Nhà nước pháp quyền (phần 4) – Tinh thần luật của một nhà nước Pháp Quyền (Thư 45B)

Letter45b-wp-cover

Xuyên Mộc, 10/6/2015

Các con, cháu thương. Chúng ta tiếp đề tài NNPQ nha.

A- NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN KHÔNG BAO GIỜ NHẰM MỤC ĐÍCH BẢO VỆ ĐẢNG CHÍNH TRỊ.

RULE OF LAW

Thư 44C đã nói về cách thiết kế của Nhà nước Mỹ là chia rẽ để giải quyết nạn bè phái. Nhưng chia rẽ dựa trên sự vận hành của quy luật thì không phân rã, mà sẽ tạo ra sự gắn kết xã hội vững chắc. Qua câu chuyện này tụi con lại thấy một sai lầm trực quan phổ biến khác của rất nhiều người cầm quyền trên thế giới. Họ nghĩ đơn giản, xem đoàn kết như những vector toán học cùng hướng về một hướng nên cố gắng làm cho mọi người trong xã hội trở thành những chiếc vector đồng hướng. Mà khi quyền lực trong tay thì cách trực quan dễ nhất  là cưỡng ép ý muốn của dân chúng theo cái mà họ nghĩ là có lợi chung. Kết quả luôn là một xã hội bị mất động lực phát triển và bị tha hoá bởi quyền lực. Rất nhiều nhà độc tài xuất phát từ người yêu nước là do quá trình tha hoá như vậy.

Kim_Il-sung

Từ yêu nước đến độc tài là ranh giới rất mong manh

Chính thể toàn trị khét tiếng Bắc Triều Tiên hiện nay bắt đầu từ một thanh niên yêu nước đầy nhiệt huyết Kim Nhật thành. Nhưng vì thiếu hiểu biết quy luật và khoa học, đồng thời bị truyền cảm hứng mạnh bởi những thành tích “loé sáng” của Đức quốc xả thời Hitler và của LX thời Stalin, ông ta mơ ước biến Triều Tiên thành một thiên đường trong phút chốc, khi chưa nắm được quyền lực tuyệt đối, ông ta đã hứa hẹn những viễn cảnh vô cùng tốt đẹp (mà những người tự trọng không bao giờ dám hứa) để nhận được sự ủng hộ “tuyệt đối”. Đến khi nắm được quyền lực tuyệt đối thì ông ta cưỡng ép toàn dân làm theo những cách mà ông ta nghĩ chỉ vài bước là tới thiên đường. Mọi người hùn hục làm theo cả chục năm nhưng vẫn chỉ thấy đói nghèo. Thay vì thừa nhận sai lầm để thay đổi, ông ta sợ người khác chỉ trích những lời hứa hảo huyền của mình nên dẫn tới sự đàn áp. Bịt miệng, tước đoạt toàn diện quyền tự do ngôn luận. Thay vào đó là sự tuyên truyền độc quyền của ông ta rằng xã hội Bắc triều Tiên đã là thiên đường, là số một thế giới, ngoài xã hội ấy chỉ toàn là những thứ xấu xa, giẫy chất. Trước khi chết, ông ta sợ sẽ bị trả thù nên đã triệt hạ và thủ tiêu tất cả những mầm mống nào mà ông ta nghĩ có thể đe doạ đến triều đại của mình, kể cả những người thân thích đã từng rất thân cận để bảo đảm cho con trai mình là Kim Chong-Il lên ngai. Một kiểu thanh trừng giống hệt các vua chúa phong kiến xưa. Giờ thì cháu nội ông ta đã lên làm vua và thần dân Triều Tiên vẫn ảo tưởng đáng thương rằng mình đang sống ở nơi tốt nhất thế giới nhờ những lãnh tụ sáng suốt yêu nước cha truyền con nối đó. Vì vậy mà nếu nay mai Kim Jong Un không may chết đi, họ cũng sẽ khóc vật vã như ông nội và cha ông ta chết vậy. Việc thống nhất Triều Tiên có lẽ sẽ không quá lâu nữa nhưng hoà nhập hai miền là một thách thức ghê gớm để đưa ý thức người dân Bắc Triều Tiên trở lại thực tế bình thường. Tụi con tìm đọc về Gadhaphi để xem hồi trẻ ông ta yêu nước nồng nàn thế nào.

Ước muốn tốt đẹp rất nhiều người có nhưng chỉ có rất ít người hoàn thành được. Hầu hết các dân tộc trên thế giới đều có một ước mơ tốt đẹp ngay từ lúc khởi thuỷ nhưng số người được sống trong những xã hội tốt đẹp chỉ là thiểu số nhỏ trên thế giới, khát vọng tự do, độc lập là rất cần thiết nhưng chưa đủ. Phải có hiểu biết quy luật và hành động khoa học thì mới biến khát vọng ấy thành cuộc sống tốt đẹp được. Một bài học mà tụi con nên nghiên cứu là Công hoà Nam Phi ngày nay. Họ đã trải qua hàng trăm năm để giành độc lập từ Anh và cũng gần trăm năm để giành lại quyền tự do cho tất cả mọi người không phân biệt màu da, sắc tộc, đánh dấu bằng cuộc tổng tuyển cử tự do lịch sử vào năm 1994. Nhưng hơn 20 năm rồi họ vẫn lình xình, chưa có dấu hiệu gì có thể bứt phá được. Trong khi đó vấn nạn bè phái đang hoành hành ngày càng nghiêm trọng ở đất nước này. Cách đây vài tuần cậu nghe thời sự nói phong trào bài người da trắng và nước ngoài đang lan ra nhiều vùng Nam Phi. Nếu họ không điều chỉnh lại thiết kế Nhà nước thì không những không thể cất cánh mà còn bị tai nạn. Thiết kế của họ có rất nhiều vấn đề mà cậu không có thời gian để phân tích hết, chỉ nói một việc là cách bầu cử Quốc hội người dân Nam Phi đi bầu là bỏ phiếu lựa chọn các đảng chính trị, rồi đảng nào đạt tỷ lệ phiếu nào đó thì sẽ chỉ định người của mình vào Quốc hội. Số người được chỉ định nhiều hay ít tuỳ thuộc vào tỷ lệ phiếu bầu giành được. Cậu không phải phân tích nhiều thì tụi con sẽ thấy được cách thức này gia tăng sự bè phái như thế nào. Nó trao quyền cho các đảng phái chính trị kiểm soát những người là Đại biểu của dân trong Quốc hội. Không khó để hiểu vì sao nạn bè phái theo màu da, chủng tộc đã hình thành trong chính trường Nam Phi ngay trong lúc mà Nelson Mandela đang đương nhiệm Tổng thống (1994-1999). Như chúng ta đã bàn nhiều, nạm bè phái mà không giải quyết được thì không thể bảo vệ lẽ phải để phát triển. Khi Mandela còn sống, dưới ảnh hưởng quá lớn của ông, các lãnh đạo của đảng ANC cầm quyền còn phải e dè. Giờ thì chẳng có gì kiềm chế được các lãnh đạo bè phái đầy quyền lực của ANC. Thiết kế của Nhà nước Nam Phi không những không giúp kiềm chế hiệu quả sự lạm dụng quyền lực, mà còn đẩy những lỗ hổng thúc đẩy những chính trị gia mị dân nắm được nhiều quyền lực nhờ tạo ra bè phái. Trước đây người da đen chiếm đa số trong xã hội bị người da trắng tước đoạt tự do, giờ thiểu số người da trắng đang bị đe doạ bởi nạn bè phái sắc màu. Bất chấp những nỗ lực không mệt mỏi của Mandela nhằm hoà hợp dân tộc, Nam Phi giờ đây đứng trước nguy cơ chia rẻ sắc tộc không thể xem thường. Khi còn ở ngoài, cậu có những người bạn Nam Phi cả da đen lẫn da trắng bắt đầu ca thán và cảm thấy mệt mỏi vì nạn bè phái màu da ở đất nước mình. Không biết mấy năm nay họ có nhận ra nguồn gốc của vấn đề để giải quyết tận gốc chúng hay không. Tên của nhiều lãnh tụ ANC được đặt cho rất nhiều nơi ở Nam Phi, có thể đáp ứng cho tâm lý đám đông nhưng lại là mầm mống của bất mãn.

Các thiết kế Nhà nước tốt thì không bao giờ nhắm mục đích bảo vệ/bảo hộ cho các đảng chính trị, dù là cho một đảng hay nhiều đảng hoặc nói chung là các đảng như trường hợp của Nam Phi. Đảng phái chính trị về bản chất là những hội, nhóm của những người có chung các quan điểm chính trị, ý thức hệ nào đó. Họ tập hợp lại một cách tự nguyện bằng việc sử dụng QCN của mình (quyền tự do lập hội). Vì vậy khi thượng tôn QCN thì đương nhiên phải thừa nhận việc tự do lập ra các đảng chính trị của người dân và các quan điểm chính trị khác nhau của họ. Việc cần phải làm là xây dựng luật để điều chỉnh việc đăng ký và hoạt động của các đảng. Nó cũng tương tự và đơn giản như việc tụi con đi đăng ký thành lập công ty và vận hành công ty vậy thôi. Phải dựa theo luật mà hoạt động để đừng phạm luật mà bị chế tài. Việc gắn kết các thành viên trong một đảng như thế nào là công việc của đảng đó, không phải việc của Nhà nước. Tương tự như một công ty phải biết cách để gắn kết các cổ đông, nhân viên, ban điều hành của mình để nó có thể phát triển, có được nhiều khách hàng và lợi nhuận. Làm như Nam Phi là cưỡng ép những người muốn hoạt động chính trị, buộc họ phải theo những đảng phái nào đó. Nó đánh mất sự tự nguyện và cũng tước đoạt luôn quyền vận động chính trị của những người muốn hoạt động một mình. Điều này rõ ràng là xâm phạm quy tắc QCN phải được bảo vệ trên hết cho từng người, tức là xâm phạm quy tắc tiên quyết của NNPQ là “Thượng tôn QCN”. Vì vậy đừng hy vọng những chiếc “máy bay” như thế bay được mà không gặp trục trặc nghiêm trọng. Ở Mỹ, người ta thường thấy các chính trị gia thuộc hai đảng Dân chủ và Cộng hoà nhưng thực tế vẫn có những chính trị gia có ảnh hưởng là những người hoạt động một mình, chẳng theo bất kỳ đảng phái nào. Sự ảnh hưởng của 2 đảng này là kết quả của sự vận động tự do của những người ủng hộ hoặc chia sẻ quan điểm của 2 đảng đó, chứ không phải nhờ sự bảo hộ bất kỳ nào của luật pháp. Hơn nữa, Dân chủ và Cộng hoà là những tổ chức không mang tính ràng buộc chặt chẽ, có thể nói là khá lỏng lẻo. Việc gia nhập hay ra khỏi 2 đảng đó là việc cực kỳ đơn giản, đúng hoàn toàn là tự nguyện, và chẳng phải gặp bất kỳ rủi ro nà, kể cả pháp lý lẫn đạo lý. Giống như một người được tự do và tự nguyện vào làm hoặc nghỉ việc cho một công ty nào đó. Hơn nữa, luật về đảng của Mỹ cũng chẳng cho phép, trao quyền cho các đảng có thể buộc đảng viên của mình thực hiện những việc trái với ý chí của người đó. Vì vậy mà tụi con thấy chuyện đảng viên của Cộng hoà bỏ phiếu phản đối dự luật của Cộng hoà, v.v… là chuyện bình thường, lành mạnh và như cơm bữa. Họ quyết định bằng ý chí của chính họ, chứ không phải của đảng phái, dựa trên nguyện vọng của những cử tri mà họ đại diện. Các đảng chính trị là nơi để họ hội lại nhằm chia sẻ những quan điểm chung và có thể cùng nhau vận động cho quan điểm đó. Các đảng chính trị không phải là một thiết chế Nhà nước nên không được trao bất kỳ quyền lực nào của Nhà nước. mà trái lại, Nhà nước phải được thiết kế sao cho các thiết chế và quyền lực nhà nước không bị lợi dụng bởi các đảng phái để tạo nên sức mạnh chính trị cho mình. Nhà nước Mỹ không những được thiết kế như vậy mà còn nhằm chia rẽ các đảng phái nói riêng và các phe phái trong xã hội nói chung để chúng không thể tập hợp đủ mạnh để chèn ép các phe phái khác như chúng ta đã bàn ở thư trước.

11/6/2015

Các đảng phái lớn không thể chèn ép các đảng phái nhỏ và cũng không thể chèn ép từng cá nhân đơn lẻ. Luật pháp Mỹ bảo vệ cho từng người để người ấy có thể tự thoát ra được sự chi phối của tâm lý đám đông và sức mạnh của bè phái mà không bị nó bức hại. Trong một môi trường pháp lý như vậy thì sự vận động tự do luôn tạo ra một môi trường đạo lý hiệu quả những hành động ỷ đông bức ít, ỷ mạnh hại yếu. Con người chỉ thực sự tự do khi họ có được sự độc lập như vậy. Ở Mỹ, muốn ứng cử vào cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp và tổng thống, người ta không cần phải phụ thuộc vào bất kỳ đảng nào. Họ có quyền và có thể dễ dàng tự mình ứng cử, tranh cử. Nếu trúng cử thì có quyền và có thể tự mình hoạt động một mình hoặc liên kết với những người khác hoặc đảng khác. Chẳng có quyền lực hoặc quy định pháp lý nào được buộc họ phải ủng hộ đảng này, phản đối đảng kia cả. Những người như thế được gọi là ứng viên/chính trị gia tự do. Tổng thống đầu tiên của Hoa kỳ – G. Washington là một người như vậy. Nhiều năm qua người ta không thấy các ứng viên tự do trở thành tổng thống. Nhưng đừng xem thường họ, họ có thể làm thay đổi xu hướng phát triển của nước Mỹ mỗi khi tham gia tranh cử tổng thống. Họ đủ sức để hút phiếu của ứng cử viên mình không ủng hộ để tạo lợi thế cho ứng cử viên mình mong muốn, qua đó có thể đảo ngược tình thế một cách ngoạn mục. Tụi con Google vụ tỷ phú Ross Perot tự ra tranh cử tổng thống thì sẽ thấy sức mạnh của cá nhân lớn như thế nào khi người ta quyết tâm dùng nguồn lực của mình để vận động nhằm thay đổi xu hướng đất nước. Mới đây có tin bà Fiona, nguyên CEO của HP tự ứng cử tổng thống. Dù bà ấy là đảng viên Cộng hoà nhưng không dựa vào đảng này đề cử. Tụi con cần hiểu là việc các đảng ở Mỹ đề cử người ra tranh cử tổng thống không phải là hành động pháp lý bắt buộc, không phải là việc của Nhà nước.

ross-perot

Nhà nước pháp quyền còn phải bảo vệ từng cá nhân cho quyền tự do của họ như quyền tham gia vào chính trị, đảng phái. Trong hình là ví dụ về tỉ phú Ross Perot người từng ứng cử tổng thống Mỹ 2 lần vào 1992 và 1996

Đó là việc của các đảng thể hiện sự ủng hộ đối với ứng cử viên nào đó thuộc đảng mình. Việc ấy có thể tạo nên lợi thế cho ứng viên được ủng hộ nhưng không thể ngăn cản những đảng viên khác trong đảng tự ra ứng cử, kể cả những người được đảng nào đó đề cử thì vẫn phải tự ra đăng ký ứng cử để xác nhận ý chí và mong muốn trở thành tổng thống của mình, chứ không phải bởi ý chí và mong muốn của đảng phái. Đi tranh cử ở Mỹ mà bảo: “Tôi không ham muốn việc này, chẳng qua là bởi…” thì rớt ngay vòng đầu và có khi còn bị xem là có dấu hiệu tâm thần

Nhưng những câu chuyện như thế tụi con có thể nghe ở nhiều nước, nhất là ở những nơi mà pháp luật không bảo vệ và đề cao quyền và trách nhiệm cá nhân cho từng người. Ở Indonesia, chỉ có những đảng chiếm một tỷ lệ nào đó trong quốc hội mới được đề cử người ra tranh cử tổng thống. Các quy định này dường như có từ thời Tổng thống độc tài Suharto nhằm ngăn cản, loại bỏ đối thủ chính trị. Sau khi ông này bị buộc phải từ chức do khủng hoảng kinh tế 1998, Indonesia cũng có điều chỉnh quy định đó vài lần. Nhưng lúc cậu còn ở ngoài thì thấy nó vẫn còn thiếu khoa học và nặng tính bè phái. Không biết gần đây họ có thay đổi tốt hơn không mà Indonesia lại có tổng thống đầu tiên xuất thân từ giới trung lưu và có nguồn gốc doanh nhân là Joko Widodo hiện nay. Các phe phái trong xã hội nói chung hoặc đảng phái nói riêng vốn đã có những sức mạnh riêng của mình và luôn có xu hướng tự nhiên là gia tăng sức mạnh bằng tính bè phái. Đó vừa là nguồn gốc của sự tập hợp nguồn lực cần thiết của xã hội nên phải được thừa nhận, nhưng cũng vừa là nguồn gốc của những vấn nạn bè phái nên cần bị hạn chế. Trong kinh tế, các luật chống độc quyền, cấu kết thao túng, phá giá triệt hạ đối thủ cạnh tranh chính là để hạn chế nạn bè phái và luôn là việc rất quan trọng để quốc gia phát triển bền vững. Trong chính trị, những việc tương tự như vậy còn quan trọng hơn gấp bội. Từ xưa đến nay, các giải pháp chống bè phái chính trị bằng cách tập trung quyền lực vào một người hoặc đảng phái nào đó với hy vọng tạo ra và áp đặt các lợi ích chung đều thất bại và làm xã hội lụn bại. Chỉ có một giải pháp thành công, như Madison nói, là làm cho những ý định không đúng đắn của các đảng phái đa số trở nên vô cùng khó khăn và không thể thực hiện được. Cốt lõi của giải pháp này là chia rẽ số đông và bảo vệ an toàn và tự do cho từng cá nhận. Trong các tài liệu cậu viết trước đây và trong quyển sách “Hành trình vào bản chất của dân chủ và thịnh vượng”, cậu luôn nhấn mạnh: “QCN phải được bảo vệ đầy đủ và trên hết cho từng người“ như là nguyên tắc tiên quyết của NNPQ – tức quy tắc “Thượng tôn QCN”. Nếu dùng cụm từ “cho mọi người” thì dễ bị hiểu một cách chung chung theo nghĩa đó là đa số, là những quan điểm lợi ích chung mơ hồ. Thượng tôn QCN theo nguyên tắc như trên là đã thừa nhận và bảo vệ quyền tự do lập hội/nhóm của con người để tạo nên các sức mạnh của số đông rồi, và không cần phải hỗ trợ gì thêm vì các sức mạnh đó sẽ tự nhiên phát triển. Mà cần phải hạn chế sự tiêu cực của chúng để chúng không thể đủ sức xâm hại đến những nhóm yếu hơn và từng cá nhân một. Những sự hạn chế như vậy phải bằng luật. Mà muốn luật có hiệu quả thì phải có một thiết kế Nhà nước hiệu quả để bảo đảm rằng quy trình làm luật phải thực sự là quá trình vận động thoả hiệp của người dân để hình thành nên LẼ PHẢI THOẢ ƯỚC của họ. Luật là của nhân dân, không phải của Nhà nước.

Ở Mỹ, một dự luật chỉ được đưa ra để bỏ phiếu thông qua tại một Viện của Quốc hội khi nào mà không còn có nghị sĩ nào phát biểu ý kiến về nó nữa. Khi còn ý kiến thì phải được lắng nghe và nghị sĩ có quyền phát biểu bất kỳ điều gì về nó tới khi nào ông/bà ấy không còn ý kiến gì để nói nữa thì thôi, dù việc đó có kéo dài hàng năm đi nữa. Quy định này nhằm bảo đảm cho mọi ý kiến của người dân đều được cân nhắc và thoả hiệp. Tuy nhiên để chống lại việc các nghị sĩ lợi dụng để ngăn cản đưa ra một dự luật ra bỏ phiếu bằng cách cứ phát biểu hoài mà không có ý kiến mới, có một quy định khác để khai thông tình trạng này là các nghị sĩ sẽ bỏ phiếu để đánh giá một dự luật đã đủ tiêu chuẩn để bỏ phiếu thông qua hay chưa. Nếu có được 2/3 số nghị sĩ của một Viện đồng ý (một tỷ lệ rất khó đạt ở Mỹ) thì lúc đó dự luật sẽ được đưa ra để bỏ phiếu thông qua (chứ không phải đã thông qua) bất kể là còn có nghị sĩ muốn phát biểu về nó. Khi đó sẽ lại được đưa ra  để bỏ phiếu thông qua, và nếu đạt quá bán số lượng nghị sĩ của Viện đó thì nó sẽ được thông qua, nhưng chỉ là tại Viện đó. Nó còn phải được thông qua tại Viện còn lại theo những quy trình và quy định giống như trên. Nếu một dự luật đã được cả 2 Viện Quốc hội thông qua rồi thì nó phải được Tổng thống xem xét có ban hành thành luật hay không. Người dân Mỹ trao cho Tổng thống một quyền đặc biệt, gọi là quyền phủ quyết (veto) dự luật dù nó đã được cả 2 Viện QH thông qua. Trách nhiệm của Tổng thống là rất lớn, là người thay mặt cho dân chúng xem xét lần cuối cùng. Nếu không thấy có vấn đề gì thì Tổng thống sẽ ký ban hành dự luật thành luật. Ngược lại Tổng thống sẽ trả dự luật đề nghị hai Viện QH xem xét lại và nêu rõ lý do. Trong trường hợp này, nếu cả Thượng viện và Hạ viện vẫn muốn thông qua dự luật bị trả lại mà không điều chỉnh, thay đổi nó thì phải đạt được 2/3 số nghị sĩ tại mỗi Viện bỏ phiếu đồng ý thông qua lần 2. Nếu cả hai Viện đạt được kết quả này thì dự luật đó ngay lập tức trở thành luật. Tổng thống không có quyền phủ quyết đối với nó nữa. Những sự việc như thế diễn ra thường xuyên ở Mỹ, các Đại diện của dân sử dụng hết mọi quyền của dân trao để vận động bảo vệ quyền lợi cho cử tri mình tới cùng, không có chuyện cả nể, qua loa. Nếu tụi con theo dõi thì sẽ thấy, các HNS, TNS và Tổng thống chẳng ai dại hoặc dám bảo vệ lợi ích của đảng phái, hay là nhân danh một đảng chính trị để phát biểu hay tranh luận cả. Người dân Mỹ không trao quyền cho bất cứ một đảng nào. Họ chỉ trao quyền cho các cá nhân – những người cam kết bảo vệ quyền lợi cho họ. Dù các cá nhân đó tham gia một đảng nào đó thì, trong mọi trường hợp, việc người dân bỏ phiếu cho những người đó hoàn toàn không có nghĩa là trao quyền cho đảng đó.

12/6/2015

B- LUẬT PHÁP PHẢI BẢO VỆ CHO TỪNG NGƯỜI

QUYỀN LỰC NGƯỜI DÂN

Con người là thành phần không thể chia nhỏ nữa trong xã hội. Nên quyền của cá nhân phải được bảo đảm cho từng người, trách nhiệm và vai trò của cá nhân phải được đề cao đối với những người nhận sự trao quyền của nhân dân. Có thế thì động lực của họ mới hướng đến vận động cho lợi ích của cử tri, chứ không phải cho lợi ích của đảng phái. Khi đó thì các đảng chính trị chỉ là công cụ/phương tiện để họ đạt được mục đích để biến thành mục đích nhằm phục vụ cho quyền lợi của các đảng phái trong chính trường và các phe phái trong xã hội. Trên đây là một mục tiêu quan trọng khác của việc thiết kế NNPQ. Cách của Mỹ để đạt được mục tiêu này là một thiết kế hay nhưng không phải là duy nhất. Nhưng có cách nào đi nữa thì vẫn phải thượng tôn QCN – tức là QCN phải được bảo vệ đầy đủ và trên hết cho từng người để con người không thể bị buộc phải lệ thuộc vào bất kỳ phe phái nào cho dù nó là hội/nhóm/đảng tập hợp của những người được trao quyền lực ở các nước phát triển, người ta không thiết kế để buộc dân chỉ được bỏ phiếu cho các đảng hoặc trao quyền cho các đảng đề cử ứng viên như trường hợp của Nam Phi và Indonesia. Ngay cả ở những thể chế quân chủ lập hiến hoặc cộng hoà đại nghị tiến bộ, như của Nhật và Đức, do đặc thù của mô hình nên khái niệm “đảng cầm quyền” được xác định trong thiết kế Nhà nước. Nhưng nó cũng hoàn toàn không phải và không được là một thiết chế của Nhà nước. Dù có được số đảng viên của mình chiếm đa số trong Quốc hội (thường là Hạ Viện) nên số người này có thể dễ dàng cùng nhau bỏ phiếu bầu nên Thủ tướng và các Bộ trưởng, nhưng chính phủ này phải vận hành theo các thiết chế được thiết kế của Nhà nước do người dân đã xác lập ra. Chứ không phải đảng cầm quyền là có quyền điều hành, lãnh đạo Chính phủ bằng các mệnh lệnh và các văn bản của đảng đó. Các loại mệnh lệnh và văn bản này chỉ là việc nội bộ của nó, không có giá trị pháp lý của Nhà nước. Chính phủ/Nội các chỉ được phép điều hành đất nước dựa trên luật. Làm luật mới hay sửa luật cũ đều phải tuân theo một quy trình được thiết kế của Nhà nước với những quy định nhằm chống nạn bè phái chính trị và biến quyền lực của Nhà nước do dân trao thành quyền lợi của đảng phái, và  chống việc các đảng phái cưỡng ép các đảng viên của mình có ghế trong Quốc hội phải bỏ phiếu theo ý chí của nó. Sự đồng thuận của các đảng, dù là cầm quyền  hay đối lập, chỉ dựa trên sự tự nguyện của các đảng viên. Nếu họ thấy còn chia sẻ với nhau được những quan điểm về lợi ích của cử tri thì họ gắn kết cùng nhau, ngược lại họ tự có những quyết định khác nhau. Chẳng ai được quyền bắt buộc hay bắt tội họ cả. Chuyện một số nghị sĩ hoặc thành viên Nội các/Chính phủ rời bỏ đảng cầm quyền hoặc Chính phủ đó phải giải tán là chuyện xảy ra khá thường xuyên trên thế giới. Tương tự như ở Mỹ, nghị sĩ Dân chủ bỏ phiếu ủng hộ dự luật của Cộng hoà hoặc ngược lại vậy thôi, chẳng có gì là bất thường và ghê gớm cả. Ở nhiều nước còn thiết kế Nhà nước để trao quyền cho Thủ tướng giải tán Quốc hội (thường là Hạ viện) và tổ chức bầu cử lại. Việc này có nhiều ý nghĩa và là một công cụ rất quan trọng của Thủ tướng, tương tự như quyền phủ quyết dự luật của Tổng thống Mỹ.

1/Trường hợp nhà nước quân chủ lập hiến Nhật

Cách đây vài tháng, đương kim Thủ tướng Nhật – ông Shinzo Abe đã sử dụng quyền này. Nhưng đáng chú ý là lần giải tán Hạ Viện của Thủ tướng Koizumi – người tiền nhiệm của ông Abe ở đảng Dân chủ Tự do Nhật (LDP). Hơn 10 năm trước – Thủ tướng Koizumi phải đối mặt với một số sự kháng cự cải cách quyết liệt. Đáng nói là sự kháng cự này lại đến chính từ những nghị sĩ là những người đồng đảng với ông trong LDP đang cầm quyền. Họ liên kết chặt với nhau để ngăn cản các dự luật mà ông Koizumi khởi xướng để mở đường cho cải cách. Nếu với một Nhà nước không được thiết kế tốt thì tình trạng này sẽ dẫn tới một nạn siêu bè phái trong chính trường, kiểm soát nghị trường bằng quyền lực ngầm trên danh nghĩa của Nhà nước, triệt tiêu dần các phe phái cấp tiến trong đảng cầm quyền, rồi tới các đảng phái khác (đối lập). Kết quả cuối cùng là một chế độ độc tài được kiểm soát bởi những kẻ giật dây trong bóng tối. Thủ tướng và các nghị sĩ phải diễn như những con rối trên nghị trường. Nó sẽ trở lại một hình thức có bản chất tiếm quyền không khác lắm với thời Shogun ngày xưa của Nhật mà cậu đã kể trong thư 35Bp1 và 35Bp2. Nhưng nước Nhật hiện đại không thể như vậy vì họ đã có được thiết kế NNPQ. Thiết kế đó giúp cho Thủ tướng Koizumi thoát ra được sự chi phối bè phái của những người đã bầu ông làm Thủ tướng. Thiết kế đó trao trách nhiệm cho cá nhân Thủ tướng trước toàn dân và buộc cá nhân đó phải hành động vì trách nhiệm đó, chứ không phải vì đảng phái. Khi ấy Thủ tướng Koizumi đã phát biểu một câu để đời: “Nếu cần đập tan LDP để bảo vệ nước Nhật thì cũng phải làm”. Sau đó ông đã sử dụng quyền của dân trao cho Thủ tướng, giải tán Hạ Viện để bầu cử lại và kêu gọi cử tri Nhật hãy ủng hộ cải cách thông qua việc bầu cho những ứng viên nào ủng hộ con đường cải cách. Lúc đó có một số người cho rằng Koizumi khá liều lĩnh vì nếu cử tri Nhật không ủng hộ con đường đó thì ông sẽ mất ghế thủ tướng và mất luôn chức chủ tịch đảng LDP. Nhưng đó là do những người đó không hiểu rằng thiết kế  của Nhà nước Nhật không thể tạo ra một thứ động lực của Thủ tướng giống như họ nghĩ. Nếu Koizumi thất bại, ông có thể chấm dứt luôn sự nghiệp chính trị của mình. Nhưng rủi ro ấy chẳng có ý nghĩa gì đối với một Thủ tướng đang đứng trước một trách nhiệm phải giúp (chính xác hơn là phải làm vì bổn phận) cho đất nước vượt qua nạn bè phái. Hơn nữa, một thiết kế Nhà nước hiệu quả sẽ giúp cho Thủ tướng hiểu được lòng dân, biết họ muốn gì. Đáp ứng cho những mong muốn đó là nguồn động lực lớn mạnh nhất thôi thúc Thủ tướng phải hành động, mạnh hơn rất nhiều những áp lực từ trong nội bộ LDP tạo ra cho ông. Quyết định của Koizumi là khoa học. Cử tri Nhật đã chọn con đường cải cách, bầu nên những Hạ nghị sĩ ủng hộ cải cách chiếm đa số áp đảo tại Hạ Viện. Các nghị sĩ thuộc LDP trong Hạ Viện cũ mất gần hết ghế trong Hạ viện mới, nhường chỗ cho các đảng viên LDP cấp tiến. Koizumi tiếp tục làm Thủ tướng. Chính sách cải cách của ông thành công nhờ sự ủng hộ của các nghị sĩ mới của LDP và nhiều nghị sĩ khác thuộc các đảng đối lập. Thiết kế của Nhà nước Nhật đẽ trao cho Thủ tướng một công cụ hiệu quả để cá nhân này dùng quyền quyết định tối thượng của nhân dân để chiến thắng nạn bè phái nhằm xác lập một xu hướng có lợi cho đất nước. Cũng qua đó Thủ tướng, cũng là chủ tịch đảng cầm quyền có thể cải tổ luôn đảng của mình. LDP là một chính đảng lâu đời và cầm quyền gần như liên tục ở Nhật từ sau Thế chiến II. Những tổ chức như vậy không thể tránh khỏi sự bảo thủ trì trệ, ngủ quên trên chiến thắng và gia tăng tính bè phái. Dễ thấy là nếu ở Nhật, người dân bị buộc phải đi bầu cho các đảng, chứ không phải cho các cá nhân như ở Nam Phi thì LDP không có cách gì để thoát được tình trạng suy thoái như trên, phải không! Nó chỉ có thể trượt dài theo sự tha hoá của quyền lực mà thôi.

2/Trường hợp nhà nước cộng hòa đại nghị Đức

Ở Đức, vì đã từng trải qua thảm hoạ phát xít của một đảng cầm quyền duy nhất là đảng Quốc xã cua Hitler, nên thiết kế Nhà nước của họ hiện nay không cho phép một đảng cầm quyền Đảng nào đó cho dù có giành được đa số quá bán ghế trong Quốc hội thì vẫn phải buộc liên kết với ít nhất một đảng khác cũng có ghế trong Quốc hội để thành lập Chính phủ. Sự liên kết đó gọi là liên minh cầm quyền. Cho dù liên minh này chiếm đa số áp đảo số ghế tại Quốc hội thì việc làm luật vẫn phải thông qua các quy trình và quy định và các thiết chế của Nhà nước mà nhân dân đã ấn định, để đảm bảo rằng luật là của nhân dân và đã được lắng nghe và thoả hiệp bởi tất cả các nghị sĩ là đại diện của dân, chứ không phải của các đảng hoặc liên minh cầm quyền. Để đạt được mục tiêu này, họ có những cách thiết kế rất hay. Đứa nào quan tâm hãy cố gắng tự tìm hiểu, nhất là của Đức và Nhật. Cậu mà phân tích thì nó sẽ rất dài, làm loãng mất những chủ đề quan trọng khác của NNPQ. Sau khi hiểu được các mục tiêu và nguyên lý thiết kế mà cậu viết thì tụi con sẽ không khó để tự tìm hiểu.

Qua các phân tích trên tụi con có thể thấy một điều là việc chống chủ nghĩa cá nhân – theo nghĩa là sự ích kỷ chà đạp lợi ích người khác để bảo vệ lợi ích cho mình – hoàn toàn có thể đạt được nhờ một thiết kế Nhà nước hiệu quả. Nó vừa giúp cho CCXHKH vận hành để khu vực LẼ PHẢI CƠ BẢN hình thành nên các quy-tắc-đạo-lý-tự-nguyện vô hiệu hoá các lối hành xử ích kỷ như trên vừa tạo nên các động lực lành mạnh thúc ép các chính trị gia phải hành động vì cộng đồng để qua đó đạt được mục tiêu cá nhân của mình. Nhà nước không cần phải tuyên bố, mất sức chống chủ nghĩa cá nhân làm gì cả. Các việc ấy không đạt kết quả mà còn triệt tiêu mất động lực cá nhân giúp xã hội phát triển, giảm sự độc lập của cá nhân khiến con người lệ thuộc nhiều vào bè phái và quyền lực nên giúp nạn bè phái hoành hành xã hội. Việc chống chủ nghĩa cá nhân bằng quyền lực nhà nước sẽ luôn bị lợi dụng để thanh trừng phe phái, tranh giành quyền lợi, làm tha hoá con người, Nhà nước và cả xã hội. Ý muốn tốt nhưng phải có giải pháp đúng thì kết quả mới đẹp. Giải pháp sai thì càng xấu hơn.

18/6/2015

3/Đa số ko luôn thắng thiểu số, thiểu số sáng suốt không nhất thiết phải phục tùng đa số thỏa hiệp vì tâm trạng chung

Đến đây tụi con cũng đã thấy được rằng: Dù đa số là nguyên tắc của nền dân chủ nhưng điều này hoàn toàn không có nghĩa là “Đa số thắng thiểu số” hoặc “Thiểu số phải phục tùng đa số”. Sự hiểu biết thô sơ này dẫn đến phản dân chủ. Những kẻ độc tài luôn có những thủ đoạn khác nhau để chiếm được đa số để buộc cà xã hội phải phục tùng ý chí của mình tên danh nghĩa của đa số. Lợi dụng sự bất mãn hoặc hoảng sợ của số đông để thiết lập nên tâm trạng chung nhờ tâm lý đám đông là thủ đoạn thường thấy và hiệu quả của những kẻ này. Năm ngoái El Sisi đắc cử Tổng thống Ai Cập với hơn 95% phiếu bầu, Tuần trước ông ta được công bố tỷ lệ tín nhiệm sau một năm cầm quyền đạt con số kỷ lục hơn 90%. Chưa bàn về sự gian lận mà cậu nghĩ là không tránh khỏi, cậu tin là các tỷ lệ này thực tế vẫn rất cao vì tâm trạng của hầu hết người dân Ai Cập đã rất mệt mỏi sau những ngày đầy hoảng loạn và chết chóc và sau âm mưu Hồi giáo hoá Nhà nước của Tổng thống Morsi và Lực lượng Anh em Hồi giáo. El Sisi đã lợi dụng tâm trạng này để chiếm được đa số phiếu áp đảo. Nhưng người dân Ai Cập không hiểu rằng họ đã trao quyền lực để thiết lập nên một chế độ độc tài sẽ hà khắc hơn cả thời cựu Tổng thống Mubarak mà họ đã từng vô cùng chán ngán và lật đổ nó. Putin cũng vậy, ông ta đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ hiện tại với một tỷ lệ áp đảo mà các nước dân chủ phát triển không bao giờ có được: gần 70%. Trong tình hình của nước Nga nguy khốn như hiện nay mà các tỷ lệ tín nhiệm Tổng thống liên tục tăng, từ mức 80% lên mức 90% như vài tháng trước. Nếu chúng ta hiểu biết thì những con số khủng đó chỉ nói lên những điếu đáng xấu hổ mà thôi. Cậu không ngụ ý về sự gian lận đánh giá vì cậu không có thông tin về nó. Chúng cho thấy rằng nước Nga đang có một Tổng thống siêu độc tài và mị dân, nước Nga có một thiết kế Nhà nước quá tồi vì người Nga hiểu biết về QCN và NNPQ còn quá kém. Nếu là người Nga thì cậu sẽ hy vọng những con số trên chủ yếu là gian lận🙂.

Trong một đất nước dân chủ, tức xã hội vận động tự do thì các quan điểm của người dân là rất đa dạng. Tìm được những cái được ủng hộ của đa số quá bán sít sao đã cực kỳ khó rồi, 60% là quá lý tưởng, đừng nói 2/3. Vượt quá tỷ lệ này là bất khả thi trừ khi có những biến cố kiểu như vụ 11/9 ở nước Mỹ làm mọi người dễ dàng đạt được tâm trạng chung. Bình thường việc bỏ phiếu thông qua các dự luật ở Mỹ là việc không dễ dàng chút nào, vận động thuyết phục; thoả hiệp các kiểu thì may ra đạt được tỷ lệ quá bán sát nút. Nhưng phải thấy là chính tỷ lệ này mới bảo đảm được sự dân chủ vì những người đề xướng/bảo trợ các dự luật phải tranh thủ từng phiếu một của các nghị sĩ. Do đó lợi ích của các nhóm cử tri, các địa phương đều phải được cân nhắc, nên mong muốn của những thiểu số nhỏ cũng phải được đáp ứng. Chính trường Mỹ hiện nay đang nổi lên vấn đề trao quyền đàm phán nhanh cho Tổng thống đối với các hiệp định thương mại tự do, trong đó TPP liên quan đến VN. Vài tuần trước Thượng viện, nhiều nghị sĩ Dân chủ đã cản trở đưa dự luật trao quyền thúc đẩy thương mại (TPA – Trade Promotion Authority) ra bỏ phiếu bằng cách không ngừng phát biểu về nó. Vì vậy các TNS ủng hộ nó phải đưa nó ra bỏ phiếu để đánh giá đã đủ tiêu chuẩn được bỏ phiếu thông qua chưa. Để vượt qua được tình trạng này (người Mỹ gọi là blockbuster) phải đòi hỏi có được 2/3 số TNS đồng ý như cậu đã viết ở trên. Tuy nhiên cuộc bỏ phiếu phá thế blockbuster cho TPA đã không đạt được tỷ lệ này vì có 3 TNS Dân chủ đòi phải kèm TPA với 3 dự luật khác, trong đó có TAA (Trade Adjustment Assistance – Trợ giúp Điều chỉnh Thương mại) để hỗ trợ cho những người lao động bị ảnh hưởng bởi các hiệp định thương mại tự do. Yêu cầu này của họ ngay sau đó được đáp ứng. Dự luật TPA vượt qua được blockbuster và cũng được thông qua luôn tại Thượng viện. Nhưng nó không còn là dự luật riêng rẽ mà bị đính kèm điều kiện bởi 3 dự luật khác. Tới lượt Hạ viện xem xét hồi tuần trước. Tại đây TPA được thông qua nhưng TAA thì không. Vì TAA là điều kiện đính kèm nên TPA chưa thể trao quyền đàm phán nhanh cho Tổng thống. Hạ viện định xem xét lại vấn đề này vào ngày 16/6, nhưng hôm qua (17/6) VTV đưa tin họ đã hoãn việc này đến 30/7. Tụi con thấy không, thiết kế Nhà nước Mỹ tạo nhiều công cụ cho các đại diện khác nhau của dân sử dụng để có thể đạt được mục đích bảo vệ quyền lợi cho dân. Rất có thể các HNS quan tâm nhiều đến QCN như bà Sanchez sẽ tận dụng cơ hội TPA này để đưa những đòi hỏi về QCN nhiều hơn vào nội dung TPP trước khi đồng ý trao quyền đàm phán nhanh TPP cho hành pháp Mỹ. Báo Nhân dân 26/5/2015 đưa tin Uỷ ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ đang xem xét dự luật nhân quyền mang số HR-2140. Các nghị sĩ sẽ không bao giờ bỏ qua những cơ hội từ quyền lực và thiết kế Nhà nước mà người dân trao cho họ để bảo vệ cử tri của họ. Đó là trách nhiệm của nghị sĩ mà khi hoàn thành thì mới làm cho xã hội dân chủ: quyền lợi của mọi người và của từng người được bảo đảm. Tụi con nên lên mạng xem diễn biến của TPA để hiểu hơn về sự vận động tự do và quyềt liệt của các nghị sĩ Mỹ bảo vệ quyền lợi cho các cử tri của mình. Không có chuyệncả nể hoặc buông xuôi vì nghĩ “mình không bỏ phiếu thì người khác cũng bỏ, chẳng thay đổi được gì”, nên “dĩ hoà vi quý” cho “êm đẹp”. Cho dù có thể chưa đạt được mục đích của họ và cử tri mong muốn lần này thì họ vẫn còn nhiều cơ hội nhanh chóng lần tới. Vì thế họ bày tỏ thái độ của mình qua lá phiếu rất rõ ràng: “Không là Không” mặc cho việc biết rằng lá phiếu “Không” của mình không thay đổi được kết quả ngược lại. Đó vừa là trách nhiệm, vừa là kỹ năng cần thiết để đạt được lợi ích cử tri. Cử tri Mỹ dễ dàng giám sát thái độ của ngườ imình bầu nên và buộc họ phải giải trình về thái độ đó khi bỏ phiếu cho một dự luật. Một thiết kế như vậy thì không thể tạo ra thứ động lực “ta không động đến người thì người không động đến ta” ở các nghị sĩ được. Nó chỉ tạo ra một áp lực rất lớn buộc họ phải hành động vì trách nhiệm và loại động lực muốn hoàn thành trách nhiệm đó để được công nhận và vinh danh. Có rất nhiều trang web mà ai cũng có thể vào xem diễn biến của các dự luật từ lúc chúng mới phôi thai đến tình trạnghiện tại và kết thúc của chúng, ai khởi xướng, bảo trợ; quan điểm của các nghị sĩ, v.v… Trước đây cậu hay xem trang GOVtrack.org (nếu cậu chưa gìa thì chắc không sai🙂 )

21/6/2015

C- CÁC CHÍNH TRỊ GIA: MỘT NGHỀ CHUYÊN NGHIỆP TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

CODE

Thư 43B chúng ta đã bàn đến tầm quan trọng của việc thiết kế bảo đảm động lực phát triển của xã hội. Ở trên chúng ta vừa đề cập đến động lực của các chính trị gia. Đây là điều rất quan trọng và đòi hỏi sự thiết kế rất tinh tế. Chính trị của một quốc gia có lành mạnh hay không đều xuất phát từ các động lực này. Các tiêu chuẩn và sự rao giảng đạo đức có đóng góp cực kỳ nhỏ vào sự lành mạnh này. Hy vọng con người trở thành những vị thánh, bồ tát là điều không tưởng. Hơn nữa, theo quan sát của cậu, sứ mạng của các vị này trên thế gian không phải để làm chính trị gia. Các chính trị gia được ca tụng như những thánh nhân hầu hết đều là mị dân và độc tôn bè phái. Phẩm chất thực sự của họ nhiều lúc thật đáng xấu hổ. Phải nhìn nhận chính trị gia là một cái nghề như bao nghề bình thường khác trong xã hội để con người có thể sống, làm việc và được công nhận. Nghề nghiệp là một sự trao đổi tương xứng giữa sự đóng góp và thành quả nhận lại. Mọi sự hy sinh, thiệt thòi đều không bền vững trừ trong phạm vi một gia đình. Đòi hỏi các chính trị gia hy sinh thì kết quả đạt được là sự hy sinh quyền lợi của cử tri nói riêng và của quốc gia nói chung. Chính trị gia dù có năng lực vượt trội đến đâu thì cũng là con người với những nhu cầu bình thường như mọi người khác, cũng bị tác động bởi sự vận động của những người trong xã hội, nhất là sức hút của đồng tiền. Mà những người làm nghề dính đến quyền lực này luôn là đối tượng được hướng đến chủ yếu của sự vận động lợi ích. Vì vậy ngoài việc thiết kế để bảo đảm sự kiểm soát quyền lực, còn phải bảo đảm cho các chính trị gia không lệ thuộc vào tiền bạc để động lực của họ không hướng đến đồng tiền. Drive (sự thôi thúc bên trong) luôn thúc đẩy con người làm quyết liệt những gì mà người ta thiếu thốn. Để cho các chính trị gia không có thu nhập cao, xứng đáng với nghề nghiệp nhiều khó khăn thì tham nhũng là chuyện vừa đương nhiên vừa tự nhiên, Ngay từ những ngày lập hiến, người Mỹ đã xác định phải trả lương cao để chính trị gia không chỉ đủ sống sung túc mà còn dư giả. Điều đáng lưu ý là mức lương này không tăng không giảm, tức là không có thưởng hay phạt gì ảnh hưởng đến thu nhập. Mục đích là làm cho mức thu nhập không chi phối đến động lực của chính trị gia. Nguyên lý này được giữ đúng từ thời lập hiến tới bây giờ, chỉ có mức lương cho từng vị trí được điều chỉnh theo mức độ thịnh vượng và lạm phát của quốc gia.

22/6/2015

Các nhà lập hiến Mỹ đã phân tích rất kỹ bản chất của con người để thiết kế Nhà nước Mỹ. Họ không phi thực tế và ảo tưởng vào những lời kêu gọi hoặc áp đặt tiêu chuẩn đạo đức, Họ hiểu rằng cách thức này là một phần của sự vận động trong xã hội và chỉ có tác dụng khi nó được vận động tự do. Mức lương và tính không thay đổi của nó dành cho các chính trị gia tạo ra một sức hút đối với những người đam mê nghề chính trị. Họ tìm thấy một môi trường mà cuộc sống của họ và gia đình được bảo đảm và ổn định để họ có thể dồn hết tâm huyết của mình thực hiện những cách thức hiệu quả nhất bảo vệ cho quyền lợi của cử tri, của quốc gia. Họ không phải là những người đam mê tiền bạc. Phần thưởng của họ là sự công nhận và biểu dương của cộng đồng đối với thành quả cho con người và xã hội được tạo ra từ quyền lực mà cử tri trao cho họ. Nói họ là những người đam mê quyền lực cũng chẳng sai, không có quyền lực của dân trao thì chẳng thể tạo ra những kết quả mà dân muốn từ các hoạt động chính trị. Niềm đam mê này chỉ có vấn đề khi nó được sử dụng để phục vụ cho đam mê tiền bạc. Vì thế phải thiết kế một Nhà nước sao cho hạn chế được hậu quả những người có đam mê tiền bạc có thể thoả mãn bằng cách trở thành chính trị gia. Hơn nữa, thiết kế Nhà nước đó phải tạo ra được một xã hội khuyến khích và hỗ trợ kinh doanh hiệu quả để những người có đam mê tiền bạc có thể đạt mục đích của mình bằng nghề doanh nhân thông qua việc làm ra những sản phẩm và dịch vụ phục vụ khách hàng. Một môi trường kinh doanh như vậy sẽ là tối ưu khi xã hội vận động tự do – tức là QCN phải được bảo vệ trên hết cho từng người – như chúng ta đã phân tích nhiều lần. Mà đây cũng chính là quy tắc tiên quyết “Thượng tôn QCN” của NNPQ, nên khi thiết kế được một NNPQ thì mục tiêu này cũng đạt được. Khi đó những người đam mê tiền bạc chẳng dại gì lao vào chính trường, vừa không đạt được mục đích của mình, vừa gặp nguy cơ bị trừng phạt rất cao khi lạm dụng quyền lực để kiếm tiền. Đam mê tiền bạc chẳng có gì xấu cả. Nó chỉ xấu khi được thực hiện bằng những cách trục lợi bất chính. Nó không những không xấu mà còn cần thiết để thúc đẩy động lực làm ra của cải, vật chất đáp ứng nhu cầu cho con người ngày càng phong phú. Thực ra đam mê tiền bạc là một nguồn động lực rất nhanh cạn vì nhu cầu vật chất của con người nhanh đạt đến giới hạn. Khi đó nhu cầu tinh thần sẽ chi phối và phát triển gần như không giới hạn. Lúc này tiền bạc chỉ là những phương tiện gíup đạt được mục đích tinh thần, chứ không còn là mục đích nữa. Mục đích tinh thần lớn nhất đối với hầu hết mọi người là sự khẳng định bản thân và được xã hội công nhận. Điều này nói rộng ra chính là vinh dự và sự tôn vinh. Sự hám danh chỉ xấu khi nó được thực hiện bằng những cách không chính đáng mà thôi. Mà như chúng ta đã phân tích trong CCXHKH, những cách thức này và cách trục lợi bất chính sẽ bị hạn chế rất hiệu quả khi xã hội vận động tự do. Tóm lại, điều cậu muốn nói ở trên là một thiết kế NNPQ tốt sẽ tạo nên một xã hội cung cấp những sân chơi khác nhau cho những người có mối quan tâm và niềm đam mê khác nhau để thoả mãn tham vọng của mình bằng cách đáp ứng cho nhu cầu của người khác. Các nhà nước thất bại trên thế giới hầu hết là do bị biến thành sân chơi của những người đam mê tiền bạc dễ dàng sử dụng quyền lực của Nhà nước để trục lợi bất chính, hám danh bất nghĩa.

Khi những con người như thế trở thành thẩm phán, quan toà thì đó là lúc những tội ác ghê gớm nhất xuất hiện. Không gì ác bằng những người danh nghĩa được trao quyền để bảo vệ công lý mà lại vì đồng tiền, vì bảo vệ quan điểm của bè phái mà kết tội người khác. Tội ác đó đáng khinh hơn bất kỳ tội phạm nào được quy định bởi hình phạt của các nước. Vì vậy thiết kế Nhà nước để tránh được vấn nạn này là một mục tiêu rất quan trọng của một NNPQ. Điều này trước hết đòi hỏi quyền tư pháp phải hoàn toàn độc lập với quyền hành pháp và quyền lập pháp. Quyền tư pháp cũng được hình thành từ sự trao quyền của nhân dân. Mà quyền lực của nhân dân là tối thượng và là nguồn gốc duy nhất của mọi quyền lực Nhà nước (bao gồm Lập pháp, hành pháp, tư pháp) nên không được có bất kỳ quyền lực nào khác của bất ký cá nhân hay tổ chức nào được phép đứng trên mà chi phối, lãnh đạo quyền tư pháp. Nhân dân trao quyền cho các thẩm phán, bồi thẩm để thực hiện quyền tư pháp chứ không trao nó cho các tổ chức hay đảng phái nào cả. Các cá nhân này (thẩm phán, bồi thẩm) phải thực hiện quyền tư pháp thông qua các thiết chế tư pháp (toà án) và theo các quy định và quy trình mà chân dân ấn định để bảo đảm NTXXKH (nguyên tắc xét xử khoa học mà chúng ta đã bàn trong đề tài công lý). Họ chỉ chịu trách nhiệm trước nhân dân thông qua việc tuân thủ pháp luật về xét xử và việc tôn trọng các quy tắc đạo lý của xã hội dựa trên quy tắc tiên quyết  cùa NNPQ là “Thượng tôn QCN”. Mục tiêu độc lập tư pháp là vậy, nhưng muốn đạt được thì cũng phải thiết kế Nhà nước. Vì dụ như ở Mỹ, Thẩm phán Liên bang là phải do Tổng thống bổ nhiệm sau khi được Thượng viện phê chuẩn thông qua một quy trình đánh giá nghiêm nhặt. Nguyên tắc này có từ thời lập hiến sau rất nhiều lần tranh luận và bác bỏ nhiều phương án khác được đưa ra trong hội nghị lập hiến, chẳng hạn như: giao cho Hạ viện và Thượng viện cùng bổ nhiệm, chỉ cần Thượng viện bổ nhiệm là được. Nhiều nước dân chủ, tiến bộ có những cách bổ nhiệm thẩm phán khác cho các cấp khác nhau. Nhưng tất cả có một điểm chung là: Thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời, không có nhiệm kỳ hay thời hạn. Điều này bảo đảm cho Thẩm phán không lệ thuộc vào sự bổ nhiệm và phải tranh cử cho từng nhiệm kỳ như các vị trí hành pháp và lập pháp. Sự bổ nhiệm thẩm phán thực ra chỉ là sự thay mặt nhân dân của người đứng đầu nhà nước để chứng nhận cho một người đã đạt được yêu cầu trở thành thẩm phán sau khi đã trải qua một quá trình đánh giá do nhân dân đặt ra. Đó không phải là sự bổ nhiệm chức vụ của cấp trên dành cho cấp dưới và có quyền rút lại khi có sự thay đổi nhiệm vụ. Dễ thấy là phương án để người dân trực tiếp bầu chọn thẩm phán không thể có hiệu quả vì số đông cử tri không thể có thông tin đầy đủ về các ứng viên thẩm phán. Vì vậy phải sử dụng các thiết chế đại diện của dân bên lập pháp, và hành pháp để bầu chọn. Nhưng làm sao để việc này không có nghĩa là hoặc không bị biến thành sự trao quyền của lập pháp và/hoặc hành pháp cho tư pháp. Do đó người dân phải quy định rất chặt chẽ trong Hiến pháp và luật liên quan đến sự bổ nhiệm Thẩm phán và giám sát những người đại diện bên hành pháp và lập pháp phải làm cho đúng. Thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời là một cách thức hiệu quả, có được sau hàng trăm năm kinh nghiệm. Khi một Thẩm phán được bổ nhiệm nghĩa là người đó đã đạt yêu cầu và được nhân dân trao quyền tư pháp suốt đời. Quyền này chỉ chấm dứt khi người ấy không muốn tiếp tục nữa hoặc vi phạm vào những quy định do nhân dân đặt ra bằng luật. Ngoài hai điều này thì không ai, tổ chức nào có quyền xâm phạm, hoặc can thiệp vào quyền tư pháp của thẩm phán. Hơn nữa với trách nhiệm làm ra luật bằng án lệ mà cậu sẽ viết dưới đây, tụi con sẽ thấy tầm quan trọng của sự độc lập và ổn định lâu dài của Thẩm phán lớn như thế nào. Ở nhiều nước, lương của thẩm phán cao hơn các nghị sĩ và quan chức hành pháp đồng cấp dù áp lực và công việc hằng ngày của Thẩm phán ít hơn.

23/6/2015

D- NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN: LUẬT VÀ ÁN LỆ.

LUAT VA AN LE

Tụi con lâu nay chắc phần nhiều nghĩ là luật phải do Quốc hội làm ra. Ở VN mình và một số nước nữa đúng là như vậy. Cách làm luật này dường như có truyền thống từ Pháp và mang nhiều đặc trưng của cách thức Pháp trị (Rule by law). Thời Napoleon có một bộ luật nổi tiếng gọi là Civil Code Napoleon. Theo cách này, các luật hay bộ luật (luật có quy mô lớn) được soạn thảo đồ sộ với một phạm vi điều chỉnh rất rộng. Tiếng Anh gọi loại luật này là Code hay Codification. Code có những ưu điểm mhư sự đồng bộ giữa các phạm vi mà nó điều chỉnh (tức là đối với những vấn đề mà nó quy định), tính ổn định lâu dài. Nhưng chính vì vậy mà nó có những khuyết điểm thường thấy là không sát với thực tế cuộc sống và khó thay đổi để đáp ứng sự vận động không ngừng của con người và xã hội. Quốc hội VN đang làm luật theo kiểu Code.

Truyền thống làm luật của Anh và Mỹ thì lại được đặt trên nền tảng chính là luật án lệ (case law), tức là luật được hình thành từ những bản án được toà án phán quyết từ các vụ tranh chấp cụ thể trong xã hội. Truyền thống này phát xuất từ Anh, từ quá trình đấu tranh của người dân Anh bảo vệ QCN của mình, bắt đầu bằng sự kiện Đại Hiến chương Magna Carta 1215. Như cậu viết trong đề tài CCXHKH, chính quá trình này đã hình thành nên một Nhà nước pháp quyền đầu tiên trên thế giới là Vương Quốc Anh. Sau đó, người Mỹ đã phát triển tư tưởng này và xây dựng nên Nhà nước pháp quyền đầu tiên dưới thể thức cộng hoà, tồn tại vững chắc đến tận ngày nay. Nhắc đến NNPQ là phải nói tới “Thượng tôn QCN” mà khi được bảo đảm thì xã hội sẽ tự nhiên hình thành nên một cơ chế vận động theo quy luật mà cậu gọi là CƠ CHẾ XÃ HỘI KHOA HỌC (CCXHKH). Khi xã hội ở trạng thái này thì quy luật phát triển xã hội (tức bàn tay vô hình) sẽ tự động điều chỉnh sự vận động của con người tự nguyện đáp ứng và cân bằng cho nhau theo những quy tắc đạo lý tự nguyện. Phạm vi điều chỉnh của những quy tắc này bao trùm hầu hết các hoạt động, quan hệ, giao dịch trong xã hội. Không có bất kỳ một hay nhiều bộ luật (code) nào của con người làm ra có được phạm vi điều chỉnh đầy đủ và hiệu quả như của những quy tắc đạo lý tự nguyện. Dù không thành văn nhưng các quy tắc này được con người chấp nhận rộng rãi và tuân thủ nghiêm túc như những lẽ phải chung mà cậu gọi là LẼ PHẢI CƠ BẢN. Khi có những quan hệ, giao dịch vượt quá phạm vi điều chỉnh của Lẽ phải này mà con người không thể tự thoả hiệp, dàn xếp (Settle) với nhau thì họ sẽ tìm đến toà án để phân xử. Các phiên toà dưới sự điều khiển của các Thẩm phán và bỏ phiếu của Bồi thẩm đoàn (Jury) sẽ trải qua quá trình xét xử bảo đảm NTXXKH để ra phán quyết về sự tranh chấp. Chính các kết quả này dần dà tạo nên các án lệ, từ đó hình thành các quan điểm phổ biến giải quyềt các tranh chấp. Đây chính là cơ sở của luật án lệ. CCác quan điểm này chính là một phần của LẼ PHẢI THOẢ ƯỚC, là những quy tắc được người dân và toà án chấp nhận phổ biến làm cơ sở để giải quyết các tranh chấp tương tự. Vì được hình thành như vậy nên luật án lệ có phạm vi điều chỉnh rất hẹp nhưng lại rất sát với thực tế cuộc sống và đạt được sự đồng tình cao. Bù lại thì phải có rất nhiều luật chứ không phải là những bộ luật đồ sộ. Cũng chính vì thế mà luật án lệ có khả năng thay đổi nhanh và thường thay đổi để đáp ứng cho sự vận động tiến lên không ngừng của con người và xã hội. Tụi con cần lưu ý rằng các vụ tranh chấp mà toà án xét xử và tạo ra án lệ không chỉ giữa các cá nhân với nhau, mà giữa các pháp nhân với nhau và giữa cá nhân và pháp nhân. Các án lệ nổi tiếng ở Mỹ thường xuất phát từ các vụ kiện những cá nhân, công ty, hiệp hội kiện các cơ quan hành pháp Mỹ, kể cả chính phủ Liên bang, cho rằng các quyết định và hành vi của các cơ quan công quyền xâm phạm đến quyền và lợi ích của họ.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, các cơ quan hành pháp ở các cấp khác nhau, từ bang đến liên bang, có quyền ra các quyết định hoặc thực hiện các hành vi công quyền ở mức độ pháp luật cho phép và dựa trên những nhu cầu mà họ đánh giá là cần thiết cho các cộng đồng hoặc quốc gia. Nhưng không phải vì đã được trao quyền mà các quyết định và hành vi này luôn phù hợp hoặc các cơ quan này muốn làm gì thì làm. Họ luôn phải chịu áp lực và sự giám sát của nhân dân bằng quyền lực thứ tư (tức báo chí, cậu sẽ đề cập đến khái niệm này khi bàn về các sức mạnh của nhân dân). Hơn nữa, các quyết định và hành vi của họ thường xuyên phải chịu sự khởi kiện . Đã rất nhiều lần chúng bị toà án vô hiệu hoá và những lần như thế thường tạo ra các án lệ đặc biệt giúp định hình nên các luật án lệ bảo vệ hiệu quả quyền lợi của nhân dân. Một ví dụ gần đây nhất là phán quyết của một số toà án Mỹ đối với hành vi nghe lén của NSA (National Security Agency – Cơ quan an ninh quốc gia). Cơ quan này đã dựa vào sự cho phép của Đạo luật Yêu nước (Patriot Act, đạo luật liên bang từ thời Tổng thống Bush con, ra đời sau vụ 11/9 để chống khủng bố) để ghi âm điện thoại và thu thập thông tin từ các emails của công dân. Họ viện dẫn đây là nhu cầu rất cấp thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, giúp cho nước Mỹ và người dân tránh được những cuộc tấn công khủng bố thảm khốc. Mục đích này rõ ràng là thực tế đối với nước Mỹ, nhưng không phải vì vậy mà nó dễ dàng được chấp nhận và có thể biện minh vững chắc cho NSA. Trong vài năm đầu sau vụ 11/9/2001 người dân Mỹ ủng hộ nó vì chính sự kiện này dễ dàng tạo nên một tâm trạng chung rộng khắp xã hội Mỹ đồng tình hy sinh một số quyền tự do để bảo vệ mình và nước Mỹ. Nhưng tâm trạng đó không thể kéo dài quá lâu đối với người Mỹ – những người đã quen dùng QCN như hít thở khí trời. Sau một thời gian, bị thiếu quyền tự do đối với họ chẳng khác gì thiếu Oxy hoặc thiếu không khí đang ô nhiễm. Hơn nữa, việc bị thu thập thông tin không những khiến họ cảm thấy sự riêng tư của mình bị xâm phạm mà còn tạo ra một nỗi sợ mơ hồ đe doạ đến động lực của cá nhân vì e ngại đến những rủi ro pháp lý. Tâm lý phổ biến của con người ở nước nào cũng vậy, dù không có một căn cứ nào cho thấy NSA có thể khai thác thông tin không liên quan đến khủng bố, nhưng người Mỹ vẫn không cảm thấy yên tâm chứ đừng nói là thoải mái làm những gì mình thích. Cộng thêm với sự suy thoái kinh tế song hành với nỗ lựcchống khủng bố thì việc dân Mỹ từ bỏ tâm trạng chung trước đó là chuyện dễ hiểu. Từ đó mới diễn ra các làn sóng phản đối việc nghe lén cùa NSA tiếp nối các vụ phanh phui cơ quan này vượt qua giới hạn cho phép. Rồi dẫn đến vụ kiện hành vi nghe lén của NSA. Đã có vài Toà án ở các bang khác nhau ra phán quyết. Tụi con đừng ngạc nhiên với những kết quả khác nhau của các phán quyết này. Chúng thể hiện quan điểm khác nhau của người dân ở những địa phương khác nhau, có nơi đồng tình, có nơi không. Đây là những bước đầu tiên trong quá trình tạo ra án lệ để xác lập luật án lệ về vấn đề này. Vì NSA là một cơ quan hành pháp cấp liên bang và cũng thực hiện hành vi nghe lén trên khắp nước mỹ, nên quá trình này sẽ dẫn tới việc tố tụng ở Toá án Liên bang – Cơ quan xét xử tối cao của Mỹ, cũng thường gọi là Tối cao Pháp viện. Cậu không rõ là hiện giờ Toà án đã bắt đầu xem xét vấn đề này chưa. Nhưng trước mắt đã thấy Quốc hội Mỹ đã phải thông qua dự luật để hạn chế phạm vi của NSA.

Qua trên, tụi con thấy là thiết kế một hệ thống tư pháp của một NNPQ không chỉ đơn thuần là những cơ quan xét xử mà còn phải bảo đảm để nó tạo ra các luật án lệ. Bản chất của luật án lệ thể hiện sự vận động trong xã hội, phản ảnh sinh động những sự khác biệt phổ biến mà người dân cần có luật án lệ để điều chỉnh khi có tranh chấp. Vì vậy mà luật án lệ rất thiết thực, phù hợp với sự vận động và văn hóa ứng xử của người dân. Cũng vì thế mà người dân dễ nắm bắt và tuân thủ nó. Nói theo kiểu VN mình là luật không xa rời cuộc sống. Như cậu phân tích trong đề tài CCXHKH, luật như vậy thì người dân mới có thể sử dụng luật hiệu quả để bảo vệ quyền lợi của mình. Luật mà không đáp ứng được yêu cầu này thì nó chỉ là công cụ của những người có quyền lực nên khó tránh khỏi sự lạm quyền, cường quyền. Các bộ luật đồ sộ thường bị rơi vào tình trạng này vì người dân, ngay cả ở những nước đã văn minhvà dân trí cao rồi, chẳng có mấy người bỏ thời gian tìm hiểu chúng. Hy vọng người dân hiểu luật theo cách này luôn là vô vọng.

24/6/2015

Luật phải được hình thành từ sự vận động của người dân dẫn đến sự thoả hiệp của họ về những nguyên tắc giải quyềt tranh chấp họ gặp phải. Luật mà chỉ xuất phát từ ý tưởng chủ quan của những người cho dù họ được trao quyền thì cũng không tránh khỏi xa rời thực tế. Ở Mỹ, luật án lệ thường được gọi là judge made law (luật làm bởi thẩm phán) nhưng nó không có nghĩa là do các thẩm phán tự ý nghĩ ra. Chẳng có thẩm phán nào ở Mỹ được phép nghĩ ra hoặc tạo ra các vụ kiện cả. Chúng phải xuất phát từ các tranh chấp cụ thể và được đưa ra, yêu cầu toà án giải quyềt. Đối các nhánh lập pháp và hành pháp cũng vậy, các nghị sĩ, thống đốc bang, thậm chí là tổng thống, chẳng thể và chẳng dại gì đưa ra những vấn đề mình thấy không phù hợp với mình ra để xây dựng luật. Họ phải quan sát và tiếp nhận nhu cầu của cử tri để làm luật. Vì vậy mà tụi con thấy luật lệ rất khác nhau giữa các bang của Mỹ. Các luật lệ này được hình thành chủ yếu từ các luật án lệ, phản ảnh quan điểm khác nhau của người dân tại những địa phương khác nhau. Có bang vẫn duy trì án tử hình, có bang không; có bang đã công nhận hôn nhân đồng giới, có bang chưa; v.v… Nếu có một ông/bà Tổng thống, HNS, TNS Liên bang nào đó mà thích hoặc không thích hôn nhân đồng giới đối với cá nhân mình thì cũng ráng mà chịu. Quyền lực của dân trao cho họ không đủ để họ tự quyền áp đặt một đạo luật Liên bang để công nhận hoặc cấm hôn nhân đồng giới trên toàn nước Mỹ được cả. Đó là nói trường hợp họ có ý định lạm dụng quyền lực, nhưng với một thiết kế NNPQ hiệu quả thì những ý định này chết từ trong trứng nước. Các đạo luật Liên bang chỉ có thể được hình thành từ sự vận động của người dân; đưa ra yêu cầu, tạo áp lực và đòi hỏi đến các nghị sĩ. Nó chỉ có thể thành luật được áp dụng trên toàn nước Mỹ khi nào sự ủng hộ nó trở nên rất mạnh mẽ và rõ ràng, đáp ứng cho một xu thế phát triển không thể đảo ngược. Ở các chế độ độc tài, luật thường xuyên được ban hành để ngăn cấm những điểm mà những kẻ độc tài tah61y chướng mắt. Sự xoá bỏ chế độ nô lệ và phân biệt chủng tộc ở Mỹ đã hình thành mong muốn từ thời lập hiến Mỹ. Trong Hội nghị lập hiến 1787 đã có những người đòi phải bãi bỏ, cấm sử dụng nô lệ, nhưng những đại diện các bang miền Nam vốn mạnh nhờ nông nghiệp dựa trên sức lao động rẻ mạt của nô lệ đã phản đối quyết liệt. nên để đạt được thoả hiệp tránh cho Hội nghị đổ vỡ, Hội nghị đã phải đồng ý cho phép nhập khẩu nô lệ trong 20 năm. Nhà đấu tranh nhân quyền nổi tiếng George Manson đã nói ngay sau đó: “Thà chặt cánh tay còn hơn để nó ký vào bản Hiến pháp này”. Sau khi nhà nước liên bang đi vào hoạt động, trong một thời gian dài đã có nhiều chínhtrị gia có thế mạnh và uy tín không ưa chế độ nô lệ nhưng vẫn không xoá bỏ nổi nó. Mãi đến những năm 1869, dưới thời Tổng thống Lincoln, nước Mỹ mới dứt điểm được sự lạc hậu này nhưng cũng đã phải trả giá bằng cuộc nội chiến. Nhưng chế độ nô lệ chấm dứt thì sự phân biệt chủng tộc lại nổi lên tới mức nó đạ được bảo vệ bằng luật pháp ở nhiều bang. Sự vận động của những người và trào lưu tiến bộ đã phải mất gần 100 năm sau mới dẫn đến đạo luật liên bang Civil Rights năm 1964, chấm dứt nó trên toàn nước Mỹ.

Các đạo luật Liên bang tương tự như trên (xoá bỏ mọi luật lệ trái với chúng) thì lâu lâu mới có một lần. Điều này trước hết nói lên sức mạnh của người dân trong một NNPQ, là sức mạnh quyết định. Kế tiếp nó cũng cho thấy những vấn đề khi mà ý thức của họ chưa tiến bộ. Từ đó cũng thấy rằng muốn xã hội tiến bộ thì sự vận động của con người phải hướng vào việc làm cho ý thức của con người tiến bộ tới mức độ mà sự đòi hỏi tiến bộ trở nên mạnh mẽ và không thể đảo ngược. Edmund Randolph, Thống đốc bang Virginia vào thời lập hiến Mỹ, người đã đưa ra phương án đầu tiên của bản Hiến pháp mà sau đó trở thành nền tảng của bản sau cùng, đã nói rằng: “không có ví dụ nào minh chứng rõ ràng hơn về sự suy tính thận trọng là Tuyên Ngôn Độc lập chỉ được tuyên bố khi hầu như mọi người dân Mỹ đều đòi tự do và độc lập”. Qua đây tụi con có thể thấy rằng tư tưởng tôn trọng sự vận động của người dân đã có từ các nhà lập hiến Mỹ. Vì vậy mà Nhà nước Mỹ được thiết kế để bảo vệ hiệu quả sự vận động của dân và ngăn cản hữu hiệu những sự áp đặt bằng quyền lực từ trên xuống. Các đạo luật Liên bang chỉ có thể áp xuống cho các bang khi chúng thể hiện được ý chí của hầu hết người Mỹ.

25/6/2015

Sự vận động của người dân là nền tảng của dân chủ, vận động càng tự do thì xã hội càng dân chủ, càng công bằng, càng thịnh vượng, càng văn minh. Điều này có nghĩa rằng sự tiến bộ của xã hội phải được xây dựng từ dưới lên. Chúng ta đã phân tích những nguyên nhân và ví dụ về các sự thất bại không thể tránh khỏi của những cách thức áp đặt từ trên xuống, như Liên Xô trước đây. Tiến trình phát triển từ dưới lên thuận theo quy luật tự nhiên (natural law, tức Creator’s law – Luật của Tạo hoá) nên nó bền vững và nhanh. NNPQ – The rule of law (Bộ quy tắc của luật) trước hết phải tuân thủ luật của Tạo hoá như một chân lý làm nền tảng cho việc xây dựngluật pháp của con người. Nói cách khác, quy luật tự nhiên là những quy tắc căn bản của luật pháp. Dưới các NNPQ như Anh và Mỹ, một trong những lý do hàng đầu để toà án bác bỏ quyềt định của hành pháp hoặc các luật lệ là vì chúng trái với natural law. Mà muốn cho quy luật trở thành những quy tắc căn bản của luật pháp thì ngoài việc thiết kế Nhà nước như đã nói còn phải xây dựng một quy trình làm luật đúng đắn mà tiếng Anh gọi là Due Process of Law (DPoL). Vì lý do này mà DPoL là cả một khoa học về luật. Đứa nào quan tâm thì cố tự tìm hiểu có gì khó hiểu thì hãy hỏi chú Định. Chú ấy là chuyên gia siêu hạng về lĩnh vực này (đừng hỏi cậu vì cậu sẽ bí🙂 )

 Vì tôn trọng quy luật phát triển từ dưới lên nên đương nhiên nền tảng luật pháp dưới NNPQ là các luật án lệ, như đã nói ở trên. Vì vậy mà vai trò của các bồi thẩm đoàn rất quan trọng. Bồi thẩm đoàn (12 người) là một thiết chế quan trọng trong nhánh tư pháp của một NNPQ nên các Bồi thẩm cũng được bảo đảm sự độc lập trong xét xử như các thẩm phán vậy. Có điều này chắc có đứa sẽ ngạc nhiên (giống cậu ngày xưa thôi🙂 ), đó là các Bồi thẩm không phải là những người hiểu biết luật. Nói chính xác hơn, họ không phải là những chuyên gia để biết vế các điều này; sớ kia của luật này hay bộ luật nọ, … Họ không cần biết và cũng không nên biết. Vì sao vậy? Vì Bồi thẩm đoàn trong một phiên toà là nơi quyết định sự thật của việc tranh chấp. Mà sự thật là Chân lý – là LẼ PHẢI TUYỆT ĐỐI, hoàn toàn độc lập với các quy định pháp lý của luật – tức LẼ PHẢI THOẢ ƯỚC. Và sự thật phải được chứng minh một cách khoa học, tức phải dựa vào quy luật khách quan, chứ không phải dựa trên luật pháp – chỉ là sự thoả hiệp chủ quan của con người. Hơn nữa, các quy định chi tiết của luật chẳng qua chỉ là hình thức để thể hiện bản chất của nó. Mà bản chất của luật thì không thể khác bản chất của quy luật về tiến trình phát triển tự nhiên của con người. Vì vậychỉ cần hiểu tiến trình này thì đã biết được bản chất của luật pháp mà không cần phải nắm được các quy định, tên gọi của chúng. Nắm nhiều các chi tiết này có thể làm “nhiễu”, mất tính khách quan khi quyết định sự thật. Vì vậy mà chẳng ai mời các luật gia, luật sư, … vào Bồi thẩm đoàn cả. Tụi con hiểu hôn? Không hiểu thì lại “dí” chú Định thôi🙂 Đề tài NNPQ vẫn còn … dài

Thương tụi con.

This entry was posted in Thư Xuyên Mộc. Bookmark the permalink.

2 Responses to Nhà nước pháp quyền (phần 4) – Tinh thần luật của một nhà nước Pháp Quyền (Thư 45B)

  1. Pingback: Nhà nước pháp quyền (P.5) – Tự do ngôn luận đứng trên Tam Quyền phân lập: dấu hiệu của DÂN CHỦ. | Trần Huỳnh Duy Thức

  2. Pingback: Thư 47A – Nhà nước Pháp quyền (phần cuối) | Trần Huỳnh Duy Thức

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s