Nhà nước pháp quyền (P.5) – Tự do ngôn luận đứng trên Tam Quyền phân lập (Thư 46A)

46A-cover-wp

Xuyên Mộc, 29/6/2015

Các con, cháu thương! Chúng ta tiếp thư 43B về Nhà nước Pháp quyền (NNPQ).

Cuối thư trên ta đã nói rằng Bồi thẩm không cần rành luật vì “bản chất của luật trong một NNPQ không thể khác bản chất của Quy luật về tiến trình phát triển tự nhiên của con người”. Tiến trình này là sự chuyển hóa từ dưới lên của xã hội (upward social transformation), được tạo ra từ sự vận động của người dân để họ ngày càng tiến lên trong xã hội. Tiếng Anh gọi sự vận động này là upward social mobility – Sự vận động từ dưới lên của xã hội. Sự vận động như vậy mới tạo nên các nền tảng của dân chủ, công bằng, thịnh vượng và văn minh như ta đã phân tích trong Cơ chế Xã hội Khoa học (CCXHKH). Vì thế Quy luật về tiến trình phát triển tự nhiên của con người cũng chính là Quy luật phát triển xã hội (theo cách gọi của cậu) hay Bàn tay vô hình (theo cách gọi của Adam Smith). Quy luật này đòi hỏi con người phải được vận động tự do trong xã hội để Cơ chế Xã hội Khoa học hình thành. Chính cơ chế này vận hành mọi sự vận động của con người để xã hội đạt được trạng thái cân bằng tự nhiên mà ở đó lợi ích của mọi người được tự động đáp ứng cho nhau hoặc thỏa hiệp với nhau. Mà muốn cho con người có được sự vận động tự do trong xã hội thì QCN phải được bảo vệ trên hết cho từng người – tức “Thượng tôn QCN” đây là quy tắc tiên quyết của NNPQ mà cậu đã đề cập ngay từ đầu của đề tài này (thư 42A). Vì vậy mà nó cũng là tiêu chuẩn cao nhất của tòa án để xét xử các vụ tranh chấp. Tối cao pháp viện Mỹ dùng tiêu chuẩn này để bác bỏ khá nhiều các đạo luật và quyết định của các cơ quan hành pháp dù chúng được ban hành dựa trên sự viện dẫn về một hoặc nhiều nhu cầu cấp thiết nào đó. Đạo luật yêu nước ra đời được vì Tổng thống và Quốc hội Mỹ lúc đó đã chứng minh được nước Mỹ đang có một nhu cầu cấp thiết (compelling) là khẩn cấp chống khủng bố để bảo vệ người dân, vì thế cần hạn chế một số quyền tự do của người dân. Nhưng khi nhu cầu này đã qua đi, chính phủ liên bang mà cụ thể là NSA không còn chứng minh được sự bức thiết của nó nữa thì Tòa án Mỹ sẽ thu hẹp phạm vi áp dụng của Đạo luật yêu nước, trả lại những quyền tự do cho người dân đã bị NSA và những cơ quan an ninh khác của chính phủ xâm phạm. Có lẽ vì không muốn Tối cao pháp viện Mỹ ra phán quyết về vấn đề này nên hai viện Quốc hội Mỹ đã thông qua và Tổng thống Obama đã ký thành luật Đạo luật tự do, bãi bỏ hầu hết các chương trình nghe lén của NSA hồi tuần rồi🙂. Đây là một ví dụ hay về sự vận hành hiệu quả của các thiết chế NNPQ được thiết kế tốt để bảo vệ trên hết QCN. Phân tích kỹ thì tụi con sẽ thấy nguồn gốc của các luật hạn chế QCN và sau đó bãi bỏ chúng đều xuất phát từ sự vận động của người dân. Đầu tiên họ cảm thấy sự an toàn của mình bị khủng bố đe dọa nên chấp nhận quyền tự do của mình bị xâm phạm. Nhưng tới khi thấy “thở không khí không còn trong lành nữa” thì họ sẽ không cho phép xâm phạm nữa. Nếu không có một thiết kế NNPQ bảo đảm được quy tắc “Thượng tôn QCN” thì mọi chính quyền, không sớm thì muộn, cũng sẽ trở thành các chính thể cường quyền, xâm phạm rồi tước đoạt nghiêm trọng QCN của người dân. Ngay cả những người cầm quyền có không muốn đi nữa thì vẫn chắc chắn rằng các chính thể này sẽ trở thành các chế độ độc tài, toàn trị vì không ai có thể kiểm soát được sự viện dẫn nhu cầu mà lúc nào nghe cũng có vẻ chính đáng và cần thiết.

30/6

Chúng ta đã phân tích qua về cách thiết kế Nhà nước Mỹ với 3 nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Cả ba loại quyền này đều được hình thành từ sự trao quyền của nhân dân cho các thiết chế tương ứng của từng nhánh thông qua từng cá nhân cụ thể, chứ không trao quyền cho các đảng phái hoặc bất kỳ tổ chức nào không thuộc thiết chế nhà nước. Nguyên lý đầu tiên của thiết kế Nhà nước Mỹ là: “Quyền lực tối thượng thuộc về dân chúng”. Đó cũng là nguyên lý bắt buộc của những Nhà nước pháp quyền. Hiến pháp VN thể hiện nguyên lý bằng câu ở Điều 2: “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Nhưng tụi con cần lưu ý rằng để đảm bảo được nguyên lý này thì nhân dân không trao quyền lực tối cao(1) của mình cho bất kỳ thiết chế nào của Nhà nước dù đó là Quốc hội (lập pháp), Chính phủ (hành pháp) hay Toàn án (tư pháp). Quyền lực tối cao luôn thuộc về nhân dân, nhân dân chỉ trao các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp cho các thiết chế tương ứng một cách độc lập. Một trong ba quyền này không có thẩm quyền và cũng không được phép tạo ra quyền lực cho hai quyền còn lại. Những người được trao các quyền này chỉ được sử dụng quyền trong phạm vi mà nhân dân cho phép và phải tuân theo những quy định, quy trình mà nhân dân ấn định. Nhân dân không trao quyền cao hơn cho bất kỳ nhánh nào trong ba nhánh, tất cả ba quyền đều tương đương nhau và đều ở dưới quyền lực tối cao là nhân dân. Điều này có nghĩa rằng sẽ không có bất kỳ thiết chế nhà nước nào có được quyền lực nếu không được nhân dân trao quyền. Trong một NNPQ, nhân dân chỉ trao quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp cho Nhà nước. Tất cả các quyền khác vẫn thuộc về nhân dân. Nói một cách nôm na, các quyền này nhân dân giữ lại để sử dụng, không trao cho nhà nước. Vì vậy các quyền ấy là tối cao, đứng trên những quyền mà nhân dân đã trao cho Nhà nước. Quyền tối cao đó chính là QUYỀN CON NGƯỜI, chứ không thể là gì khác được. Nhân dân trao các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp cho Nhà nước cũng vì mục tiêu trên hết là để bảo vệ QCN cho mình. Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế đã thể hiện mục tiêu này tại Điều 29: “Trong khi sử dụng QCN và thụ hưởng tự do, mỗi người chỉ phải chịu sự hạn chế do luật, và những hạn chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng QCN và tự do của những người khác, cũng như nhằm đáp ứng những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và nền an sinh chung của một xã hội dân chủ.”

mill

QCN chính là quyền tối cao của người dân. Vì vậy nguyên lý “Quyền lực tối thượng thuộc về dân chúng” cũng chính là Quy tắc “Thượng tôn QCN”. Đây là nguyên lý/ quy tắc tiên quyết của NNPQ. Bản chất và ý nghĩa của cả hai là như nhau, nhưng cậu thích tiếp cận từ Quy tắc “Thượng tôn QCN” hơn. Lý do là khái niệm quyền lực tối thượng nghe thì dễ nhưng để hiểu thì khó. Người dân, nhất là ở các nước đang phát triển, dễ nhầm lẫn nó với các loại quyền lực nhà nước mà lâu nay họ vẫn nghĩ là chúng vốn đương nhiên thuộc về Nhà nước, hoặc với các loại quyền lực tuyệt đối(2) mà các cá nhân hay tổ chức độc tài tiếm quyền của dân thành của mình. Vì vậy mà người dân cảm thấy rất xa lạ với quyền lực tối thượng và nghĩ rằng mình chẳng bao giờ có được nó, mà không hiểu rằng nó vốn thuộc về mình, phải là của mình. Trong khi đó khái niệm QCN lại gần gũi và cụ thể nếu nó được xác định theo đúng bản chất và ý nghĩa đầy đủ của nó là: “quyền được mưu cầu bất kỳ điều gì mà con người mong muốn” như ta đã phân tích trong thư 43B khi nó được bảo vệ hiệu quả thì người dân sẽ sử dụng nó rất thiết thực mà chẳng phải học hỏi gì cao siêu. Các luật lệ được hình thành trong quá trình vận động từ dưới lên tự khắc sẽ làm họ biết những giới hạn trong việc sử dụng QCN của mình, mà quan trọng nhất là không được xâm phạm QCN và tự do của người khác. Khi Nhà nước được thiết kế hiệu quả để QCN được bảo vệ trên hết thì tự khắc QCN trở thành quyền tối cao của người dân. Vả lại, nguyên lý “Quyền lực tối thượng thuộc về dân chúng” thường hay bị biến thành khẩu hiệu để mị dân. Hơn nữa QCN còn có đặc tính là bình đẳng tuyệt đối đối với từng người và là nền tảng của CCXHKH, đồng thời cũng là yếu tố cơ bản tạo ra sự vận động của con người trong xã hội. Đặc biệt, QCN là do Tạo hóa trao cho con người và vì vậy nó chứa đựng quy luật trong bản chất của nó. Vì những lý do trên nên cậu xây dựng lý thuyết NNPQ dựa trên Quy tắc “Thượng tôn QCN”. Do đó lý thuyết này hoàn toàn tương hợp với lý thuyết CCXHKH vốn cũng được đặt trên cùng một Quy tắc: “QCN phải được bảo vệ trên hết”. Tụi con đã thấy Quy tắc này xuất hiện thường xuyên và xuyên suốt từ đề tài CCXHKH đến Công lý và NNPQ. Đến khi hết đề tài NNPQ, tụi con sẽ còn thấy Quy tắc này là nền tảng chung của nhiều phương pháp khác để đạt được các mục đích khác nhau. Lý do là vì QCN không chỉ chứa đựng quy luật mà còn là yếu tố cơ bản tác động đến sự vận hành của Quy luật phát triển xã hội. Cậu quan sát rất kỹ và nhận thấy rằng ở các nước chậm tiến, độc tài, toàn trị, người dân cũng được tuyên tuyền là quyền lực tối thượng thuộc về họ nhưng lại nghĩ rằng họ chỉ sử dụng nó lúc bỏ phiếu để trao nó cho cá nhân hay đảng phái để những kẻ này dẫn dắt, che chở cho mình. Mà thực tế họ cũng trao sạch, chẳng còn quyền để sử dụng. Tiếp cận từ Quy tắc: “QCN phải được bảo vệ trên hết” sẽ tránh được những sự lừa mị này. Trong lý thuyết NNPQ cậu thể hiện Quy tắc này bằng cụm từ “Thượng tôn QCN” (Supremacy of Human Rights) để tận dụng sự gợi nhớ của “Thượng tôn luật pháp” (Supremacy of Law) – là Quy tắc tiên quyết của Nhà nước pháp trị (Rule by law) vốn đã rất phổ biến.

1/7

Tuy nhiên, nếu tụi con nghiên cứu các tài liệu khác về NNPQ thì sẽ thấy hầu hết tiếp cận từ Nguyên lý “Quyền lực tối thượng thuộc về nhân dân” vốn xuất phát từ các quy tắc thiết kế của Nhà nước Mỹ từ thời lập hiến và từ ý nghĩa của thuật ngữ cộng hòa (là quốc gia của nhân dân). Trong khi đó người Anh thì xây dựng Nhà nước quân chủ thành pháp quyền. Hoàng gia Anh chuyển giao dần quyền lực sang cho dân chúng, từ vị trí nắm giữ quyền lực tối thượng sang chỉ còn quyền lực trên danh nghĩa. Vương quốc Anh danh nghĩa là của Hoàng gia nhưng chủ quyền quốc gia thuộc về nhân dân. Người đứng đầu Nhà nước là Nữ hoàng hoặc vua do Hoàng gia lựa chọn nhưng phải được Quốc hội của dân phê chuẩn. Nhân dân cũng nắm quyền quyết định sự tồn tại của Hoàng gia, có thể kết thúc nó và chuyển thành đất nước cộng hòa. Nhưng không phải người Anh không có lý do rất tuyệt vời để ủng hộ chế độ quân chủ lập hiến hiện nay của mình. Cậu có nhiều người bạn Anh đều nói rằng tại sao chúng tôi phải tốn hàng tỷ bảng Anh và rất nhiều thời gian và công sức để cứ vài năm phải đi bầu ra một ông/bà tổng thống nào đó chỉ để làm những công việc danh nghĩa mà Hoàng gia đang làm rất tốt và làm sao mà các ông bà ấy có được sự tôn trọng của cả trong nước lẫn quốc tế như Hoàng gia đã tạo dựng được sau gần cả ngàn năm. Điều cậu muốn nói là NNPQ không tồn tại trên danh nghĩa, mà chỉ tồn tại trong thực tế – tức là trong bản chất của sự vận động xã hội có tự do hay không. Mà điều này tùy thuộc vào Nhà nước có được thiết kế để “Thượng tôn QCN” hoặc “Quyền lực tối thượng thuộc về nhân dân” hay không. Gắn các tính từ hình thức cho NNPQ chẳng giúp được gì cho việc thiết kế, chỉ tạo điều kiện cho các chính trị gia mị dân mà thôi.

Các thiết chế nhà nước được thiết kế ra là để nhận sự trao quyền của nhân dân và thực hiện những chức năng mà nhân dân cần. Có nhiều công nghệ thiết kế khác nhau, nhưng sau nhiều kinh nghiệm thành công và thất bại trong lịch sử thế giới, nhân loại đã chứng minh rõ rằng nhân dân chỉ cần trao ba quyền tương ứng với ba chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp độc lập với nhau. Quyền tối cao không bao giờ được trao cho ai và cũng không được để cho bất cứ đảng phái nào tiếm mất quyền này. Nó phải luôn thuộc về nhân dân để nhân dân thường xuyên sử dụng nó, bất kỳ lúc nào. Quyền tối cao ấy không có gì xa lạ, chính là QCN – là quyền tự do vận động trong xã hội để mưu cầu tất cả những gì mình muốn, kể cả thay đổi hoặc kết thúc những thiết chế nhà nước đã được trao quyền. Đó chính là quyền làm chủ đất nước, tức là quyền dân chủ, chứ không chỉ là các quyền được sống, được kiếm tiền và hưởng thụ. Quyền tối cao / quyền lực tối thượng là như vậy, là bao trùm tất cả. Nếu gọi các thiết chế nhà nước được nhân dân trao các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp là quyền dân chủ đại diện thì quyền tối cao của nhân dân là quyền dân chủ trực tiếp. Đây là quyền quan trọng nhất quyết định tính pháp quyền của một quốc gia và hệ quả của tính chất này là trình độ phát triển dân chủ, công bằng, thịnh vượng và văn minh của đất nước.  Người dân trao các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp cũng chỉ nhằm mục tiêu tối thượng (ultimate goal) là để nhà nước bảo đảm quyền tối cao – tức QCN của nhân dân. Nghĩa là quyền dân chủ đại diện là để bảo vệ quyền dân chủ trực tiếp. Đồng thời, quyền dân chủ trực tiếp sẽ kiểm soát quyền dân chủ đại diện để nó không bị lạm dụng phục vụ cho những mục đích ngoài mục tiêu tối thượng nói trên – chính là “Thượng tôn QCN”.

 Nếu quyền tự do báo chí / ngôn luận không được đảm bảo thì tất cả các quyền khác của con người đều què quặt, các quyền dân chủ đại diện sẽ biến thành các quyền lực cai trị độc tài, xấu xa không sớm thì muộn. Ông Nguyễn Tấn Dũng trong bài viết được công bố rộng rãi ngày 1/1/2014 đã viết: “Dân chủ trực tiếp càng sâu rộng và thực chất thì dân chủ đại diện càng hiệu quả”. Một nhận định đáng giá và hợp quy luật. Báo Nhân Dân ngày 9/6/2015(3) cũng có một bài của ông Trương Minh Tuấn (Thứ trưởng Bộ TTTT) đồng tình với quan điểm tự do báo chí của John Stuart Mill – một sự thay đổi nhận thức rất đúng đắn. Không cần phân tích nhiều thì cũng thấy quyền tự do ngôn luận ảnh hưởng mạnh mẽ như thế nào đến khả năng sáng tạo của con người, làm thăng hoa xã hội. Cậu cũng đã nhiều lần đưa ra các ví dụ về những nơi không có tự do báo chí dẫn đến sự bóp nghẹt sáng tạo trong khoa học, nghệ thuật, văn hóa, kinh tế; bóp nghẹt sự thật làm suy đồi đạo đức xã hội.

2/7

Quá trình phát triển của các nước hơn 100 năm qua đã cũng cố cho lý thuyết của J.S.Mill. Không có quốc gia nào tiến đến được văn minh nếu xã hội ở đó thiếu tự do báo chí. Vì vậy mà báo chí được mệnh danh là “quyền lực thứ tư”. Đây là cách gọi không chính thức và cũng không được chính xác lắm. Nó xuất phát từ việc người dân trao 3 quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp cho một NNPQ nhưng vẫn giữ lại quyền tối cao đề sử dụng. Mà quyền tự do báo chí là quan trọng nhất trong các quyền tối cao này để kiểm soát 3 quyền đã trao, nên người ta mới gọi báo chí là quyền lực thứ tư. Nhưng xếp thứ tự như vậy thì sẽ gây nhầm lẫn là quyền này ở dưới 3 quyền kia trong khi thực ra là ở trên cao nhất vì nó thuộc về quyền lực tối thượng của nhân dân. Tiếc là người ta đã quen gọi như vậy rồi. Nhưng không sao, hình thức không quyết định được bản chất. Ở các nước phát triển, người dân luôn mặc nhiên hiểu rằng quyền tự do báo chí là tối thượng và là yếu tố căn bản của một xã hội dân chủ. Không có thứ quyền lực nào được đứng trên mà ngăn cản được, chứ đừng nói là tước đoạt quyền tự do báo chí. Một trong những đạo luật đầu tiên được ban hành dưới Nhà nước Liên bang Mỹ là Bills of Rights (thường được gọi là Tuyên ngôn Nhân quyền Mỹ) cam kết rằng mọi thiết chế nhà nước không bao giờ được ban hành bất kỳ luật lệ nào để hạn chế các quyền tự do ngôn luận / báo chí, lập hội, biểu tình, sử dụng súng , v.v… Cậu đã kể tụi con nghe chuyện này rồi. Thư 40D cậu cũng đã kể về một án lệ nổi tiếng ở Mỹ: Tòa án bác đơn kiện của một chính trị gia kiện một phóng viên và tờ báo cho rằng đã vu khống mình. Dù sự việc đã được xác định đúng là phóng viên và tớ báo ấy đã đưa tin sai lệch về chính trị gia này, nhưng Tòa án không kết tội họ vì điều đó có thể tạo ra sự đe dọa đối với quyền tự do báo chí. Mà sự đe dọa ấy lại xuất phát từ một chính trị gia – người nhận trao quyền của nhân dân, tức quyền được trao không thể cao hơn quyền của nhân dân trong đó có tự do báo chí. Nếu bản án được tuyên kết tội phóng viên và tờ báo thì vô hình trung sẽ tạo nên một sự nhầm lẫn là quyền của chính trị gia cao hơn quyền tối thượng của nhân dân. Chính trị gia này sau đó được xác nhận sự thật cho mình. Nhưng sau bản án này chẳng có chính trị gia nào dại dột theo đuổi mục tiêu xác minh sự thật cho mình bằng thưa kiện nữa vì nó đã tạo nên một luật án lệ còn hiệu lực cho đến tận ngày nay. Đây là một ví dụ rất hay về việc thiết chế nhà nước (Tòa án) dùng quyền tư pháp của dân trao để bảo vệ quyền tự do báo chí nói riêng và QCN hay quyền tối thượng của dân nói chung. Chuyện xuất hiện thông tin không chính xác trên báo chí là chuyện như cơm bữa ở bất kỳ nước nào. Các công dân bình thường (ngang quyền với nhau) có thể yêu cầu Tòa án bảo vệ sự thật cho mình và đòi bồi thường nếu bị thiệt hại do sự thật bị bóp méo. Đây là cách hiệu quả nhất khi họ không tự thỏa hiệp với nhau lúc có tranh chấp. Nhưng đối với các chính trị gia hoặc các cơ quan công quyền nói chung, cách hiệu quả nhất là chủ động và công khai công bố sự thật của mình cho công chúng biết để tránh những đồn đoán sai lệch. Khi bị nhận những thông tin không chính xác về mình thì hãy bình tĩnh và sử dụng quyền tự do ngôn luận của mình mà chứng minh sự thật. Dư luận sẽ tự điều chỉnh. Chả dại gì mà đi “vật lộn” với quyền lực tối thượng, nhất là ở chốn công đường🙂. QCN là tối cao và bất khả xâm phạm.

Ở các NNPQ như Mỹ, dù đất nước có rơi vào tình trạng nguy cấp như chiến tranh thì chính quyền cũng không thể nại vào đó để cấm đoán báo chí được. Nước Mỹ đã trải qua một cuộc nội chiến, vài cuộc chiến chống ngoại xâm với Anh và Nhật, và tham chiến rất nhiều lần bên ngoài lãnh thổ Mỹ. Báo chí vẫn tự do hoạt động suốt các khoảng thời gian này và là một phần không thể thiếu để cung cấp các thông tin đa chiều cho người Mỹ biết về các cuộc chiến. Sự vận động của họ sẽ quyết định nước Mỹ sẽ phải làm gì với những cuộc chiến này. Vì vậy mà chẳng có gì ngạc nhiên và bất thường khi có rất nhiều thông tin phản chiến, chống lại sự tham chiến của chính quyền. Hôm 15/6 vừa rồi hãng tin AP của Mỹ triển lãm ảnh về cuộc chiến VN, toàn là ảnh phản chiến. Ông Trương Tấn Sang tham dự và trước đó có tiếp chủ tịch AP. Ông Sang đã cảm ơn AP đã kịp thời đưa tin về chiến trường từ VN để người dân Mỹ hiểu rõ và góp phần tạo ra dư luận khiến chính quyền Mỹ phải rút quân khỏi VN. Nói chính xác, đó chính là sự cảm ơn đối với quyền tự do báo chí. Không có quyền này ở Mỹ thì làm gì có những bức ảnh của AP và vô số các bài báo, phóng sự phản chiến ở Mỹ. Ông chủ tịch AP giờ này chắc vẫn còn ngồi gỡ lịch hoặc đã thành người thiên cổ vì đã dám dũng cảm đưa ra sự thật, chứ đâu có vinh dự được Chủ tịch nước tiếp. Không có quyền tự do báo chí thì không tồn tại quyền tối cao của nhân dân. Khi đó chỉ còn lại quyền lực của chính quyền nên những kẻ cầm quyền dễ dàng viện dẫn lợi ích quốc gia một cách tùy tiện để quy tội cho những người dám nói lên sự thật nhưng trái với ý muốn hoặc lợi ích của những kẻ đó. Muốn có sự thật thì chỉ cần bảo vệ quyền tự do báo chí. Khi người ta phải dũng cảm để mới nói được sự thật thì xã hội đã cường quyền lắm rồi. Sự thật là sự thật. Không thể phân loại sự thật. Với một sự kiện, chỉ có một sự thật. Sự thật thuộc về chân lý, tuyệt đối như quy luật của Tạo hóa và không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của bất kỳ ai. Hình ảnh cô bé Phúc dính bom napal phải cởi hết quần áo ra mà chạy là một sự thật đã được phóng viên AP ghi lại. Không ai thay đổi được sự thật này cả, ngay cả nó không được chụp lại thì nó vẫn là sự thật. Không phải vì nó gây cho quân đội Mỹ bị mất mặt mà AP không công bố sự thật. Cũng không phải vì AP muốn phục vụ cho VN mà họ công bố sự thật. Đòi hỏi sự thật phải phục vụ cho ai hay điều gì thì sự thật không còn là sự thật nữa. Còn sự thật sẽ tác động như thế nào là do sự vận động của xã hội. Những bức ảnh của AP nói riêng và tất cả những thông tin về chiến trường VN nói chung được báo chí Mỹ công bố có thể tạo ra những xu thế khác nhau. Đó có thể là áp lực của dư luận Mỹ lẫn quốc tế ép quân đội Mỹ rút quân khỏi VN. Nhưng cũng có thể là những đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa lực lượng vào chiến trường VN. Cuối cùng thì xu thế thứ nhất đã thắng mà ngày nay được đánh giá là xu thế tiến bộ bởi nhân loại yêu hòa bình. Vì vậy quyền tự do báo chí không nhũng để hỗ trợ sự thật mà còn để mọi người tự do phát biểu quan điểm và đòi hỏi đất nước mình cần làm gì với nó. Quyền tự do báo chí còn hỗ trợ cho bảo vệ công lý. Chính các nhà báo Mỹ đã phanh phui vụ Mỹ Lai sau hàng chục năm bị quân đội ém nhẹm. Từ đó Tòa án Mỹ mới xét xử và chứng minh được sự thật về vụ thảm sát và đưa những người có trách nhiệm ra chịu tội trước công lý. Những chuyện tương tự như thế không phải là hiếm dưới những NNPQ. Nhưng lại không bao giờ xảy ra ở các Nhà nước độc tài, toàn trị🙂.

Đương nhiên là trong quá trình tự do ngôn luận thì cũng xảy ra những vấn đề khá thường xuyên. Nhưng hầu hết chúng được tự động điều chỉnh bởi LẼ PHẢI CƠ BẢN của CCXHKH. Còn những gì có tranh chấp thì con người sẽ tìm đến Tòa án như cậu vừa nói ở trên, tức là dựa vào LẼ PHẢI THỎA ƯỚC để giải quyết vấn đề. Chỉ khi nào người ta không tôn trọng các thỏa ước này (tức là không tôn trọng luật lệ) mà tự giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực thì nó mới tạo ra những sự kiện kinh hoàng như vụ tấn công khủng bố Tòa soạn tạp chí Charlie Hebdo ở Pháp hồi đầu năm nay. Vào lúc đó cậu xem báo và TV thấy có những ý kiến quy kết cho quyền tự do báo chí là nguyên nhân của vấn đề. Nói như thế thì chẳng khác gì quy kết cho lực vạn vật hấp dẫn làm máy bay rơi gây ra tai nạn kinh hoàng. Theo kiểu suy luận như thế thì rất có thể Issac Newton sẽ bị buộc tội vì đã phát hiện ra Luật vạn vật hấp dẫn🙂. Quyền tự do báo chí là QCN – là sản phẩm của Tạo hóa như tất cả các quy luật vật lý, hóa học, … Nếu vì một sự kiện như Charlie Hebdo mà cấm đoán, hạn chế quyền tự do báo chí thì chẳng khác nào cấm sử dụng máy bay vì có một tai nạn máy bay thảm khốc “do luật vạn vật hấp dẫn gây ra”. Nhưng vì không cấm được Luật này, không làm cho nó hết hút máy bay nữa được nên phải cấm máy bay. Chuyện ngớ ngẩn như thế lại xảy ra với quyền tự do báo chí. Một cách thực tế và khoa học, không có bất kỳ sức mạnh / quyền lực nào có thể cấm được quyền tự do ngôn luận của con người và trong con người. Dù có đàn áp đến đâu đi nữa thì các chế độ cường quyền cũng không thể làm cho người dân thôi ngôn luận với nhau được, họ vẫn luôn bày tỏ quan điểm của mình với những người xung quanh mình. Vì vậy những kẻ cường quyền mới tập trung kiểm soát, cấm đoán các phương tiện rộng rãi là báo chí. Cấm phương tiện thì làm được khi quyền lực trong tay.

3/7

Hậu quả cấm đoán báo chí là đất nước không cất cánh được. Đây không chỉ là sự so sánh ví von cho dễ hiểu đâu, nó còn thể hiện sự tương đồng của những kết quả chịu tác động bởi những quy luật cùng của Tạo hóa. Hàng triệu chuyến bay mới có một tai nạn, mức độ an toàn của máy bay bỏ xa các phương tiện giao thông trên mặt đất. Số lượng tai nạn của các phương tiện này nhiều tới mức truyền thông chẳng buồn đưa tin. Tai nạn máy bay thì bao lâu mới có một lần, là sự kiện hiếm hoi nên được hầu hết truyền thông thế giới tập trung vào. Vì vậy mà dân tình toàn cầu mới thấy ghê ghê và có không ít người sợ đi máy bay vì thấy nó rơi. Nhưng hãy hình dung thế giới ngày nay không có máy bay thì nó tệ đến thế nào. Chẳng mấy ai muốn trở lại cái thời lạc hậu ấy đâu. Người ta chỉ muốn tiến xa hơn, sử dụng máy bay nhiều hơn nữa. Vì vậy mà các nhà thiết kế, chế tạo máy bay vẫn đang cố gắng làm cho nó an toàn hơn thêm. Số chuyến bay trên khắp thế giới hằng năm có thể tăng gấp đôi trong chỉ hơn 10 năm tới. Nếu không giảm được tỷ lệ tai nạn trên số chuyến bay xuống thì những “người yếu tim” sẽ càng thót tim hơn🙂. Cậu nói đùa thôi, sự lo lắng đó của con người là chính đáng, dù rất ít nhưng khi tai nạn xảy ra thì vẫn là hàng trăm nhân mạng. Giải pháp để giảm thiểu đau thương là phải tăng cao trình độ thiết kế, tạo ra những công nghệ máy bay an toàn hơn nữa. Chứ không phải là bắt đi máy bay hoặc cấm hẳn nó. Nếu con người phải chuyển sang các phương tiện khác để đáp ứng cho nhu cầu đi lại của mình thì số tai nạn và thương vong sẽ tăng vọt khủng khiếp. Nói cho vui thôi chứ chẳng có phương tiện nào đáp ứng nổi cả lưu lượng lẫn vận tốc thay cho máy bay được hết. Vai trò của báo chí đối với sự cất cánh của đất nước, sự thăng hoa của xã hội cũng tương tự như máy bay vậy, chẳng có phương tiện nào khác có thể thay thế được. Những tai nạn liên quan đến tự do báo chí như vụ Charlie Hebdo chiếm tỷ lệ còn ít hơn tỷ lệ rơi máy bay nhiều lần. Dù vậy, đó vẫn là vấn đề thương tâm nên phải cố gắng giảm thiểu hơn nữa, làm cho việc sử dụng tự do báo chí được an toàn hơn. Đầu tiên là sử dụng đạo lý. Tụi con thấy là ngay sau vụ tấn công Charlie Hebdo xảy ra, rất nhiều người lên tiếng về nó với những quan điểm khác nhau. Tất cả đều lên án bạo lực, chỉ trù những kẻ khủng bố là cổ vũ. Có một số rất ít bảo là phải hạn chế tự do báo chí bằng luật, nhưng hầu hết đều nói là không được hạn chế nó vì nó là giá trị đã làm nên xã hội Pháp tiến bộ và văn minh như ngày nay. Điều đáng lưu ý là: trong những tiếng nói ủng hộ không được hạn chế bằng luật thì vẫn có rất nhiều ý kiến kêu gọi những người làm báo hãy tự hạn chế mình. Người nổi bật nêu lên ý kiến loại này là Giáo hoàng Francis. Tụi con nhớ không? Ngài nói đại ý là không nên tự do báo chí không giới hạn tới mức đem đức tin của người khác ra chế giễu. Tất cả những ý kiến về vấn đề này chính là sự vận động của con người để tạo nên các quy tắc đạo lý tự nguyện đối với những vấn đề mới. Tụi con quan sát thì sẽ thấy hành xử của báo chí Pháp sẽ tự có sự điều chỉnh. Cậu tin là họ đã tự thay đổi quan điểm để tự giới hạn mình nhằm tránh cho mình và xã hội những tai nạn quá khích. Họ không thể tránh được tác động của Bàn tay vô hình. Trong một thế giới vận động nhanh thì tác dụng của Quy luật này cũng sẽ rất nhanh. Kế tiếp là sử dụng pháp lý. Những ý kiến vận động ra luật hạn chế tự do báo chí không thể gây được sự chú ý gì ở Pháp – nơi mà người dân “thở” bằng quyền tự do ngôn luận và không bao giờ chấp nhận thay máy bay bằng xe bò🙂. Vận động như thế rất dễ bị nhìn như Bin Laden. Người Pháp hầu hết đòi hỏi các thiết chế nhà nước phải có cách hiệu quả bảo vệ người dân không bị khủng bố khi sử dụng quyền tự do báo chí của mình. Sự vận động này cuối cùng đã đưa đến sự thông qua Đạo luật tình báo hồi tuần trước, cho phép các cơ quan an ninh nghe lén công dân, giống như NSA Mỹ đã làm. Nước Pháp đang đi vào quá trình giống như nước Mỹ sau vụ 11/9. Dự luật tình báo đã ra đời mấy năm rồi nhưng chưa thể thông qua được. Bây giờ nhờ vụ Charlie Hebdo mà dân Pháp mới có được tâm trạng chung ủng hộ dự luật này, biến nó thành luật. Những gì bị tác động bởi cùng những quy luật thì tụi con thấy chúng giống nhau thôi. Rồi tụi con sẽ thấy quá trình tiếp theo sau Đạo luật tình báo sẽ chẳng khác gì ở Mỹ cả. Tới lúc người dân Pháp thấy “ngột ngạt” quá và động lực phát triển xã hội bị sụt giảm thì việc nghe lén sẽ kết thúc thôi. Cậu nghĩ chỉ trong vòng vài năm là cùng.

Muốn an toàn hơn thì phải có những điều chỉnh ở đạo lý và pháp lý không thể điều chỉnh được chân lý. Chính Tạo hóa cũng không thay đổi được Luật vạn vật hấp dẫn để nó không hút máy bay rơi xuống khi bị mất lực đẩy. Con người làm gì được. Thế mà công việc phản khoa học này vẫn đang diễn ra phổ biến ở rất nhiều nước. Dù không có những sự kiện như Charlie Hebdo (đã bay được đâu mà có🙂 ) nhưng các chính quyền ở đó vẫn luôn chộp lấy những vấn đề rình rang có liên quan đến báo chí để tạo cớ nhằm kiểm soát báo chí hơn nữa. Thực ra những kẻ cầm quyền ấy chỉ lợi dụng những câu chuyện thương tâm để phục vụ cho sự cũng cố quyền lực của mình. Rồi những kẻ ấy khoe trên báo chí rằng đất nước dưới sự cai trị của mình không bị những chuyện như Charlie Hebdo, đồng thời cấm báo chí đưa sự thật về số người chết do đói nghèo, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông, … nhiều hơn cả ngàn lần số người bị chết vì khủng bố như Hebdo. Lúc còn ở ngoài, trong quá trình nghiên cứu, cậu đọc thấy rất nhiều các quan điểm của giới cầm quyền ở các nước độc tài, toàn trị về báo chí. Chúng đều na ná nhau ở chỗ là yêu cầu phải sửa lỗi quyền tự do báo chí của phương tây, cho rằng nó gây ra rất nhiều vấn đề, không rõ là họ có gửi chuyên gia cho Tạo hóa đào tạo khả năng sửa lỗi này không. Nhưng cậu chắc là họ lo bò mãi dưới đất, khá lắm là sắm được vài chiếc xe. Họ không bao giờ thoát được bẫy thu nhập trung bình, kể cả TQ với Nhà nước một đảng hay các nước Mỹ La Tinh, Châu Phi với rất nhiều đảng.

Quyền tự do ngôn luận / báo chí là QCN – là sản phẩm của Tạo hóa, không phải của phương Tây, phương Đông nào hết. Trong đề tài CCXHKH tụi con đã thấy QCN là nền tảng của tất cả các nền móng dân chủ; công bằng; thịnh vượng và văn minh, là yếu tố quyết định kết quả vận hành của Quy luật phát triển xã hội. Từ đầu thư 46A này đến giờ, chúng ta đã cho thấy QCN là QUYỀN TỐI CAO (Supreme Right) của con người, tương đương với QUYỀN LỰC TỐI THƯỢNG (Supreme Power) của nhân dân đối với Nhà nước. Trong thư 45B cậu đã viết: “NNPQ phải được thiết kế sao cho người dân có quyền và có thể sử dụng quyền lực để bảo vệ và mưu cầu lợi ích của mình”. Quyền lực trong câu này bao gồm:

(1) Các quyền lực đã được nhân dân trao cho các thiết chế nhà nước (Authority),

(2) Những quyền lực không trao, vẫn thuộc về nhân dân. Các thư trước ta đã phân tích những cách thức để bảo đảm cho người dân sử dụng quyền lực (1) như dùng lobby, bố trí nhiệm kỳ sao cho người dân thường xuyên dùng tới quyền bầu cử để tạo ra áp lực và đòi hỏi đến các chính trị gia, khởi kiện ra tòa để vô hiệu hóa các luật lệ; quyết định; hành vi của chính quyền xâm phạm đến quyền lợi của mình, v.v… Đây là cách sử dụng quyền lực gián tiếp thông qua các thiết chế đại diện. Quyền sử dụng các quyền lực đại diện này gọi là quyền dân chủ đại diện. Người dân không có quyền thực hành / thực thi các quyền lực đại diện (lập pháp; hành pháp, tư pháp) vì đã trao cho Nhà nước làm việc đó, nhưng vẫn có quyền sử dụng chúng để bảo vệ quyền lợi cho mình. Thiết kế Nhà nước để người dân càng dễ sử dụng quyền dân chủ đại diện bao nhiều thì hiệu quả của Nhà nước ấy càng lớn bấy nhiêu. Nhưng cho dù thiết kế có tốt thế nào thì quyền dân chủ đại diện vẫn không đủ. Các đại diện nhận trao quyền chỉ là một số lượng người rất nhỏ, không cách gì để thay dân làm mọi việc dân cần. Dân cũng chẳng cần các đại diện ấy làm gì khác ngoài 3 quyền được trao. Họ chỉ cần làm tốt trách nhiệm đã nhận lãnh để QCN của dân phải được bảo vệ trên hết. Quyết định vẫn thuộc về dân. Người dân sử dụng QCN để vận động cho lợi ích của mình và xã hội, và để thực hành quyền lực tối thượng của mình đối với đất nước mà ở phần đầu của thư này ta đã giới thiệu là quyền dân chủ trực tiếp – chính là những quyền lực (2) vừa đề cập ở trên.

4/7

Lâu nay nhiều người vẫn nhầm lẫn rằng quyền dân chủ trực tiếp là các quyền bỏ phiếu để bầu cử hoặc trưng cầu ý dân. Hẳn là các nhà toàn trị rất yêu thích sự nhầm lẫn này vì họ có thể biểu diễn cho tính dân chủ của mình qua các cuộc bỏ phiếu. Các nhà độc tài thì có màn trình diễn thuyết phục hơn với sự tham gia của các đảng đối lập được sử dụng quyền tự do ứng cử. Gần 100 năm nay thế giới diễn ra rất nhiều cuộc đấu tranh thành công giành lại các quyền này bị các chế độ độc tài, toàn trị tước đoạt. Đầu tiên phổ biến ở các nước Nam Mỹ rồi đến châu Á, châu Phi. Nam Phi là một ví dụ mà cậu đã kể trong thư 45B và các thư trước, Liên Xô thì được kể rất nhiều lần: họ giành lại được các quyền tự do bầu cử, ứng cử, lập đảng … (thường gọi chung là quyền chính trị) nhưng chưa thấy có nước nào có cơ hội trở thành quốc gia phát triển. Ngay cả Ấn Độ, người dân có đủ quyền chính trị từ năm 1947 sau khi thành lập Nhà nước cộng hòa nhưng đến giờ vẫn nằm ở mức thu nhập trung bình thấp. Sau những gì ta đã phân tích từ đầu đề tài NNPQ đến giờ, tụi con thấy rõ là các quyền chính trị này chẳng phát huy được bao nhiêu hiệu quả dưới một nhà nước không được thiết kế tốt. Vì vậy sự nhầm tưởng quyền chính trị là biểu tượng của quyền dân chủ nói chung hay quyền dân chủ trực tiếp nói riêng là một sai lầm tai hại. Thực tế phát triển của thế giới vài trăm năm qua đã chứng minh rằng tập trung mở nút thắt ở quyền chính trị không tạo nên sự đột phá đáng kể về dân chủ, công bằng, thịnh vượng, văn minh. TQ không có các quyền chính trị nhưng mức độ thịnh vượng vẫn bỏ xa Ấn Độ dù TQ còn khuya mới trở thành quốc gia phát triển nếu giữ nguyên sự tước đoạt quyền chính trị của người dân như hiện nay. Họ đã sập vào cái bẫy thu nhập trung bình. Quyền chính trị là thiêng liêng vì đó là QCN. Quyền chính trị là đương nhiên khi QCN được thượng tôn. Quyền chính trị chỉ phát huy sức mạnh của nhân dân trong một Nhà nước đúng nghĩa là NNPQ. Muốn vậy thì thiết kế Nhà nước phải bảo đảm:

  1. Các thiết chế lập pháp, hành pháp, tư pháp phải độc lập và kiểm soát quyền lực lẫn nhau; cấu trúc của các thiết chế này phải đảm bảo đại diện cho các quan điểm lợi ích khác nhau: lợi ích cục bộ, lợi ích chung và lợi ích toàn thể; sự tản quyền để chia rẽ bè phái làm cho số đông không thể tập hợp đủ sức mạnh để chèn ép quyền lợi của số ít; v.v… như ta đã phân tích.
  2. Xây dựng một quy trình làm luật đúng đắn (Due process of law) để bảo đảm rằng luật lệ phải được hình thành từ sự vận động từ dưới lên của người dân và không có luật lệ trái với Quy luật phát triển Xã hội nói riêng và các quy luật tự nhiên (Creators law)(4) nói chung. Chúng ta đã phân tích điều này ở thư 45B và những thư trước.
  3. Nhân dân không bao giờ trao quyền tự do báo chí / ngôn luận cho bất kỳ thiết chế nào của Nhà nước, càng không trao cho bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào ngoài Nhà nước trong mọi trường hợp. Chúng ta đã phân tích điều này trong thư 46A này và sẽ tiếp tục bàn về nó sau đây.

Trên đây là 3 yêu cầu cơ bản của NNPQ. Từ các yêu cầu này có thể phát triển thành các quy tắc cụ thể, nhưng lúc nào cũng phải tuân thủ Quy tắc tiên quyết là “Thượng tôn QCN”. Có những trường phái khác nhau xây dựng ra những Bộ quy tắc của luật khác nhau. Các Bộ quy tắc này chính là nghĩa gốc của từ tiếng Anh The rule of Law mà được dịch ra là Nhà nước pháp quyền như cậu đã giới thiệu ngay từ đầu đề tài này (thư 42A). Đứa nào không nghiên cứu sâu thì chỉ cần nhớ 1 Quy tắc tiên quyết và 3 yêu cầu cơ bản là đủ hiểu để đòi hỏi và sử dụng NNPQ. Không phức tạp lắm phải không?

5/7

Hãy phân tích thêm về yêu cầu cơ bản thứ 3 nêu trên. Nói theo lý thuyết quản trị chiến lược thì quyền tự do báo chí là một đích nhắm chiến lược (Strategic Objective – SO) vì nó mang tính quyết định bảo đảm cho các quyền khác của QCN, kể cả quyền chính trị. Nếu chọn biểu tượng cho quyền dân chủ trực tiếp thì cậu sẽ bỏ phiếu cho quyền tự do ngôn luận(5) vì những lý do chính sau:

  1. Tự do ngôn luận là quyền mà người dân có thể xài thường xuyên, bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu và bằng bất kỳ phương tiện nào miễn là bày tỏ được quan điểm của mình với người khác. Rõ ràng là nó rất dễ sử dụng và không tốn kém. Lịch sử thế giới đã nhiều lần chứng kiến những kỳ tích thay đổi xã hội xuất phát từ những sự bày tỏ bằng những cách đơn giản như cầm biểu ngữ đứng trên vỉa hè, gửi email, … Cách đây hơn 10 năm có một người phụ nữ (phải xin lỗi bà vì cậu bị quên tên bà) nhận Nobel hòa bình nhờ đã khởi động được một chiến dịch bảo vệ môi trường có ảnh hưởng trên toàn cầu. Điều đáng lưu ý là bà không có nhiều tiền nên thực hiện việc này chỉ bằng cách miệt mài gửi email đến mọi người và các tổ chức.
  2. Hiệu quả của việc sử dụng quyền tự do ngôn luận là lớn, mạnh, nhanh và nhiều lúc là tức thời. Đó là đặc tính phổ biến của báo chí hoặc của dư luận đại chúng nói chung. Hơn nữa, những kẻ xấu luôn sợ sự công khai trong khi những người tốt thì tìm thấy động lực và áp lực từ đó để làm tốt hơn. Ở các nước dân chủ, áp lực dẫn tới Chính phủ phải giải trình hoặc điều chỉnh chính sách phần nhiều xuất phát từ đòi hỏi của dư luận hơn là từ Quốc hội. Chính Quốc hội, Tòa án cũng phải giải trình quyết định của mình trước nhân dân khi có áp lực dư luận. Phát hiện ra những vấn đề của xã hội hoặc đưa ra ánh sáng những bê bối chính trường cũng xuất phát chủ yếu từ báo chí, chứ không phải dựa hết vào các cơ quan công quyền.
  3. Tính chiến lược của quyền tự do ngôn luận đã được nghiên cứu lâu đời bằng những lý thuyết khoa học vững chắc và đã được chứng minh bằng thực tế sau hàng trăm năm, như của John Stuart Mill mà cậu đã đề cập ở trên. Nó chiến lược vì nó không chỉ bảo đảm cho dân chủ, mà cả công bằng; thịnh vượng và văn minh. Chưa có nước nào trở thành quốc gia phát triển mà lại thiếu tự do báo chí, trừ Singapore là có 1 số hạn chế. Nhưng ngoại lệ này cũng có tính quy luật bởi đặc tính của một xã hội nhỏ, dịp khác cậu sẽ phân tích về nguyên nhân này. Vì thói quen nhìn giải pháp một cách trực quan, không hiểu được quy luật nên nhiều người nhầm tưởng rằng đảm bảo quyền chính trị thì quyền tự do ngôn luận đương nhiên là được bảo đảm. Thật ra là ngược lại.

Cậu so sánh báo chí như là cánh máy bay. Còn Định luật Bernoulli như là quyền tự do ngôn luận để tạo ra lực đẩy giúp máy bay cản được lực hút mà bay lên. Hạn chế báo chí thì khác nào thu nhỏ cánh máy bay làm nó không đủ lực đẩy không bay lên được hoặc sẽ rơi khi gặp gió mạnh lúc bay. Cấm đoán nó nghiêm ngặt thì diện tích cánh chỉ đủ làm máy bay vô hình cho vui thôi🙂. Người dân và những Nhà nước hiểu biết chẳng ai dại làm hỏng đôi cánh của mình, như nước Mỹ từ thời lập hiến; nước Pháp mới đây qua vụ Charlie Hebdo. Làm hỏng có nghĩa là làm sứt mẻ, hạn chế tự do ngôn luận / báo chí. Yêu cầu cơ bản thứ 3 của NNPQ nêu trên nói rằng: không trao quyền tự do ngôn luận / báo chí cho Nhà nước, có nghĩa là Nhà nước không có bất cứ quyền lực nào đối với việc ngôn luận và các phương tiện ngôn luận (gọi chung là báo chí). Nhà nước chỉ có quyền sử dụng quyền này để ngôn luận bình đẳng như bao cá nhân, pháp nhân khác mà thôi. Điều này dẫn đến một sự khẳng định bất di bất dịch là: Sẽ không có bất cứ sự hạn chế nào đối với quyền tự do ngôn luận / báo chí cho dù những quyền con người khác có thể bị hạn chế vì những hoàn cảnh khác nhau. Vụ 11/9 và vụ Charlie Hebdo gây ra những chấn động kinh hoàng nhưng chỉ dẫn đến sự hạn chế quyền bảo đảm riêng tư. Người Mỹ quả là sáng suốt khi đã đưa sự khẳng định trên vào Đạo luật về quyền (Bills of Rights) được ban hành sau khi lập hiến. Đó là lý do họ thành cường quốc, không ngẫu nhiên may mắn chút nào. Ở các nước chưa phát triển, những người / đảng cầm quyền luôn viện dẫn lợi ích và an ninh quốc gia để hạn chế, cấm đoán báo chí. Thực ra họ chỉ lợi dụng quốc gia để bảo vệ cho mình, cho những sự sai trái của mình làm suy yếu quốc gia. Sự khẳng định bất di bất dịch trên là một quy tắc tối quan trọng của NNPQ. Vì vậy mà những người dù là được trao quyền tổng thống / thủ tướng mà ban hành các luật hạn chế tự do báo chí thì đều là những người không xứng đáng, các loại luật lệ như thế đều trái với NNPQ nên đều là bất hợp pháp cho dù chúng được 100% nghị sĩ thông qua đi nữa.

Nhưng trong thế giới phẳng và nhanh như ngày nay, những kẻ như trên đang gặp phải một thách thức ngày càng khó vượt qua. Đó là sự dịch chuyển từ các phương tiện báo chí tập trung qua các phương tiện cá nhân như Facebook. Sự cấm đoán báo chí đang càng trở nên vô nghĩa. Thomas Friedman quả là tài khi 10 năm trước đã dự đoán công nghệ đang trao quyền lực cho các cá nhân để làm cho thế giới phẳng và nhanh hơn, tiến tới xóa bỏ mọi rào cản bằng luật lệ không phù hợp với quy luật tự nhiên trong Thời đại toàn cầu hóa. Những kẻ ấy nếu vẫn chưa hiểu, vẫn cố gắng ngăn sông đắp đập thì sẽ bị những dòng chảy của quy luật phá vỡ và cuốn phăng đi. Thời gian còn lại của họ chẳng dài đâu. Những phương tiện như FB đang làm thay đổi cả đạo lý lẫn pháp lý dưới sự vận hành của chân lý Bàn tay vô hình. Con người và quốc gia nào không thích ứng kịp sẽ bị đẩy lại phía sau mãi mãi. Các phương tiện cá nhân trên những trang mạng xã hội đang làm cho sự cộc cạch của các Nhà nước không phải pháp quyền bộc lộ rõ ràng. Chúng đối mặt với một nghịch lý là càng cấm đoán thì các phương tiện này càng phát triển, càng hạn chế báo chí thì càng làm cho các phương tiện tuyên truyền của những người cầm quyền càng mất uy tín nên người ta lại càng chuyển qua mạng xã hội. Họ không thể giải quyết được nghịch lý này vì đơn giản là chỉ những người nào đi ngược dòng chảy của quy luật thì mới thấy đó là nghịch lý. Thuận dòng thì thấy bình thường, xuôi chèo mát mái liền🙂. Nói cách khác, cái thiết kế nhà nước của họ vốn đã yếu kém rồi, giờ lại còn cộc cạch hơn nữa trong những xã hội và thế giới đang biến đổi quá nhanh. Các thiết chế NNPQ hoàn toàn có thể tự thay đổi và thích ứng nhanh vì chúng dựa vào sự vận hành của quy luật. Trong khi các nhà nước thiếu pháp quyền thì dựa vào sự điều khiển thủ công của những người cầm quyền. Đương nhiên, mọi sự thay đổi đều kéo theo những vấn đề. Những thông tin vu khống, bịa đặt lan truyền nhanh trên mạng là chuyện không chỉ xảy ra ở những nước đang phát triển. Nhưng ở các xã hội pháp quyền, CCXHKH điều chỉnh LẼ PHẢI CƠ BẢN nhanh chóng để ý thức của con người buộc sẽ thay đổi theo để thích ứng với xã hội mới. Quan sát không gian mạng xã hội ở các nước phát triển tụi con sẽ thấy nó tự phân vùng. Những người nghiêm túc chẳng ai quan tâm mà vào các vùng lộn xộn, có bị lây nhiễm vô tình từ đó thì họ cũng chẳng tin các tin tức rác. Các vùng ấy sẽ co dần lại cùng với sự tiến bộ nhanh của xã hội. Còn những ai chẳng may bị chúng làm cho tổn hại thì đã có sẵn những công cụ pháp lý hiệu quả của NNPQ để trừng trị những kẻ vu khống, lăng mạ, xâm phạm riêng tư, tự do … của người khác. Một NNPQ hiệu quả luôn đáp ứng rất tốt những yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường của công dân. Những kẻ này thường bị đền những khoản tiền rất khủng và còn có thể bị phạt tù. Một NNPQ luôn thực thi hiệu quả pháp luật nên người dân có niềm tin vào pháp luật và những kẻ xấu rất sợ dính đến pháp luật. Vì vậy, giải pháp cho những vấn đề trên mạng xã hội cũng chính là NNPQ, chứ không phải là sự can thiệp tùy tiện của các cơ quan công quyền. Làm vậy chỉ khiến chi niềm tin của dân vào pháp luật càng tệ đi mà thôi.

Baochi

VN đang chuẩn bị Luật báo chí mới. Cậu nhìn thấy được những sự vận động vì một nền báo chí tự do. Đây là những việc làm chiến lược. Xây dựng NNPQ mà không có tự do báo chí thì pháp quyền chỉ hình thức. Chúng ta là công dân nên có trách nhiệm cùng những sự vận động đó. Việc này sẽ dẫn đến sự thay đổi nhanh và tốt đẹp. Có những cách tiếp cận từ vấn đề đảng phái, nhưng sẽ không mang tính chiến lược. Cuộc chuyển mình của LX năm 1991 là quá chấn động nhưng không hề vĩ đại chính vì theo cách tiếp cận này. Ba nước tạo ra sự sụp đổ của LX gồm Nga, Ucraina, Belarus giờ vẫn là những nước chưa thấy có cơ may gì để phát triển bền vững. Tự do ngôn luận / báo chí vẫn bị xâm phạm nghiêm trọng ở những nước này sau gần 24 năm giải tán và cấm đảng CSLX hoạt động khoảng 10 ngày trước, báo ND đưa tin Tổng thống Ucraina nói rằng sẽ xử lý trách nhiệm theo pháp luật những người nào đòi liên bang hóa. Ông ta đe dọa quyền tự do ngôn luận. Tương lai nước này còn mờ mịt lắm. NNPQ còn một kỳ nữa🙂. Thương tụi con.

Chú thích:

(1) & (2) Quyền lực tối thượng hay tối cao là một thôi. Nhưng cần phân biệt với quyền lực tuyệt đối (Absolute power) – là quyền lực của những kẻ tiếm quyền, tự trao cho mình vị trí trên cả nhà nước và nhân dân. Chữ tuyệt đối có ý mỉa mai vì chỉ có chân lý của Tạo hóa mới tuyệt đối.

(3) Bài báo này có nói là quyền “Bàn về tự do” của J.S.Mill đã được dịch ra tiếng Việt. Tụi con nên tìm đọc.

(4) Quy luật tự nhiên (Nature law) hay quy luật của Tạo hóa chỉ là một, tiếng Việt mình có thể gọi chung là quy luật, có khi gọi là quy luật khách quan. Tuy nhiên, cậu ít sử dụng “quy luật tự nhiên” vì nhiều người hay nhầm tưởng là nó chỉ gồm các quy luật khách quan. Tuy nhiên, cậu ít sử dụng “quy luật tự nhiên” vì nhiều người hay nhầm tưởng là nó chỉ gồm các quy luật trong tự nhiên như vật lý, sinh vật, …

(5) Thực ra chỉ cần nói quyền tự do ngôn luận là đủ rồi vì nó bao hàm tự do bày tỏ quan điểm (expression) bằng bất cứ phương tiện ngôn luận nào. Nhưng các chế độ cường quyền thường nói rằng họ bảo vệ quyền tự do ngôn luận nhưng phải cần hạn chế báo chí (chỉ là phương tiện). Đây là lý luận vi phạm luật quốc tế về QCN nhưng lại khá phổ biến. Nên cậu hay dùng: “ngôn luận / báo chí” là vì thế🙂.

This entry was posted in Thư Xuyên Mộc. Bookmark the permalink.

One Response to Nhà nước pháp quyền (P.5) – Tự do ngôn luận đứng trên Tam Quyền phân lập (Thư 46A)

  1. Pingback: Thư 47A – Nhà nước Pháp quyền (phần cuối) | Trần Huỳnh Duy Thức

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s