Nhà nước pháp quyền (phần 3) -Mô hình lưỡng viện đã thực hiện tối thượng QCN như thế nào?(Thư 44C)

Cho dù là "thượng nghị sĩ" hay "hạ nghị sĩ" bằng cách gián tiếp hay trực tiếp thì họ đều được bầu ra từ cái gốc là người dân Mỹ

Cho dù là “thượng nghị sĩ” hay “hạ nghị sĩ” bằng cách gián tiếp hay trực tiếp thì họ đều được bầu ra từ cái gốc là người dân Mỹ

Xuyên Mộc, 31/5/2015

Các con., cháu thương! Chúng ta tiếp đề tài NNPQ nhá.

1/ Cách lập pháp khoa học của Quốc Hội Mỹ, phân tích pros-con của mô hình lưỡng viện

44c-bicameral-congress

Lưỡng viện Hoa Kì

Thư 43B chúng ta đã nói về tầm quan trọng của việc thiết kế cách bầu cử. Việc này được phân tích rất kỹ trong Hội nghị lập hiến Mỹ. Đầu tiên là việc chọn các Hạ nghị sĩ (HNS) – là những dân biểu đại diện cho các cử tri theo từng khu vực địa lý. Số lượng HNS được tính theo quy mô dân số của từng bang và được phân bổ cho các địa phương trong bang cũng theo tỷ lệ dân số. Sau nhiều tranh cãi, phương án để cho cử tri trực tiếp bỏ phiếu chọn HNS từ các ứng viên tranh cử đã thắng thế. Tuy nhiên các nhà lập hiến Mỹ cũng nhìn nhận rất thực tế là trong nhiều trường hợp, dù đã bảo đảm tự do vận động tranh cử nhưng các cử tri vẫn có thể thiếu thông tin về ứng viên. Hơn nữa tính bè phái tự nhiên trong con người là không thể loại bỏ, và sẽ luôn tồn tại những chính trị gia mị dân khai thác sự thiếu hiểu biết của cử tri để giành quyền đại diện cho họ. Những vấn đề đó có thể tạo nên các HNS hoặc một Hạ viện thiếu tầm nhìn để hướng đến những lợi ích lâu dài. Mặt khác, vì cách bầu cử như vậy thì đương nhiên các NHS sẽ tập trung bảo vệ quyền lợi khu vực cử tri của mình, nên không thể tránh khỏi tính cục bộ địa phương. Nhưng không phải vì những vần đề này mà tước đoạt quyền bầu chọn trực tiếp của người dân để lựa chọn người đại diện trực tiếp cho mình trong thiết chế quyền lực cao nhất là Quốc hội. Đó là QCN bất khả xâm phạm, nên phải tìm cách để khắc phục những vấn đề ấy. Những vấn đề như thế hoàn toàn có thể phát triển thành tình trạng xâm phạm QCN một cách hợp pháp, vi phạm nguyên tắc “Thượng tôn QCN”. Nhưng người Mỹ đã giải quyết vần đề này rất thông minh, chứng tỏ hiệu quả đến tận ngày nay. Thứ nhất, HNS nhiệm kỳ chỉ có 2 năm để những vấn đề như trên có xảy ra thì người dân có thể nhanh thay đổi. Thứ hai, họ thêm một thiết chế là Thượng viên có quyền ngang với Hạ viện cả hai hợp thành Quốc hội Liên bang. Một dự luật muốn được thông qua thì phải được đa số tán thành ở cả 2 viện trước khi Tổng thống xem xét ban hành thành luật hay không. Tuy nhiên, số lượng Thượng nghị sĩ (TNS) không phụ thuộc vào quy mô dân số của từng bang, cũng không bị ảnh hưởng bởi bang lớn hay nhỏ về diện tích, mức độ ảnh hưởng hoặc tiềm lực; v.v… Mỗi bang được có 1 TNS và do Cơ quan lập pháp (Legislature) của bang (tức Quốc hội của bang đó) bầu nên chứ không phải do cử tri bầu trực tiếp. Nhiệm kỳ của TNS là 6 năm gấp 3 lần HNS, nhưng cứ mỗi 2 năm thì phải có 1/3 số lượng TNS được bầu lại. Nghĩa là nhiệm kỳ 6 năm của các TNS có thời điểm bắt đầu và kết thúc khác nhau, chứ không phải cùng bắt đầu và cùng kết thúc cùng một lúc như các HNS. Như vậy sẽ có 3 nhóm, mỗi nhóm có 1/3 số lượng TNS và có cùng thời điểm bắt đầu nhiệm kỳ để cứ 2 năm là sẽ có một cuộc bàu cử chọn các TNS, gần như cùng thời điểm với các cuộc bầu cử định kỳ 2 năm của HNS. Tụi con thấy được cái hay của thiết kế này chưa?

1/6/2015

Cơ quan lập pháp bang – nơi bầu nên TNS Liên bang – cũng do người dân bầu trực tiếp. Việc không để cho dân bầu trực tiếp TNS đại diện cho bang tại Thượng viện Liên bang là để tránh những vấn đề tương tự như bầu trực tiếp HNS. Nhưng dù không bầu trực tiếp thì cử tri của các bang vẫn có thể đòi hỏi và giám sát cơ quan lập pháp bang trong việc bỏ phiếu bầu chọn TNS. Các Dân biểu của cơ quan Lập pháp bang có thể có đầy đủ thông tin về các ứng viên TNS hơn là các cử tri và họ phải có trách nhiệm cung cấp nhữngthông tin như vậy cho cử tri để giải trình về lá phiếu họ dùng để bầu chọn TNS. Các TNS vì không nhận sự trao quyền trực tiếp từ cử tri và phải đại diện cho quyền lợi của cả bang nên quan điểm cục bộ địa phương của họ, nếu có, cũng khó thể mà phát triển được. Hơn nữa, khi hoạt động tại Thượng viện Liên bang, để có thể bảo vệ được hiệu quả quyền lợi cho bang mà mình đại diện, các TNS buộc phải cân nhắc đến quyền lợi của các bang khác để đạt được sự thỏa hiệp thành luật về rất nhiều các loại lợi ích khác nhau. Mỗi TNS chỉ có một phiếu tương đương với tất cả TNS khác, nên chẳng ai có thể khư khư lợi ích của bang mình mà đạt được bất kỳ sự thỏa hiệp nào. Thiết kế như vậy tự nhiên sẽ tạo nên sự vận động hướng đến sự cân bằng lợi ích giữa các bang, lợi ích quốc gia cũng được hình thành và bảo vệ từ đó. Sự tự nhiên cân bằng này chính là Trạng thái cân bằng tự nhiên mà ta đã đề cập trong CCXHKH.

Nhưng trên đây chỉ mới là Thượng viện. Muốn có thể trở thành luật thì còn phải thông qua Hạ viện. Tụi con phải nhớ rằng dù luật xuất phát từ viện nào thì buộc phải thông qua viện còn lại, viện nào cũng có quyền khởi xướng luật. Mà Hạ viện thì bao gồm các HNS là những người nhận trách nhiệm và sự trao quyền trực tiếp của cử tri để bảo vệ quyền lợi cử tri theo từng địa phương. Đây là trách nhiệm chính và trên hết của họ. Nên cục bộ địa phương không chỉ đương nhiên mà còn cần thiết. Không thế thì ai sẽ bảo vệ quyền lợi cụ thể cho các cử tri? Các TNS chỉ có thể hướng đến lợi ích tập thể của bang và Liên bang, nên nếu không có các HNS thì chắc chắn rằng quyền lợi cụ thể của các cử tri sẽ dễ dàng bị đem ra hy sinh bởi các TNS. QCN hoàn toàn có thể bị xâm phạm từ tình trạng như vậy. Một con người không thể giữ 2 trách nhiệm khác biệt nhau được. Mà vận động lợi ích của con người không thể chỉ rất khác biệt mà còn mâu thuẫn, thậm chí là xung đột nhau. Thiết kế Quốc hội Mỹ thể hiện bản chất của con người là ở chỗ này. Nó chuyển sự khác biệt, mâu thuẫn, xung đột lợi ích của nhân dân từ xã hội và nghị trường để các đại diện của họ tự do vận động nhằm đạt được thỏa hiệp cân bằng lợi ích cho họ. Một sự mô hình hóa thông minh và hiệu quả. Đây chính là thiết kế để bảo đảm cho khu vực LẼ PHẢI THỎA ƯỚC thuộc CCXHKH vận động được. Tụi con nhớ không/ Khu vực này để giải quyết nhưng khác biệt mà khu vực LẼ PHẢI CƠ BẢN đã không hoặc quá chậm để đạt được những quy tắc đạo lý tự nguyện giữa người dân với nhau. Ta đã phân tích nhiều rằng Bàn tay vô hình sẽ tự động điều chỉnh ý thức của con người để họ tự nguyện đáp ứng lợi ích của nhau. Người dân sẽ tự cân bằng hầu hết lợi ích của mình tại khu vực LẼ PHẢI CƠ BẢN (Đạo lý) này, chỉ còn lại số ít là những khác biệt sẽ được giải quyềt bằng thỏa hiệp pháp lý. Hiểu được CCXHKH như thế thì mới thiết kế được các thiết chế nhà nước đảm bảo cho cơ chế đó vận hành. Nhờ vậy mà những khác biệt và mâu thuẫn lợi ích sẽ được giải quyết êm đẹp, không phát triển thành xung đột. Một tỷ lệ rất nhỏ trở thành xung đột thì cũng sẽ thông qua các thiết chế/cơ chế đó mà giải quyết và tháo ngòi nổ nó nên nó không thể lan tràn thành xung đột vũ trang. Các vụ đốt phá ở Mỹ liên quan đến những người da đen bị cảnh sát bắn chết chính là những xung đột của một nhóm cử tri cảm thấy các thiết chế nhà nước hiện nay không đảm bảo cho lợi ích của họ. Nhưng vì cực đoan nên thay vì biểu tình ôn hòa hoặc thông qua những cách thức vận động khác để đạt được lợi ích của mình thì họ lại chọn cách đốt phá. Họ sẽ phải đối mặt với công lý. Nhưng sự xung đột này cũng đã buộc các thiết chế của hành pháp, lập pháp, tư pháp phải xem xét lại những vấn đề của mình mà điều chỉnh để tránh những trục trặc như thế. Chứ không phải vì những hiện tựng xung đột như vậy mà dẫn tới việc hạn chế, cấm đoán QCN tùy tiện, làm động lực phát triển bị ảnh hưởng.

Vì không hiểu quy luật và các nguyên lý thiết kế NNPQ nên rất nhiều nước tạo ra các Quốc hội một viện và quy định các đại biểu trong đó phải vừa đại diện cho quyền lợi của cử tri địa phương vừa đại diện cử tri toàn quốc. Điều này phản khoa học và luôn tạo ra các quan điểm lợi ích chung rất mơ hồ, có thể bị lợi dụng hoặc cố tình sử dụng để xâm phạm quyền lợi của từng cá nhân, từng nhóm người trong xã hội một cách dễ dàng. Vẫn có một số nước thành công với Quốc hội một viện nhưng họ thiết kế những thiết chế khác để giải quyết các vấn đề tương tự. Quốc hội lưỡng viện không phải là cách thức duy nhất. Nhưng cách thức nào thì cũng chỉ có thể thành công khi hiểu biết và phân tích thiết kế thật thấu đáo.

Quốc hội lưỡng viện không phải sáng tạo của người Mỹ. Vào thời đó người Anh đã thành công với mô hình này. Xa xưa hơn nữa là La Mã với Viện Nguyên lão và các Tribune mà cậu đã kể cho tụi con trong thư 30 rồi. Nhưng Mỹ không thể bắt chước Anh vì Quốc hội lưỡng viện Anh là kết quả vận động của người dân sau mấy trăm năm. Năm 1215 các nhà quý tộc Anh vận động vua John buộc phải ký Đại hiến chương Magna Carta cam kết bảo đảm QCN cho dân Anh. Từ đó hình thành nên Nghị viện Anh, ban đầu chính là các quý tộc này (được cha truyền con nối). Sự vận động bền bỉ của người dân Anh đưa tới đòi hỏi phải có những người ngoài tầng lớp quý tộc có đại diên trong Nghị viện. Từ đó mới hình thành nên Viện bình dân gồm những người được bầu nên từ các thị dân tự do và giới chủ. Các quý tộc trong Nghị viện cũ thì tiếp tục hợp lại thành viện quý tộc. Từ đó Nghị viện (Quốc hội) Anh có 2 viện. Sự vận động liên tiếp của người dân đòi quyền bỏ phiếu cho dân nghèo, nông dân, phụ nữ,… đã làm cho Viện bình dân liên tục phát triển, sau này gọi là Hạ viện là nơi bầu ra Thủ tướng Anh – người đứng đầu hành pháp chứ không đứng đầu Nhà nước. Dễ thấy là Mỹ không thể đi theo quá trình của Anh, mà bắt chước mô hình thì chắc chắn thất bại. Quốc hội lưỡng viện của Mỹ chỉ có hình thức giống giống của Anh thôi, chứ mục đích thiết kế và bản chất vận động thì khác nhau nhưng dịch ra tiếng Việt thì ta gọi giống nhau là Thượng viện và Hạ viện.

Cậu muốn liên hệ một chút với VN mình. Tư tưởng sơ khai về Quốc hội lưỡng viện ở nước ta xuất hiện từ rất sớm, sớm hơn cả bên Anh. Đó là vào thời kháng chiến chông Nguyên Mông dưới nhà Trần giữa cuối thế kỷ 13. Thời đó Nhà Trần đã tổ chức 2 Hội nghị Bình Than và Diên Hồng để tập hợp sức mạnh nhân dân đánh ngoại xâm. Hội nghị Bình Than chẳng phải là nơi tập hợp của giới quý tộc, Hội nghị Diên Hồng là nơi tập hợp của giới bình dân đó sao? Đây là một tư tưởng rất rất tiến bộ, thuộc hàng bậc nhất ở Đông Á thời đó. Nhờ vậy mà chúng ta đã có sức mạnh đẻ đánh bại 2 cuộc xâm lược khổng lồ của quân Nguyên Mông mạnh nhất thời đại lúc đó. Đó là 2 cuộc kháng chiến vào 1285 và 1288, trong vòng chưa đầy 3 năm mà vẫn tập trung đủ năng lượng để đánh bại và chấm dứt luôn ý chí xâm lược của một đế quốc lớn nhất mọi thời đại. Nhưng đáng tiếc là tư tửng tiến bộ vượt bậc này chỉ tồn tại vào thời chiến. Nếu có thì giờ này chúng ta là nước Anh ở phương Đông rồi . Lý do của sự đáng tiếc bởi tâm thức chiến tranh đã ngự trị sau những chiến công oanh liệt, tư tưởng ấy đã bị giới quý tộc phong kiến ém ngay vì sợ nhân dân đe dọa quyền lợi và sự hưởng thụ của mình. Trong khi đó thì người dân Đại Việt cũng chẳng ý thức được sức mạnh của tư tưởng đó dành cho mình. Nó chết luôn là vì thế . Suy ngẫm lịch sử này có tạo cho chúng ta một bài học rất đắt giá cho việc bảo vệ và xây dựng tổ quốc hiên nay không? Trần Hưng Đạo trước khi qua đời đã nhắc lại với hậu thế cần khoan thư sức dân để làm kế giữ nước lâu dài. Giá như Ngài để lại một bản thiết kế Nhà nước Quân chủ với 2 viện Bình Than và Diên Hồng thì có lẽ giờ này TQ chẳng dám xây căn cứ quân sự và 2 ngọn hải đăng ở Trường Sa, có chiếm được đâu mà xây. Lịch sử thế giới có lẽ cũng khác, hè hè. Tư tưởng lấy dân làm gốc rất phổ biến ở phương Đông từ thời Trung đại nhưng bằng phương pháp đức trị, nên suốt thời kỳ này chẳng có nước nào ở khu vực này thực sự xây dựng được cái gốc nền như vậy. Chỉ có đến thời hiện đại thì mới có Nhật làm được và thành công rực rỡ. Đất nước hơn bao giờ hết cần một bản thiết kế NNPQ.

"Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến" - tinh thần hội nghị bình than - diên hồng tạo nên sức mạnh đánh tan cường quốc to lớn nhất mọi thời đại - Mông Cổ

“Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến” – tinh thần hội nghị bình than – diên hồng tạo nên sức mạnh đánh tan cường quốc to lớn nhất mọi thời đại – Mông Cổ

Nhiệm kỳ của Tổng thống Mỹ được ấn định trong Hội nghị lập hiến là 7 năm và không được tái cử. Nhưng về sau này được sửa lại như bây giờ là 4 năm và không được liên tục quá 2 nhiệm kỳ. Nó được tính toán sao cho thời điểm bầu cử tổng thống gần hoặc trùng với cuộc bầu cử lại toàn bộ Hạ viện và 1/3 Thượng viện. Rồi cuộc bầu cử 2 năm sau đó để bầu lại toàn bộ Hạ viện và tiếp tục 1/3 Thượng viện sẽ rơi vào giữa nhiệm kỳ của tổng thống. Như vậy người dân Mỹ sẽ thường xuyên và đều đặn có cơ hội sử dụng quyền bỏ phiếu của mình để bày tỏ quan điểm, đòi hỏi và lựa chọn chính sách cũng như những người đại diện cho mình tại Quốc hội và lựa chọn tổng thống. Đó là chưa kể những cơ hội sử dụng lá phiếu của cử tri để bầu chọn thống đốc bang và cơ quan lập pháp bang. Đây chính là các thiết kế để “người dân có thề và có quyền sử dụng quyền lực để bảo vệ và mưu cầu lợi ích cho mình” mà chúng ta đã đề cập trong thư trước (43B). Nó trái ngược với tình trạng người dân ở các nước độc tài hoặc toàn trị mà cậu hay kể, 5-7 năm đi bỏ phiếu một lần cho tất tần tật các bộ máy từ trên xuống dưới rồi cất cái quyền ấy vào tủ, phải không? Thiết kế đó của Mỹ còn hay ở chỗ nó giúp tổng thống đánh giá được lòng dân đối với các chính sách của mình vào giữa nhiệm kỳ. Tụi con có nhớ cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ của tổng thống Obama hồi cuối năm ngoái không? Đảng Cộng hòa giành được đa số tại cả Thượng viện lẫn Hạ viện. Khi biết kết quả Obama đã phát biểu: “Tôi hiểu cử tri muốn nói gì. Tôi cũng hiểu vì sao tỷ lệ đi bầu thấp”. Đây là những dịp rất quan trọngđể cử tri Mỹ gửi thông điệp đến giới hành pháp lẫn lập pháp đồng thời gây áp lực đến với họ, buộc họ phải quan tâm đến nguyện vọng của mình. Cũng là dịp để họ điều chỉnh để đáp ứng lòng dân nếu không muốn bị bất tìn. Một thiết kế hiệu quả thì không được trông chờ vào sự ban phát trách nhiệm của quan chức mà phải buộc họ thực hiện trách nhiệm. Viết đến đây cậu lại nghĩ đến Putin, tùy tiện sửa Hiến pháp Nga tăng nhiệm kỳ tổng thống từ 4 năm lên 6 năm để ngồi cho lâu hơn, và để cử tri Nga cũng “rảnh rang” hơn . Ông ta thiệt là thương dân .

2/6/2015

Nước Mỹ thời lập hiến chỉ có 13 bang, tất cả đều ở miền Đông. Như vậy Thượng viện có 13 TNS. Sau này Hiến pháp được điều chỉnh để mỗi bang có 2 TNS. Nước Mỹ mở rộng dần lên 50 bang nên hiện hay Thượng viên Liên bang có 100TNS. Cách thức bầu TNS cũng có thay đổi một chút nhưng bản chất và mục đích thiết kế vẫn như thời lập hiến. Thêm 1 TNS cho một bang để bảo đảm tính đa dạng hơn trong các quan điểm về lợi ích chung. Đối với Hạ viện và HNS cũng vậy, có những điều chỉnh nhưng cấu trúc thiết kế vẫn như ban đầu, thay đổi để mục đích thiết kế đạt được tốt hơn mà thôi. Sau khi Hiến pháp Liên bang có hiệu lực, các bang cũng học theo cấu trúc này để thiết kế chính quyền địa phương cấp bang và các cấp nhỏ hơn. Vì vậy mà tụi con thấy ở các bang cũng có Thương viện, Hạ viện, TNS và HNS (HNS cấp bang thường được dích là Dân biểu. Congressman hay Congresswoman là HNS Liên bang , cũng có lúc dịch là Dân biểu Liên bang). Tuy nhiên mỗi bang đều có những hiệu chỉnh riêng để bản chất thiết kế phù hợp với đặc tính riêng của từng bang.

2/Nạn bè phái – làm sao để hóa giải?

25c-cover-wp

Liên kết với nhau để bảo vệ lợi ích cho bản thân là tính cách vốn dĩ ở con người

Nhìn kỹ cầu trúc của Chính quyền Liên bang, các chính quyền bang và các câp nhỏ hơn của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, tụi con sẽ thấy rằng chúng được thiết kế để chia rẽ chứ không phải thống nhất, bao gồm cả việc chia rẽ phe phái và quyền lực, đặc biệt là quyền lực nhà nước. Tụi con nghe ngạc nhiên không? Chắc chắn là rất ngạc nhiên nữa là khác. Sao tên nước là Hợp (United) mà thiết kế lại là “chia”. Mà “chia” sao lại tạo ra kết quả là một khối vững chắc như vậy? Cậu dừng một lát cho tụi con suy nghĩ, cậu cũng giải lao một chút, mỏi tay quá.

Giải pháp trực quan là sai lầm phổ biến của con người. Ngày xưa người ta muốn bay được thì nghĩ ngay đến gắn cho mình những đôi cánh như chim, chẳng mấy ai đi tìm hiểu quy luật. Cũng vậy, muốn có một quốc gia mạnh thì các ông vua/bà hoàng nghĩ ngay đến việc lập nên một nhà nước tập trung được mọi quyền lực vào tay mình để mình có thể giúp mọi người thực hiện sức mạnh. Chúng ta đã phân tích nhiều ví dụ về nhà nước tập quyền từ xưa đến nay và đều thấy nhiều vấn đề cũng như xu hướng lụn bại của chúng. Nhưng vì thói quen say mê quyền lực cùng với sự thiếu hiểu biết quy luật nên tư tưởng thống nhất quyền lực nhà nước vẫn còn phổ biến trên thế giới ngày nay. Nó chính là nguyên của sự chậm tiến và của nhưng nguy cơ đe dọa hòa bình thế giới và chủ quyền quốc gia. Nhà nước TQ hiện nay là điển hình của sự thống nhất quyền lực nhà nước tạo ra sự chậm tiến và những nguy cơ như vậy. Những nhà nước tâp quyền – thống nhất quyền lực nhà nước – không thể hiện được bản chất của con người nói riêng và xã hội nói chung. Bản chất căn bản của con người là hướng lợi. Nhưng đó không phải là lợi ích thống nhất, mà rất đa dạng và thường xuyên thay đổi. Một người hôm nay đang rất chú trọng lợi ích vật chất nhưng ngày mai sẽ quan tâm rất nhiều đến lợi ích tinh thần, hôm nay đang theo tôn giáo này nhưng có thể ngày mai sẽ cải đạo sang tôn giáo khác, v.v… Chẳng ai đong đếm được các loại lợi ích mà một người theo đuổi cũng như sự thay đổi của chúng. Vì tính đa dạng đó của con người nên đương nhiên môi trường vận động của họ – tức là xã hội – cũng phải như vậy. Cho nên bản chất của xã hội là đa nguyên. Một nhà nước “của dân, do dân, vì dân” thì trước hết phải đáp ứng cho bằng được bản chất hướng lợi đa dạng của con người. Phải thể hiện được bản chất này vào trong thiết kế của nhà nước. Nói cách khác, mọi quyền lực của nhà nước chỉ có thể được hình thành từ một nguồn gốc duy nhất là sự vận động của nhân dân theo bản chất đótức là sự vận động tự do. Chỉ có như vậy thì “Mọi quyền lực của nhà nước mới thuộc về nhân dân”. Mà tính chất của sự vận động hướng lợi của con người là tự do, đa dạng và không thống nhất nên nó không thể tạo ra quyền lực nhà nước thồng nhất. Vì thế mà sự thống nhất quyền lực nhà nước chỉ có thể là sự cưỡng ép (chứ không phải vận động tự do) bằng ý chí của những người nắm quyền lực mà thôi. Đó là nguồn gốc của sự độc tài/toàn trị.

Như đã nói, Nhà nước Mỹ được thiết kế để thể hiện bản chất của con người. James Madison rất nhiều lần bảo vệ nguyên lý này trong Hội nghị lập hiến và trong lúc tranh luận để thuyết phục dân chúng ủng hộ Hiến pháp. Nguyên lý này đòi hỏi phải thừa nhận bản chất đa nguyên của xã hội với tất cả những sự tồn tại của nó như các phe phái, nhóm lợi ích, sự chia rẽ, sự không thống nhất, … Trong một con người còn không thống nhất thì giữa những con người với nhau làm sao thống nhất được. Tuy nhiên chính các phe nhóm là mơi dễ thống nhất về lợi ích và tâm trạng chung. Bởi vì tâm lý đám đông/bản năng bầy đàn, sự thống nhất này có thể phát triển thành các bè phái lớn mạnh, chèn ép các phe nhóm nỏ hoặc các cá nhân bất đồng và các thiểu số yếu thế. Madison đã nói rằng: “Ngay cả với những tổ chức thúc đẩy đạo đức, như một tôn giáo nào đó, khi nó thành đa số và có quyền thì sẽ đàn áp các tôn giáo khác”. Cậu đã nhiều lần đề cậ0p về những xã hội độc tài dưới các chế độ đa đảng mà cầm quyền là những kẻ ma mãnh giỏi lợi dụng tâm lý bầy đàn để tạo ra các bè phái đa số bỏ phiếu cho mình. Đây là hậu quả của những nhà nước được thiết kế kém, chỉ đơn thuần dựa trên quy tắc “đa số thắng thiểu số”. Những kẻ ma mãnh chẳng khó lắm để tạo ra các tâm trạng chung rất lớn và những lợi ích chung rất nhỏ để lấy sự ủng hộ của đa số cử tri, nhất là ở những nước kém phát triển và đầy rẫy vấn nạn xã hội. Ví dụ như họ sẽ bày tỏ mạnh mẽ về sự bất bình đối với bất công và đổ tội lỗi và nguyên nhân cho người giàu, thể hiện sự thông hiểu sâu sắc sự uất ức của người nghèo đối với người giàu và sự tham nhũng. Rồi họ thề hứa sẽ chống tham nhũng đến cùng. Đơn giản như vậy thôi thì họ đã tạo nên được một tâm trạng chung với hầu hết các cử tri nghèo vốn chiếm đa số ở những quốc gia như thế. Sau đó họ còn hứa sẽ “cướp của người giàu chia cho người nghèo” nếu như họ thắng cử. Khi cầm quyền thì họ cũng làm như thật: quốc hữu hóa một vài doanh nghiệp khổng lồ nào đó và tăng trợ cấp gì đó cho các đối tượng thuộc diện đã bỏ phiếu cho họ. Đó chỉ là những khoản tiền rất nhỏ so với những cơ hội mà họ tước đoạt của người nghèo, nhưng nó lại thừa sức để tạo ra một lợi ích chung để hình thành nên bè phái cùng với tâm trạng chung. Tụi con thử xem các cuộc vận động tranh cử tổng thống Argentina, Venezuela, Bokivia, Nga trước đây và sắp tới coi có giống như trên không. Nhưng mà không được bắt chước nha hôn! Đất nước mình sẽ chôn chân ở bẫy thu nhập trung bình hàng trăm năm nữa nếu đi vào con đường như thế.

3/6/2015

Những kẻ ma mãnh như thế có ở khắp mọi nơi trên thế giới, cả ở những nức đã phát triển văn minh như Mỹ. Nhưng tại những nước này cơ hội thành công của họ rất thấp vì các nhà nước được thiết kế hiệu quả. Giả sử vào lúc này mà vì một lý do nào đó Nhà nước Mỹ bỏ đi thiết kế thay bằng mô hình cộng hòa tổng thống như ở Nga thì những kẻ ma mãnh mị dân cũng sẽ nổi lên làm tổng thống và đẩy nước Mỹ vào sự khốn đốn mà thôi. Thậm chí Mỹ hoàn toàn có thề phát triển thành một chế độ toàn trị mà ở đó một thiểu số nhỏ dùng quyền lực tước đoạt hầu hết QCN của dân Mỹ, chèn ép lợi ích của đại đa số. Giả định này không thể xảy ra vì ý thức mạnh mẽ về tự do, QCN của người Mỹ sẽ không bao giờ cho phép điều đó. Họ có thể sai lầm trong một vài bối cảnh nhưng sớm muộn gì cũng điều chỉnh được, và sẽ không bao giờ cho phép thay đổi thiết kế Nhà nước đe dọa đến tự do QCN của họ. Cậu giả sử như thế để nhấn mạnh tầm quan trọng của một thiết kế NNPQ. Có nói hay thế nào mong muốn tốt đẹp đến đâu mà không hiểu quy luật để thiết kế một nhà nước đạt được mục đích thì kết quả chỉ có thể là độc tài, toàn trị ở những mức độ khác nhau mà thôi. Dù ở mức độ nào thì lợi ích của mọi người dân cũng bị xâm phạm và thiệt thòi nghiêm trọng, trừ một thiểu số nhỏ liên quan đến quyền lực. Lý do là những thiết kế kém hiệu quả không bảo đảm được quy tắc “Thượng tôn QCN”, một là chỉ tồn tại hình thức, hai là bị tức đoạt hầu hết.

Thừa nhận bản chất của con người và xã hội không có nghĩa là chấp nhận để cho những sự tiêu cực của nó hoành hành. Các tiêu cực này là điều mà tụi con nghe ca thán ở khắp mọi nơi như tham nhũng, tham lam, dối trá vì lợi, chà đạp đạo lý và bất chấp pháp lý để trục lợi, v.v… Các vấn nạn này có thể quy về một mối gọi là nạn bè phái. Nó có động cơ từ bản chất hướng lợi và bản năng “con” trong “con người”, nhất là bản năng bầy đàn vốn thường dẫn đến sự bóp méo sự thật, độc tôn mình và chèn ép người/nhóm khác mà cậu đã phân tích trong đề tài Công lý. Tụi con nghĩ xem có đúng không: hầu hết những vấn nạn nghiêm trọng của xã hội đều xuất phát từ nạn bè phái. Động cơ nói trên nếu chỉ tồn tại đơn lẻ ở một cá nhân, không cấu kết với những người khác, thì khả năng gây hại rất thấp nên không trở thành vấn nạn. Như vậy, để giải quyết các vấn nạn xã hội, cần tập trung giải quyết nạn bè phái. Thư 25C cậu đã viết rằng: “Phải thừa nhận tính bè phái để giải quyết nạn bè phái”. Hãy nghe những lập luận của các nhà lập hiến Mỹ về cách giải quyết bè phái này:

 

James_MadisonMadison: “Nạn bè phái là nguy cơ lớn đối với chính quyền của nhân dân. Không gì kiểm soát được sự thôi thúc nhằm hy sinh lợi ích của phe phái yếu hơn. Tình trạng này dễ dẫn đến bất ổn và những cuộc nổi loạn để lật đổ. Phe phái là một nhóm công dân, dù tập hợp thành đa số hay thiểu số, được thống nhất và thúc đẩy bởi tâm trạng và lợi ích chung, trái ngược với những quyết định của công dân khác, hoặc với lợi ích của cả cộng đồng. Nên cần hạn chế sự hòa hợp và đồng nhất”.

JamesWilsonWilson: “Nhiều người thường viện dẫn lợi ích chung, kể cả bảo vệ chủ quyền và chống xâm lược, để thâu tóm quyền lực cho phe nhóm. Nhưng tội lỗi và những điều tai hại lại xuất hiện ở những chỗ ít đáng nghi nhất. Nguy cơ xâm lược chưa xảy ra và hoàn toàn có thể bị dập tắt nhưng các loại quyền lực như thế đã gây nên vô số vấn nạn. Và: “Quyền lực tối thượng của mọi thể chế. Không thể sang nhượng bởi bản chất tự nhiên và ý nghĩa lớn lao của nó, phải thuộc về nhân dân. Nguồn gốc cao quý duy nhất của mọi hạnh phúc và thịnh vượng trên mảnh đất này chính là nhân dân”.

Madison: Các khác biệt đảng phái và lợi ích càng ít thì đa số trong một đảng càng dễ hình thành và họ càng dễ xây dựng, thực thi âm mưu và sự đàn áp của họ”; “Khi đa số thống nhất một mục đích hay tâm trạng chung thì quyền của thiểu số sẽ bị đe dọa. Đâu là động cơ để kiềm chế nguy cơ này? Trung thực là chính sách tốt nhưng ít được coi trọng. Lương tâm là sự ràng buộc còn lại duy nhất nhưng lại khác nhau ở các cá nhân, đa số hầu như có ít lương tâm. Tôn giáo cũng có thể trở thành động cơ ngược đãi hay chèn ép. Nguồn gốc của những luật pháp bất công chính là lợi ích đa số. Giải pháp là phải mở rộng nhà nước lên toàn lãnh thổ để xã hội chia thành rất nhiều những phe phái và lợi ích khác nhau, và tại cùng một thời điểm đa số không thể tập hợp lại để có một lợi ích chung khác biệt với lợi ích của toàn thể hay của thiểu số. Ngay cả họ có chung một lợi ích như vậy thì họ cũng không thể tập hợp thống nhất theo đuổi lợi ích này. Vì thế phải cần mô hình nhà nước Liên bang để kiểm soát được mọi tội ác mà chúng ta từng chứng kiến”

Madison phân tích tiếp: “Có hai cách giải quyết tác hại của nạn bè phái: (1) Loại bỏ động lực của phe phái; (2) Kiềm chế ảnh hưởng của chúng. Có hai cách để loại bỏ động lực của phe phái (a) tiêu diệt quyền tự do – yếu tố sống còn cho tồn tại phe phái; (b) làm cho mọi công dân có chung tâm trạng và lợi ích. Rõ ràng là cách (a) không khôn ngoan (vì triệt tiêu luôn động lực phát triển xã hội), còn (b) thì không thực tế. Như vậy giải pháp (1) là không thể được. Chỉ còn giải pháp (2) là thực tế và hiệu quả”

Từ đó ông đưa ra ý tưởng và nguyên lý thiết kế: Mỗi chính quyền phải có ý chí độc lập của riêng mình. Cho nên sự bổ nhiệm thành viên của mỗi nhánh (quyền lực nhà nước) phải ít lệ thuộc vào nhánh khác. Quy tắc này phải được tuân thủ chặt chẽ, qua đó: tất cả các quan chức lập pháp, hành pháp, tư pháp phải được bầu chọn trên một nền tảng chung của uy quyền là nhân dân nhưng phải thông qua những cách thức riêng biệt không liên quan nhau. Sự bảo đảm tốt nhất để ngăn chặn sự tập trung quyền lực dần dần vào tay một cơ quan là phải trao cho những người điều hành mỗi nhánh chính quyền những biện pháp hợp hiến cần thiết và những động lực cá nhân để chống lại sự lạm quyền của người khác. Tham vọng chống lại tham vọng. Quyền lợi của cá nhân phải được ràng buộc với các quyền hợp hiến của chức vụ đó. Đây chính là sự phản ảnh bản chất của con người. Bản chất của chính giới chính là sự thể hiện to lớn bản chất của loài người. Cụm từ mỗi chính quyền ở đầu dấu ngoặc kép là muốn nói đến tất cả chính quyền trong nhà nước Liên bang, từ chính quyền Liên bang đến cấp bang, bao hàm cả các nhánh hành pháp, lập pháp, tư pháp của mỗi chính quyền. tụi con thấy quan điểm thiết kế của cha đẻ Hiến pháp Mỹ nhằm chia rẽ các thiết chế và quyền lực của Nhà nước cương quyết ghê hôn? Tập quyền là mong muốn của phe phái, là nguyên nhân của nạn bè phái và là thủ phạm của sự xâm phạm QCN. NNPQ phải thượng tôn QCN nên phải thiết kế để triệt tiêu tập quyền – sự thống nhất quyền lực nhà nước – ở mọi cấp độ. Chê trách xã hội, Quốc hội Mỹ chia rẽ là chuyện khá buồn cười. Nhưng sự chia rẽ dựa trên sự vận hành của quy luật thì không phải là sự phân rã, mà ngược lại sẽ tạo nên một sự gắn kết vững chắc.

Hãy nghe Madison lập luận tiếp: Làm sao để lợi ích của từng cá nhân sẽ chính là biện pháp bảo vệ quyền lợi của cả công đồng thì sẽ hình thành nên những lợi ích đối trọng và trái ngược nhằm tạo ra những động cơ tốt hơn trong mọi hoạt động của loài người. Nếu đa số thống nhất một lợi ích chung thì quyền của thiểu số sẽ không được an toàn. Có 2 giải pháp để tránh thống nhất lợi ích chung: (1) tạo ra một ý muốn của cộng đồng độc lập với ý muốn của đa số, tức là tạo ra lợi ích chung cho toàn xã hội; (2) làm cho ý định không đúng đắn của đa số trở nên vô cùng khó khăn và không thể thực hiện được. Giải pháp (1) thường thấy trong các chính quyền cha truyền con nối hoặc tự phong chức cho bản thân, chỉ an toàn tạm thời vì ý chí độc lập với toàn xã hội cũng có thề chấp nhận theo ý muốn của đa số hoặc của thiểu số, hoặc chống lại ý muốn của cả hai. Giải pháp (2) là của chính quyền Liên bang: quyền lực của nhà nước bắt nguồn và phụ thuộc vào bản thân của xã hội vốn tự chia cắt thành những phe phái khác nhau về lợi ích và tầng lớp”.

Tụi con có nhận ra rằng các giải pháp của Madison chính là để từng người trong xã hội, chứ không phải mọi người một cách chung chung, được bảo đảm sự tự do để vận động cho lợi ích của mình. Không một ai kể cả những phe phái lớn mạnh có thể bóp chẹt sự vận động của mỗi cá nhân đơn lẻ, chứ đừng nói là của những phe phái yếu hơn. Vì vậy mà mọi sự vận động lợi ích đều phải tìm cách đáp ứng lợi ích của nhau giữa từng cá nhân và các phe phái. Đây chính là nguyên lý của Bàn tay vô hình mà khi nó được bảo đảm thì CCXHKH sẽ tự vận hành, đưa xã hội đến trạng thái cân bằng tự nhiên và thúc đẩy nó phát triển bởi SỨC ĐẨY PHÁT TRIỂN THEO QUY LUẬT. Như ta đã phân tích trong CCXHKH – khi sự vận động tự do được bảo đảm dù những vận động là khác nhau, trái ngược nhau thì Bàn tay vô hình sẽ vẫn hướng chúng về trạng thái cân bằng và làm cho chúng cùng phát triển. Đây cũng chính là trạng thái gắn kết vững chắc của xã hội cho dù nó vốn tự chia rẽ. Người Mỹ đã hiểu rất rõ Quy luật phát triển xã hội (thời lập hiến Mỹ Adam Smith vừa công bố lý thuyết Bàn tay vô hình) và CCXHKH nên mới thiết kế được một Nhà nước khoa học như vậy. Dù họ không giải thích cụ thể cơ chế vận hành của xã hội theo quy luật nhưng qua thiết kế của họ, cậu tin là họ hiểu rất rõ cơ chế đó, chứ không phải là một sự ngẫu nhiên may mắn. Chính nhờ quan sát sự vận hành thực tế của xã hội Mỹ và phân tích cấu trúc thiết kế của Nhà nước Mỹ mà cậu đúc kết chi tiết ra CCXHKH như đã viết cho tụi con. Nhức đầu chưa?

Tạm nghỉ ở đây nha. NNPQ vẫn còn tiếp. Thương tụi con

This entry was posted in Thư Xuyên Mộc and tagged , , , , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s