả về những ảo tưởng tương tự, giống như một cái lưới chỉ bắt được những người trung thực và những người nghèo. Tiêu chuẩn yêu nước là một mong muốn tốt đẹp, nhưng tụi con thử nghĩ mà xem, nếu đưa nó ra để làm đòi hỏi cho một cuộc tranh cử tổng thống thì các ứng cử viên sẽ thi nhau ca bài ca yêu nước với những ca từ vút tận mây xanh. Trong khi nhu cầu của người dân là những gì thực tế liên quan đến cuộc sống của họ. Rồi nếu đưa tiếp những tiêu chuẩn như phải có tầm nhìn, trí tuệ, bản lĩnh … thì nó sẽ trở thành một mê hồn trận với cử tri, chẳng biết đâu mà lần đối với vô số các tiêu chuẩn khó đoán định và chỉ cảm tính. Từ đó có thể phát sinh ra một nhu cầu cần những người và cơ quan quyền lực nào đó “giúp dân” đánh giá sàng lọc trước, giống như cái kiểu luật bầu cử mới ở Hồng Kông mà TQ mới áp đặt làm nổ ra các cuộc biểu tình phản đối: người dân HK “tha hồ” lựa chọn từ những người đã được chính quyền TQ “giúp” tuyển chọn trước. Cái kiểu mị dân, độc tài này chưa xảy ra vào thời nước Mỹ lập hiến vì khi đó thế giới chỉ toàn các chế độ quân chủ xác lập chủ quyền tối thượng của Hoàng gia. Nhưng người Mỹ lúc đó đã thấy trước những nguy cơ như vậy và đã tránh được cho đến tận ngày nay nhờ thiết kế Nhà nước hiệu quả. Đã có không ít ý kiến trong Hội nghị lập hiến phản đối việc để cho người dân bầu trực tiếp các đại diện của mình tại các cơ quan nhà nước vì cho rằng “dân hiểu biết hạn chế” và vì tình trạng bè phái, dân chủ giả hiệu, vô chính phủ đang nổi lên phổ biến. Nhưng những người như Wilson, Madison cương quyết bảo vệ quyền này của dân và đưa ra nhiều phương án khoa học để khắc phục những vấn đề của nó. Chúng ta sẽ đề cập đến các phương án này trong các thư sau.

Trở lại việc thiết kế cho vị trí đứng đầu nhà nước. Đầu tiên người Mỹ định dùng từ First Magistrade cho vị trí này nhưng sau đó đã lựa chọn từ President là một từ phổ biến nhưng tới lúc đó chưa từng có nghĩa là Tổng thống như tụi con vẫn nghe sau này. Vua Anh thời đó là người đứng đầu Nhà nước và đang trong tiến trình chuyển giao quyền lực dần về cho Quốc hội (lập pháp) và Chính phủ (hành pháp) với Thủ tướng Anh là người đứng đầu chính phủ thực hiện quyền hành pháp. Đây chính là đặc tính chính của mô hình nhà nước mà sau này được thế giới gọi là “Cộng hòa Tổng thống” mà trong đó Tổng thống có quyền lực rất lớn. Thiết kế này xuất phát từ nhu cầu lúc đó là Mỹ cần một chính quyền Liên bang mạnh để giải quyết nhiều vấn đề mà thư sau chúng ta sẽ đề cập. Cũng từ nhu cầu này nên việc thiết kế sự bầu chọn Tổng thống không để cho Quốc hội bỏ phiếu trực tiếp nhằm bảo đảm tính độc lập của Tổng thống đối với Quốc hội. Mà cử tri Mỹ sẽ bỏ phiếu bầu Tổng thống của mình thông qua các Đại cử tri. Đây là một thiết kế độc đáo của Mỹ mà dường như chưa có nước nào khác áp dụng. Các Đại cử tri sẽ được bầu chọn theo từng bang theo nguyên tắc “được ăn cả ngã về không” mà tụi con đã nghe rồi phải không: ứng cử viên Tổng thống nào nhận được số phiếu của cử tri nhiều nhất tại một bang thì sẽ chiếm trọn số Đại cử tri của bang đó. Cậu không đủ thời gian để phân tích hết về những tác dụng hay của cơ chế này. Tụi con nên tự tìm hiều thêm vế nó. Điều cậu nhấn mạnh là: các mô hình chỉ là kết quả thể hiện ra hình thức từ sự thiết kế dựa trên bản chất gắn với mục đích. Rất nhiều nước sau này bắt chước mô hình cộng hòa Tổng thống vì thấy Mỹ quá thành công nhưng hầu hết đều thất bại, đến giờ vẫn lạc hậu chưa phát triển vì không hiểu được bản chất của thiết kế. Các nước này để tổng thống vừa đứng đầu nhà nước vừa đứng đầu chính phủ và để dân trực tiếp bỏ phiếu tổng thống. Tổng thống được tập trung quyền lực rất lớn như vậy nhưng lại thiếu thiết kế bảo đảm sức mạnh của nhân dân, cơ chế kiểm soát quyền lực, buộc trách nhiệm và giải trình như ở Mỹ. Vì vậy mà các nước này luôn tạo ra các chế độ độc tài trên nền đa đảng bất chấp ai được bầu lên làm tổng thống. Đó là tình trạng của hầu hết các nước Mỹ La tinh đã kéo dài hàng trăm năm nay, của đa số các nước Châu Phi từ khi giành được độc lập giữa thế kỷ 20 đến nay mà điển hình nhất có lẽ là tổng thống Mugabe của Zimbabwe, sắp tới hơi thở cuối cùng rồi mà vẫn chưa muốn rời ghế tổng thống sau hơn 50 năm tại vị. Ở gần VN ta thì có Indonesia và Philippines 2 nước cộng hòa tổng thống độc tài khét tiếng với 2 tổng thống Suharto và Marcos. Gần đây họ có tiến bộ nhưng cậu tin là nếu họ không cải cách hơn nữa để gia tăng sức mạnh nhân dân và sự kiểm soát quyền lực hiệu quả hơn nữa thì sự tiến bộ đó sẽ không bền vững. Hàn quốc cũng là nước có mô hình cộng hòa tổng thống nhưng đã tiến hành cải cách để có được thành công như ngày nay. Sau thế chiến II, bán đảo Triều Tiên giành độc lập từ Nhật rồi trải qua nhiều rối loạn và cuối cùng là chia cắt 2 miền Nam, Bắc cho đến tận bây giờ. Miền Nam chịu ảnh hưởng của Mỹ và thiết lập nhà nước theo mô hình cộng hòa tổng thống. Gần 20 năm sau Thế chiến II, trong khi Nhật đã phục hồi mạnh mẽ thì Nam Triều Tiên vẫn chìm trong khó khăn và tham nhũng. Cuộc đảo chính của Park Chung Hee (cha của bà tổng thống Park Geun-hye bây giờ) xảy ra trong bối cảnh đó. Sau một vài năm cầm quyền theo kiểu quân sự, ông ấy tổ chức bầu cử và trở thành tổng thống và bắt đầu thiết lập nền độc tài cũng theo mô hình công hòa tổng thống. Dù đã tạo nên những thành tích ấn tượng về kinh tế nhưng nền độc tài này cũng gây nên vô số vấn nạn. Cuối thập niên 1970 Tổng thống Park Chung Hee bị ám sát chết. Các đời tổng thống sau đó được bầu lên còn độc tài hơn dù sức đấu tranh cùa các đảng đối lập đòi dân chủ hóa cũng mạnh lên. Đến cuối thập niên 1980 xu hướng dân chủ mới dần thắng thế và thúc đẩy cải cách cho đến tận ngày này; trong đó có việc thiết kế thêm vị trí Thủ tướng đứng đầu chính phủ để giảm bớt quyền hành pháp của Tổng thống. Nhưng Thủ tướng HQ hiện nay vẫn có ít quyền lực hơn Tổng thống nhiều, khác với mô hình công hòa đại nghị.

Mô hình cộng hòa đại nghị tương đương với mô hình quân chủ lập hiến, người đứng đầu nhà nước (tổng thống, vua/nữ hoàng) không nắm quyền hành pháp. Quyền này thuộc về thủ tướng được Quốc hội bầu nên, chứ không phải dân bầu trực tiếp. Tổng thống hoặc vua/nữ hoàng dựa vào kết quả bầu chọn này mà bổ nhiệm hoặc phê chuẩn Thủ tướng chứ không có quyền lựa chọn vị trí đứng đầu hành pháp này. Họ là những người đứng đầu nhà nước để đại diện cho toàn dân nhằm bảo đảm mọi thiết chế nhà nước phải vận hành theo Hiến pháp, chứ không tham gia vào việc điều hành của Chính phủ, Quốc hội, Tòa án. Dễ thấy là thiết kế này không tập trung quyền lực vào tổng thống hay vua nên ít khả năng xảy ra độc tài hơn phải không? Thực tế trên thế giới, các nước sử dụng thiết kế này thành công nhiều hơn, phát triển hơn nhiều các nước cộng hòa tổng thống. Công hòa đại nghị thì có: Singapore, Đức, Israel, Phẩn Lan, Bồ Đào Nha,… Quân chủ lập hiến thì có: Anh, Nhật, Canada, Úc, Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Malaysia… Tụi con thử liệt kê và so sánh thì sẽ thấy rõ hơn.

26/5/2015

Thiết kế cách bầu cử là một việc rất quan trọng của NNPQ. Thiết kế tốt sẽ tạo ra những sự vận động tranh cử của những người ứng cử vào các thiết chế khác nhau của Nhà nước nhằm đáp ứng cho các quan điểm lợi ích của các nhóm khác nhau trong xã hội, từ đó tạo nên sự cân bằng lợi ích trong nhân dân. Muốn đạt được trạng thái tối ưu cho sự cân bằng này thì phải bảo đảm cho CCXHKH vận hành. Vận động tranh cử là sự vận động rất quan trọng trong xã hội. Muốn nó đạt được trạng thái cân bằng tối ưu thì nó cũng phải là vận động tự do, đòi hỏi tiên quyết của CCXHKH. Vì vậy có thiết kế theo kiểu nào đi nữa thì phải luôn bảo đảm vận động tranh cử tự do. Nhờ vậy mà Bàn tay vô hình sẽ tự động điều chỉnh các quan điểm đạo đức của những người bầu cử và ứng cử gặp nhau và đáp ứng được nhu cầu cho nhau. Điểm gặp nhau này cũng sẽ luôn thay đổi chứ không cố định theo một tiêu chuẩn cứng nhắc nào cả. Tụi con cần biết rằng ở các nước dân chủ thịnh vượng, ngay cả đạo lý yêu nước cũng rất khác nhau đối với từng người, từng nhóm, thậm chí là trái ngược nhau, chứ đừng nói là các đạo lý như “không vụ lợi, cá nhân” mà có thể đạt được nhận thức chung để định khung tiêu chuẩn. Thư sau sẽ nói rõ hơn về thiết kế bầu cử.

Đề tài NNPQ còn dài. Đứa nào quan tâm chi tiết về quá trình thiết kế NNPQ Mỹ thì nên tìm đọc quyền: “Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào” của Nguyễn Cảnh Bình. Không biết hiện giờ có tái bản không. Nó do Nhà xuất bản Lý luận chính trị xuất bản năm 2005 hoặc 2006 gì đó.

Thương tụi con.

This entry was posted in Thư Xuyên Mộc and tagged , , , , , , , , , , . Bookmark the permalink.

2 Responses to Nhà nước pháp quyền (phần 2) – Nguyên lý cơ bản để thiết kế nên một nhà nước pháp quyền (thư 43b)

  1. Pingback: Nhà nước pháp quyền (P.5) – Tự do ngôn luận đứng trên Tam Quyền phân lập: dấu hiệu của DÂN CHỦ. | Trần Huỳnh Duy Thức

  2. Pingback: Thư 47A – Nhà nước Pháp quyền (phần cuối) | Trần Huỳnh Duy Thức

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s