Trạng thái cân bằng (Thư 51A)

51A-WPcover

Xuyên Mộc, 10/9/2015

Các con, cháu thương!

Hôm nay cậu muốn trao đổi với tụi con về đề tài: SỰ CÂN BẰNG (SCB). Cân bằng là một trạng thái rất quan trọng của vạn vật, từ quy mô cực nhỏ như hạt nhân; nguyên tử đến các ngôi sao; hành tinh và vũ trụ bao la, từ sự vận động của thế giới tự nhiên đến sự vận động của xã hội loài người, từ các vật vô tri vô giác đến các cơ thể sống và có trí tuệ như con người, từ kinh tế; chính trị đến văn hóa và các hoạt động khác của ý thức con người. Mọi sự tồn tại trong vũ trụ nếu muốn bền vững thì phải đạt được trạng thái cân bằng (TTCB), tiếng Anh gọi là equilibrium. Một hệ thống nào đó nếu bị mất TTCB cũ mà không xác lập được TTCB mới thì đó là lúc sự tồn tại của nó chấm dứt. Nếu TTCB của nó thay đổi bất thường thì nó sẽ bị chao đảo và đó là lúc tình trạng bất ổn xảy ra. Giống như một chiếc máy bay đi vào vùng thời tiết xấu, bị thay đổi độ cao đột ngột làm cho hành khách và hành lý lộn xà ngầu. Nếu hệ thống tự động của máy bay và phi công không đủ sức giữ cho nó ổn định được ở độ cao mới – tức một TTCB mới thì nó sẽ rơi và kết thúc sự tồn tại của nó. Ngược lại, nếu nó thoát được tình trạng bất ổn và hạ cánh an toàn thì nó vẫn tồn tại nhờ chuyển được TTCB trên cao xuống TTCB trên mặt đất, tức là từ TTCB động sang TTCB tĩnh. Đây là 2 trạng thái quan trọng khi nói về SCB. Chúng ta sẽ phân tích chúng sau.

A/Cân bằng là trạng thái để tồn tại.

11/9

51A-solar-system

Để tồn tại trái đất phải duy trì được trạng thái cân bằng với hệ mặt trời

Nếu trái đất ngừng quay quanh mặt trời, nó sẽ bị hút vào mặt trời và kết thúc sự tồn tại của nó và của cả chúng ta . Nhờ chuyển động quay với mặt trời làm trung tâm mà vật thể trái đất phát sinh ra lực ly tâm lúc nào cũng bằng với lực hấp dẫn mà mặt trời hút nó theo chiều ngược lại. Vì vậy nên quỹ đạo mà trái đất đi vòng quanh mặt trời chính là TTCB của hệ thống mặt trời – trái đất. Như vậy, TTCB của Hệ mặt trời chính là mặt phẳng hoàng đạo (ạ) – là mặt phẳng nối liền quỹ đạo của 9 hành tinh đều quay quanh mặt trời là: thủy tinh, kim tinh, trái đất, hỏa tinh, mộc tinh, thổ tinh, thiên vương tinh, hải vương tinh và diêm vương tinh[1]. Thủy tinh là gần mặt trời nhất, theo thứ tự này đến diêm vương tinh là xa nhất. Các quỹ đạo này đều có hình êlip nên mặt phẳng hoàng đạo còn có tên là mặt phẳng êlip (ecliptic plane).Nếu không có được TTCB này thì Hệ mặt trời đã không tồn tại để tạo nên sự sống trên trái đất. Trong vũ trụ bao la, có khoảng 10 ngàn tỷ ngôi sao như mặt trời và cái nào cũng có rất nhiều hành tinh (planet) quay quanh nhờ cùng một quy luật là Luật vạn vật hấp dẫn được Isaac Newton phát hiện vào năm 1666. Tụi con cần hiểu rằng đã có vô số các vật thể được hình thành cùng lúc với các ngôi sao nhưng chúng bị kết thúc sự tồn tại của mình ngay sau đó, không tồn tại bền vững như các hành tinh vì chúng đã không xác lập được quỹ đạo quay ổn định quanh ngôi sao. Vì cường độ lực hút giữa hai vật thể theo Luật vạn vật hấp dẫn là tỷ lệ thuận với khối lượng của chúng và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng, nên vật thể nào mà không ngẫu nhiên có được vận tốc quay[2] mà từ đó nó tạo ra lực ly tâm đúng bằng với lực hấp dẫn tương ứng với khối lượng và khoảng cách của nó với ngôi sao thì một là nó bị hút ngược vào ngôi sao và nổ tung; hai là nó sẽ chuyển động xa dần ngôi sao và đi vào khoảng không lạnh lẽo rồi va chạm với các vật thể khác, trở về cát bụi. Những mảnh vỡ sau khi va chạm sẽ bị hút về một số hành tinh. Trái đất mà hút được chúng thì chúng sẽ trở thành những cơn mưa sao băng (meteor) mà chúng ta thấy được, rực rỡ trên bầu trời đêm. Khi các mảnh vỡ đi qua bầu khí quyển của trái đất, chúng bị ma sát với các phân tử khí và bốc cháy. Khi đến mặt đất thì chúng đúng chỉ còn là cát bụi. Điều cậu muốn nhấn mạnh là: trong sự vận động không ngừng của vũ trụ với lực hấp dẫn chi phối khắp mọi nơi, chỉ có những vật thể nào chuyển động phù hợp với quy luật của lực này (tức Luật vạn vật hấp dẫn) thì mới tạo ra được SCB và tồn tại bền vững.

SCB này là TTCB động chứ không phải tĩnh. Hầu hết các trạng thái tĩnh đều là sự kết thúc. Trong những phần sau, tụi con cũng sẽ thấy nếu xã hội không vận động thì nó sẽ lụi tàn. Nó phải đạt được TTCB động thì nó mới phát triển, cũng giống như TTCB động của các ngôi sao và hành tinh vậy. Cơ thể sống của động vật bao gồm cả con người cũng vậy, còn sống được là nhờ rất nhiều TTCB động được duy trì trong cơ thể, khi một trong những TTCB này bị mất cân bằng thì cơ thể bị bệnh. Khi tất cả TTCB động này bị rơi vào tình trạng mà cơ thể không còn khả năng duy trì được nữa thì lúc đó cái chết xảy ra, mọi TTCB động trước đó biến thành TTCB tĩnh: không còn sự vận động gì trong cơ thể động vật nữa ngoài sự phân rã nhanh chóng thành các TTCB tĩnh khác của vật chất vô tri vô giác.

51A-atom

Số electron luôn bằng số proton là trạng thái cân bằng để nguyên tử tồn tại

Không chỉ động vật mà thực vật cũng vậy. Tụi con thử bón phân thật nhiều cho một cái cây trong chậu xem, các chất bổ này xâm nhập quá nhiều sẽ làm cây héo úa liền, quá mức thì nó chết tiêu luôn. Lúc đó TTCB của các yếu tố hóa học trong nó bị phá vỡ nghiêm trọng. Không phải cứ càng bổ là càng tốt đâu. Mọi động vật, thực vật và tất cả các vật không có sự sống đều được hình thành nhờ những cấu trúc kết hợp và cân bằng tinh vi của các nguyên tố hóa học (chemical element). Mà các nguyên tố hóa học tồn tại được lại cũng nhờ vào các cấu trúc cân bằng khác nhau của các nguyên tử (atom). Khi học Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học (Periodic table) tụi con đã biết rằng các nguyên tố khác nhau được quyết định bởi khối lượng của các nguyên tử cấu tạo nên các nguyên tố đó. Mà khối lượng nguyên tử lại được quyết định bởi số lượng các hạt electron, proton và neutron chứa trong nó. Số lượng càng nhiều thì nguyên tử càng nặng. Hydro là nguyên tố nhẹ nhất nên nguyên tử của nó chỉ gồm một electron quay quanh một proton. Nhẹ nhì là khí heli, nguyên tử của nó gồm 2 electron quay quanh hạt nhân (nucleus) chứa 2 proton và 2 neutron. Còn các nguyên tố nặng nhất như urani thì nguyên tử của nó có hạt nhân chứa tới 92 proton và 42 neutron, số electron của nguyên tử này là 92 hạt, đều quay quanh hạt nhân của nó. Tụi con có nhận ra là số electron và số proton luôn bằng nhau trong một nguyên tử không?Đây chính là một TTCB để bảo đảm cho nguyên tử tồn tại. Hạt electron mang điện tích âm (-), hạt proton mang điện tích dương (+), còn hạt neutron thì không mang điện tích (từ neutron có nghĩa là trung hòa – neutral). Trước hết, số lượng electron bằng số lượng proton là để cho nguyên tử trung hòa điện tích. Thứ hai là để cho lực hút giữa các proton và các electron cân bằng được với lực ly tâm do electron quay quanh hạt nhân. Vì hai hạt này có điện tích trái nhau nên chúng hút nhau bởi lực điện từ (electromagnetic force). Chính lực này cân bằng với lực ly tâm tương ứng với các tốc độ quay khác nhau của electron để giữ cho chúng quay quanh hạt nhân trên những quỹ đạo khác nhau (tương ứng với vận tốc quay)[3]. Khi một electron quay trên một quỹ đạo quanh hạt nhân thì mô hình này cũng giống như một hành tinh quay quanh mặt trời vậy. Cái khác nhau là hành tinh quay và cân bằng quỹ đạo nhờ lực hấp dẫn (gravity force), còn electron quay và cân bằng nhờ lực điện từ. Vẫn tồn tại lực hấp dẫn hút nhau giữa electron và hạt nhân nhưng nó rất nhỏ do khối lượng của chúng quá nhỏ. Vì vậy mà Tạo hóa mới phải “sáng chế” ra lực điện từ để thay thế lực hấp dẫn ở quy mô vô cùng nhỏ này của vật chất. Nhưng khổ cho Tạo hóa là lực điện từ không chỉ tạo ra lực hút nhau giữa các hạt có điện tích trái dấu mà còn tạo ra lực đẩy nhau giữa các hạt mang điện tích cùng dấu. Vì thế mà các anh chàng proton đẩy nhau dữ dội khi cùng nằm trong một hạt nhân bé tẹo. Điều này tạo ra nguy cơ làm hạt nhân bị phân rã và do vậy mà nguyên tử không thể tồn tại. Thế là Tạo hóa phải vất vả “chế tạo” thêm hạt neutron và một lực gọi là lực hạt nhân mạnh (strong nucleus force). Ở khoảng cách cực nhỏ như kích thước của hạt nhân, lực này mạnh hơn lực điện từ cả trăm lần nên đủ sức gắn chặt các hạt proton “giống đực” với các hạt neutron “giống trung”. Vậy là các anh chàng proton bị cầm tù mãi trong hạt nhân bởi những người bạn chung phòng không giới tính là neutron. Các chàng proton vẫn cố gắng thu hút các nàng electron nhưng khổ nỗi lực hút này chỉ đủ sức giữ cho các nàng này quay quanh các quỹ đạo khá xa các chàng, mà không bao giờ có thể nhập vào căn phòng hạt nhân của các chàng và neutron. Không biết là các chàng proton có hiểu rằng chính lực hút của mình với các nàng electron đã làm cho các nàng phải quay mãi. Mà càng quay thì càng xuất hiện lực ly tâm đẩy các nàng cách xa các chàng . Đáng tiếc cho các chàng lẫn các nàng, đây chính là TTCB động bền vững giúp cho các nguyên tử tồn tại. Từ đó mới tồn tại các nguyên tố hóa học cấu tạo nên mọi vật chất trong vũ trụ, bao gồm cả cơ thể và sự sống của chúng ta.

12/9

Cậu đưa tụi con từ vũ trụ bao la đến thế giới vô cùng nhỏ bé của các nguyên tử để chúng ta thấy rằng ở mọi cấp độ, vạn vật tồn tại nhờ những TTCB giữa những thành phần cấu tạo nên chúng. Điều này cũng đúng với thế giới muôn màu của sự sống, từ hoa lá cây cỏ đến các côn trùng và những động vật có vú, từ các loài tảo; san hô đến những con cá mập; cá voi khổng lồ, v.v… Sự tồn tại của chúng dựa trên một trạng thái được gọi là “SCB sinh thái”. Không hiểu về quy luật cân bằng sinh thái nên ông Mao Trạch Đông mới ra lệnh bắt hết chim sẽ để bảo vệ mùa màng. Hàng trăm triệu người đua nhau diệt chim sẽ nhưng không ngờ rằng vì vậy mà sâu bọ phát triển kinh hoàng, phá hoại mùa màng còn kinh khủng hơn chim sẽ . SCB sinh thái là một TTCB động, được điều chỉnh tự động bởi quy luật đấu tranh sinh tồn hay chọn lọc tự nhiên của Thuyết tiến hóa Darwin. Sự tiến hóa của xã hội loài người vào thời kỳ sơ khai cũng bị chi phối chủ yếu bởi quy luật này. Nhưng mức độ chi phối này giảm dần theo trình độ văn minh của nhân loại. Những xã hội càng văn minh thì người ta càng không cho phép “cá lớn nuốt cá bé”, những nhóm người yếu thế càng được hỗ trợ nhiều hơn để họ thu hẹp khoảng cách phát triển. Nói cách khác, con người càng văn minh thì họ hành động càng ý thức, chi phối của bản năng càng giảm. Tức là sự chi phối của những quy luật điều chỉnh ý thức của con người sẽ lấn át sự chi phối của các quy luật điều chỉnh bản năng nói trên của Thuyết tiến hóa. Như chúng ta đã bàn trong các đề tài CCXHKH, Công lý và NNPQ, Quy luật phát triển xã hội (hay Bàn tay vô hình) chính là quy luật điều chỉnh ý thức của con người trong sự vận động của họ trong xã hội. Nhờ hiểu biết Quy luật này mà con người tạo ra được TTCB tự nhiên cân bằng được những sự vận động theo những quan điểm khác nhau của họ trong xã hội. Nhờ đó mà xã hội ổn định và phát triển bền vững, trở thành xã hội văn minh. TTCB tự nhiên nói trên chính là SCB giữa các quan điểm ý thức khác nhau của con người và được tạo ra chủ yếu bằng Quy luật phát triển xã hội, tức bằng quy luật khách quan chứ không phải bằng ý chí chủ quan của những người cầm quyền. Ở những nơi mà con người chưa hiểu được Quy luật phát triển xã hội, họ vẫn biết là phải tạo ra SCB trong xã hội giữa rất nhiều các quan điểm ý thức khác nhau. Nhưng vì thiếu hiểu biết cộng với quyền lực sẵn trong tay nên những người cầm quyền chỉ thấy được một giải pháp trực quan là áp đặt một ý thức hệ duy nhất mà họ nghĩ là tốt nhất cho toàn xã hội và cấm đoán mọi ý thức hệ khác. Kết quả là tạo ra những xã hội toàn trị lạc hậu kéo dài hàng trăm, thậm chí là hàng ngàn năm như chúng ta đã nhiều lần đưa ra ví dụ phân tích. TTCB họ tạo ra cho xã hội gần như là trạng thái tĩnh vì xã hội bị bóp nghẹt, hầu như không có vận động gì đáng kể, giống như hình ảnh con rùa chỉ lê lết bò kiếm ăn nhờ TTCB áp sát với mặt đất. Có những lúc nó không bò nỗi, chỉ nằm bất động. Dù có sống rất lâu do may mắn không bị diều hâu cắp thì đó vẫn là một cuộc sống hẩm hiu. Đời con, cháu, chắt, chít, … nó vẫn thế.

51A-chien-dich-chim-se

Sự thiếu hiểu biết về “cân bằng sinh thái” của Mao Trạch Đông đưa ra chiến dịch “diệt chim sẻ” để bảo vệ mùa màn.

B/Làm gì để đạt được Trạng Thái Cân Bằng. Các ví dụ về trạng thái cân bằng, nguyên lý vi nhân

TTCB động chỉ có thể được tạo ra bởi những nguyên lý và lực của các quy luật tự nhiên, sức người không thể làm được. Máy bay được thiết kế để hoàn toàn tự động cân bằng lực hút và lực đẩy một cách liên tục ở bất kỳ độ cao nào, với rất nhiều sự biến động khác nhau của thời tiết. Chẳng có phi công nào có thể liên tục tính toán các lực tác động lên máy bay và ra lệnh điều khiển nó để luôn đạt được SCB khi bay. Điều này chỉ xảy ra với trò chơi mạo hiểm là tàu lượn: người chơi đeo cánh vào người rồi phóng từ trên cao xuống, điều khiển đôi cánh tùy theo sức gió để cuối cùng hạ cánh xuống đất an toàn. Làm cân bằng sự chuyển động của các vật thể vô tri vô giác như xe, máy bay, phi thuyền đã khó rồi. Làm cân bằng sự vận động của con người có ý thức trong xã hội còn khó hơn nhiều. Cả hai trường hợp đều đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc quy luật tự nhiên. Điều kỳ diệu là Tạo hóa luôn tạo sẵn các quy luật này ứng với các lực và nguyên lý để phục vụ cho việc làm cân bằng sự chuyển động/ vận động của vạn vật trong vụ trụ, từ thế giới tự nhiên đến xã hội con người. Chúng ta hãy quan sát một vài ví dụ để thấy được sự kỳ diệu này.

13/9

Đầu tiên là ví dụ về “mặt trăng và thủy triều trên trái đất”. Ai cũng biết rằng lực hút hấp dẫn của mặt trăng lên trái đất làm cho đại dương nhô cao lên, làm thủy triều lên (triều cường). Vì trái đất quay quanh trục của nó nên vùng biển nào di chuyển đến vị trí đối diện với mặt trăng thì khi đó triều cường của vùng biển đó lên cao nhất. Điều này thì dễ hiểu rồi vì khi ấy lực hấp dẫn của mặt trăng lên vùng ấy là lớn nhất (do khoảng cách ngắn nhất). Nhưng điều kỳ diệu là ở chỗ: tại vùng đối diện của vùng này (ở đầu bên kia của đường kính trái đất) thì thủy triều cũng dâng lên cao nhất dù tại đó lực hấp dẫn của mặt trăng tác động lên là thấp nhất (bởi khoảng cách xa nhất). Điều bất bình thường gì xảy ra? Quy luật không còn đúng nữa sao?

51A-full-moon-tides

Hiện tượng “thủy triều” là một ví dụ Tạo hóa luôn sẵn sàng những nguyên lý làm cân bằng sự vận động của vạn vật trong vũ trụ

Tụi con đừng lo! Quy luật thì không bao giờ sai được. Nếu trái đất không quay quanh trục của mình thì việc triều cường dâng ở 2 phía đối xứng đúng là điều bất thường. Tụi con tưởng tượng xem, nếu thủy triều chỉ lên ở một phía bên mặt trăng mà trái đất đang quay thì điều gì sẽ xảy ra? Nó cũng sẽ giống như tụi con lấy một cái bánh xe đạp gắn lên bệ rút căm rồi buộc thêm một vật nặng lên vành bánh xe. Nếu ta không tác động lực nào lên bánh xe thì lực hấp dẫn của trái đất sẽ hút vật nặng xuống vị trí gần mặt đất nhất rồi làm nó đứng yên ở đó, bánh xe cũng sẽ bất động không quay quanh đùm. Đây chính là TTCB tĩnh, không có một chuyển động nào xảy ra. Bây giờ ta dùng lực làm bánh xe quay. Nếu lực này không đủ lớn thì bánh xe chỉ nhích được một chút rồi bị lực hấp dẫn của trái đất lên vật nặng kéo ngược trở lại, dao động qua lại một chút rồi lại đứng yên bất động như cũ của TTCB tĩnh. Nếu lực này đủ lớn và liên tục thì sẽ làm bánh xe quay được liên tục. Nhưng lúc này lực ly tâm phát sinh từ chuyển động quay sẽ làm cho vật nặng có khuynh hướng rời khỏi bánh xe. Điều này sẽ làm cho cả hệ thống chao đảo, kéo ngã đổ bệ rút câm. Nếu ta cố định thật chặt bệ rút câm với mặt đất thì bánh xe vẫn sẽ quay nếu lực quay tiếp tục đủ mạnh. Đây cũng là một TTCB động nhưng là một trạng thái tồi vì nó sẽ làm hư đùm xe nhanh chóng, thậm chí là gãy trục. Nhẹ thì cũng làm bánh xe méo xẹo, lúc này mà muốn nó quay được tiếp thì lực quay phải càng mạnh hơn. Nhưng càng mạnh hơn thì khả năng phá hủy hệ thống càng lớn, làm nó càng mau sụp đổ. Nếu thủy triều chỉ dâng lên ở một bên phía mặt trăng mà trái đất vẫn quay quanh trục của mình thì chắc là mấy tỷ năm nay nó đã không còn tồn tại để chúng ta còn ngồi đây bàn về thủy triều của nó. Vì vậy mà theo Nguyên lý vị nhân (Anthropic principle) thì vũ trụ phải điều chỉnh các tính chất của nó sao cho phù hợp với sự tồn tại của con người[4]. Trong trường hợp của thủy triều chúng ta đang xét thì nguyên lý này có nghĩa là phải tồn tại một nguyên lý nào đó của vũ trụ để điều chỉnh các lực nhằm làm cho chuyển động quay của trái đất với sự xuất hiện của thủy triều vẫn giữ được SCB ổn định, không làm nó sụp đổ. Nguyên lý này hoạt động như sau: lực ly tâm thay vì phân bố đều trên chu vi quay tròn của trái đất thì nó lại được tập trung nhiều hơn vào những vùng nước biển ở những vùng này cũng được đẩy lên cao tương ứng (bởi lực ly tâm mạnh hơn). Điểm B trên hình là nơi tác động của lực hấp dẫn của mặt trăng là nhỏ nhất nên lực ly tâm cũng được phân bố vào đây nhiều nhất, nên thủy triều cũng dâng lên cao nhất ở đó, làm cân bằng và đối xứng với điểm A[5]. Điều này giúp cho chuyển động quay của trái đất luôn cân bằng và ổn định, đảm bảo cho con người tồn tại. Mô hình này cũng giống như tụi con buộc thêm một vật nặng khác tương đương với khối lượng và kích thước của vật nặng ban đầu vào vị trí đối xứng với vật nặng ban đầu trên vành bánh xe. Lúc đó chỉ cần đẩy nhẹ thì bánh xe vẫn quay đều êm ái, không làm ngã đồ bệ rút câm. Đứa nào mà không tin thì thí nghiệm liền đi nhe hôn . Tụi con cũng có thể trải nghiệm nguyên lý cân bằng của vũ trụ bằng cách thử lái chiếc xe Vespa Sprint đời cũ, loại được thiết kế toàn bộ máy lệch hết về bên phải. Khi xe không chạy, nếu không dùng chống thì nó sẽ nghiêng hẳn về bên phải do lực hấp dẫn trái đất hút khối lượng máy xe. Nhưng khi chạy thì tụi con sẽ thấy cái thân người của mình ẹo một chút qua trái, tức là cột sống mình không thẳng mà nghiêng làm cái đầu lệch về phải. Đây là tình trạng người lái bị buộc phải điều chỉnh theo nguyên lý cân bằng tác dụng lên chiếc xe. Để bảo đảm cho xe cân bằng được khi chạy, các lực của động cơ buộc phải phân bổ một phần thành một lực đẩy hướng xuống mặt đất và tác động lên phần bên trái của xe – nơi mà lực hấp dẫn của trái đất ít hơn bên phải (vì không có khối lượng của máy xe, giống như điểm B của trái đất trên hình vẽ thủy triều vậy). Lực đẩy này cân bằng với lực hấp dẫn bên phải để xe không bị ngã đổ xuống đường khi chạy. Điều này làm cho mặt phẳng của sàn xe không song song với mặt đất mà hơi nghiêng qua trái, kéo theo yên xe và tay lái cũng nghiêng theo. Tới lượt người lái, nếu chúng ta cũng nghiêng thân người của mình hết qua trái theo góc nghiêng của xe thì mình sẽ bị ngả luôn theo hướng đó. Cho nên ta buộc phải ẹo cái hông qua trái và nghiêng cái đầu qua phải. Lái lâu thì mỏi nhừ cả lưng và vai. Nhưng đâu có cách nào khác để thoát được quy luật của Tạo hóa đâu, trừ khi thiết kế lại xe cho hoàn hảo hơn dựa trên những quy luật này. Thế nên các chiếc Vespa Piaggio sau này đâu có ai dại gì đặt cái máy ở một bên nữa phải không? Còn đứa nào mà vẫn chưa tin nguyên lý cân bằng này thì hãy tìm bằng chứng ở cái bánh xe Vespa Sprint cũ. Hãy gia nhập vào hội những người chơi xe Vespa cổ. Tụi con sẽ thấy cái vỏ xe của nó chạy lâu ngày thì chỉ mòn chủ yếu bên mép trái. Vì vậy mà lâu lâu người ta phải trở chiều vỏ xe để nó mòn cho đều. Người Nhật đã tránh được lỗi thiết kế này của người Ý nên chẳng có mẫu xe máy nào của Nhật mà đặt máy lệch về một phía cả.

14/9

Ta vừa xét SCB của thủy triều như một ví dụ về sự kỳ diệu của Tạo hóa luôn sẵn sàng những nguyên lý làm cân bằng sự vận động của vạn vật trong vũ trụ. Nguyên lý vị nhân cậu vừa đề cập ở trên còn có một cách phát biểu khác, được gọi là phiên bản mạnh: Vũ trụ phải tồn tại những nguyên lý và được điều chỉnh cực kỳ chính xác để cuộc sống và ý thức xuất hiện, có vậy mới tồn tại người quan sát để bàn về vũ trụ. Những số liệu sau đây có lẽ sẽ làm tụi con ngạc nhiên. Sau vụ nổ lớn (Big bang) 10-43 giây (bằng 1 giây chia cho 10 triệu tỷ tỷ tỷ tỷ) thì mọi diễn biến của vũ trụ đã được điều chỉnh ở độ chính xác là 10-60 nên vũ trụ mới tồn tại như ngày nay để có sự sống, có những người đang bàn luận về vũ trụ gồm cả cậu và tụi con. Chỉ cần lệch khỏi độ chính xác này một chút thôi thì trái đất chúng ta giờ này cũng giống như các hành tinh khác: khô cằn, nóng bỏng hoặc lạnh lẽo. Nhà khoa học Trịnh Xuân Thuận[6] mô tả độ chính xác 10-60 tương đương với việc phải bắn trúng đích một tấm bia có diện tích chỉ 1 cm2 và ở cách xa nơi bắn “chỉ” có 15 tỷ năm ánh sáng. Tạo hóa hẳn phải là một cung thủ siêu hạng. Tạo hóa đã tạo ra 15 hằng số vật lý (physical constant) để ấn định sự diễn biến ban đầu ngay sau khi hình thành (10-43 giây) và chi phối sự vận hành từ đó đến nay của cả vũ trụ. Gọi là hằng số vì chúng bất biến với không gian và thời gian. Các nhà khoa học chỉ có thể đo được trị số của chúng bằng thực nghiệm chứ không thể giải thích được vì sao và điều gì đã làm nên những con số đó. Nhưng họ tính toán được nên biết chắc rằng chỉ cần những con số này không bảo đảm được độ chính xác như nói trên, hoặc đơn giản là chúng khác đi thì vũ trụ chúng ta đã không tồn tại và có sự sống. Hằng số vật lý mà tụi con quen thuộc nhất là tốc độ ánh sáng. Ngoài ra còn có các hằng số hấp dẫn, hằng số lực hạt nhân mạnh, hằng số lực hạt nhân yếu, hằng số lực điện từ, các hằng số quy định kích thước các hạt trong nguyên tử, … Nếu tìm hiểu về sự hình thành và vận hành của vũ trụ thì tụi con sẽ thấy rằng các quy luật cùng với các hằng số vật lý này cùng nhau làm cho vũ trụ đạt được vô số các TTCB phức tạp, từ những cái vĩ mô như các thiên hà, hành tinh đến những cái vi mô như các hạt trong nguyên tử. Chúng ta đã xem một ví dụ vĩ mô là sự cân bằng thủy triều của trái đất. Giờ chúng ta sẽ xem một ví dụ vi mô.

15/9

Tụi con đều biết phương trình nổi tiếng của Einstein thể hiện mối liên quan giữa năng lượng và khối lượng: E = mc2 [7]. Tụi con cũng nghe nhiều về phóng xạ hạt nhân. Đây là một quá trình vật lý mà một hạt nhân trong nguyên tử phóng ra các hạt hoặc bức xạ điện từ[8]. Sau khi phóng ra thì khối lượng của hạt nhân bị giảm đi. Hạt nhân ban đầu được gọi là hạt nhân mẹ, hạt nhân sau phóng xạ là hạt nhân con. Như vậy khối lượng hạt nhân con nhẹ hơn khối lượng hạt nhân mẹ. Theo công thức trên thì năng lượng tương ứng của hạt nhân con phải ít hơn của hạt nhân mẹ. Nhưng các nhà khoa học vật lý lượng tử lại phát hiện là chúng bằng nhau khi thực nghiệm các quá trình phóng xạ hạt nhân. Đó là vào những năm 1930s, thế giới chưa có được các máy gia tốc (accelerator) để “thấy” được các hạt bên trong nguyên tử. Vì vậy mà các nhà khoa học phải suy tưởng để giải thích hiện tượng bất thường thu được từ quan sát thực nghiệm nêu trên. Nhà khoa học Áo Wolfgang Pauli, một trong những người sáng lập nên ngành cơ học lượng tử[9], tin rằng phải tồn tại một hạt mới, không có khối lượng, không điện tích và chuyển động với vận tốc ánh sáng. Vì vậy mà nó không có năng lượng tương ứng với khối lượng theo E = mc2, nhưng lại có một động năng (năng lượng do chuyển động). Chính động năng này làm cho năng lượng của hạt nhân con bằng với năng lượng của hạt nhân mẹ dù khối lượng của hạt nhân con đã bị giảm đi. Năm 1931, nhà vật lý Ý Enrico Fermi chấp nhận đề xuất hạt nói trên của Pauli và đặt tên cho hạt này là neutrino (cùng gốc từ với neutron vì cả 2 không có điện tích nhưng neutron có khối lượng rất lớn, còn neutrino thì không có khối lượng hoặc là khối lượng cực nhỏ). Như vậy neutrino là một giải pháp giúp cân bằng năng lượng. Đến năm 1955 các nhà khoa học Mỹ mới tìm thấy và chứng minh được sự tồn tại của neutrino bằng thực nghiệm. Sau này người ta biết thêm được rằng hạt neutrino giữ nhiệm vụ quan trọng đối với quá trình tiến hóa của vũ trụ để che chở cho sự hình thành sự sống. 1 giây sau vụ nổ Big bang cách đây cỡ 15 tỷ năm, vũ trụ chưa hề tồn tại các nguyên tử vì nhiệt độ lúc đó còn rất cao (khoảng 10 tỷ độ, tương đương 1000 lần nhiệt độ ở tâm mặt trời) nên lực hạt nhân mạnh không đủ sức giữ các hạt neutron và proton kết hợp với nhau thành hạt nhân. Nhiệt lượng cực cao làm các hạt neutron và proton chuyển động cực mạnh, tạo nên động năng cực lớn nên thắng được lực hạt nhân mạnh. Ở thời điểm 1 giây nói trên, vũ trụ chỉ tồn tại chủ yếu các hạt electron, neutrino và proton (là loại hạt tạo ra bức xạ, bao gồm cả sự phóng xạ hạt nhân đã nói trên). 100 giây sau Big bang, nhiệt độ vũ trụ hạ xuống cỡ 1 tỷ độ, lúc này proton và neutron không còn đủ năng lượng để thắng lực hạt nhân mạnh nữa nên chúng gắn chặt với nhau thành hạt nhân. Từ đó xuất hiện những nguyên tử đầu tiên của vũ trụ. Đó chính là những nguyên tử nhẹ nhất mà sau đó đã hình thành nên những nguyên tố nhẹ nhất là hydro và heli. Đây cũng là những nguyên tố đầu tiên của vũ trụ mà sau đó đã góp phần hình thành nên các ngôi sao phát sáng như cậu đã viết trong thư 47A. Trong vòng vài tỷ năm có vô số các ngôi sao ra đời và kết thúc qua vài thế hệ. Vào thế hệ thứ 3 (cách nay cỡ 4.6 tỷ năm) thì ngôi sao mặt trời được hình thành kéo theo sự ra đời của các hành tinh và tạo nên Hệ mặt trời của chúng ta. Các nguyên tố nặng như Carbon và Oxy cũng được tạo ra vào thời kỳ này, từ đó tạo ra nước (H2O – 2 nguyên tử hydro & 1 nguyên tử Oxy) và các hợp chất hữu cơ khác từ Carbon. Các sinh vật đơn bào xuất hiện trong nước[10], là sự sống đầu tiên trên trái đất. Rồi đến các loài rong, tảo. Chúng quang hợp và thải O2 ra thoát khỏi mặt nước và định cư trong khí quyển để hỗ trợ cho sự sống trên cạn. Mọi thứ cứ diễn ra theo Thuyết tiến hóa Darwin trong hàng tỷ năm thì loài khủng long xuất hiện làm bá chủ thế giới. Nhưng cách đây 65 triệu năm thì một thiên thạch lớn lao vào trái đất tạo ra một vụ va chạm kinh hoàng tại vùng vịnh Mexico ngày nay. Sự kiện này đã biến đổi môi sinh của trái đất nên dẫn đến sự tuyệt chủng của loài khủng long. Nhờ vậy mà xuất hiện được các loài động vật có vú, rồi đến loài linh trưởng và cuối cùng là loài người[11]. Không biết vài tỷ năm nữa liệu có một loài siêu cao cấp nào đó xem loài người bây giờ giống như chúng ta đang nghĩ về các giống vượn, khỉ xa xưa đã tiến hóa thành người . Biết đâu lại xảy ra một vụ va chạm kinh hoàng khác, dẫn đến sự tuyệt chủng của loài bá chủ hiện nay là con người để tạo điều kiện cho sự xuất hiện một loài bá chủ mới. Không ai nói trước được cho hàng tỷ năm tới.

16/9

Nhưng tụi con yên tâm, các chút; chít; chót; chét của tụi con chắc chắn không phải chịu cái thảm họa kinh hoàng này. Các nhà khoa học tính toán trước được khả năng các thiên thạch lang thang viếng thăm trái đất. Với khả năng công nghệ hiện nay họ đủ sức phóng lên một tàu vũ trụ để tạo ra một vụ nổ hạt nhân đủ mạnh để làm lệch hướng các thiên thạch trước khi chúng va vào trái đất. Những nguy cơ lớn nhất đều được nhìn thấy trước. Ít ra trong vài trăm năm tới thì không có cái nào vượt quá khả năng đối phó của khoa học và công nghệ hiện nay của quốc tế. Sẽ không có sự tận thế nào trong khoảng thời gian này được. Tụi con cứ yên tâm mà mơ ước và phấn đấu, mà cống hiến cho nhân loại và tìm hiểu về vũ trụ. Đến khi nào mà loài người chưa đánh mất đi mục tiêu này thì loài người vẫn còn tồn tại. Đây chính là ý nghĩa của Nguyên lý vị nhân mà cậu đã đề cập ở trên. Các nhà khoa học không có cách nào khác ngoài việc dựa vào Nguyên lý vị nhân để giải thích cho nguyên nhân tồn tại kỳ diệu của rất nhiều các định luật, các con số phối hợp với nhau một cách thần kỳ để tạo nên sự sống và ý thức. Không khó hiểu vì sao các niềm tin tôn giáo quy cho nguyên nhân cuối cùng của các nguyên nhân trên chính là Đấng tối cao của mình – người sáng tạo ra vạn vật.

C/Áp dụng quy luật tự nhiên để tạo nên sự cân bằng cho sự vận động của con người trong xã hội. 

17/9

Nếu nguyên lý vị nhân chi phối và tạo ra các quy luật trong tự nhiên để hỗ trợ cho sự sống và ý thức thì không lý gì nó không tạo ra các quy luật trong xã hội con người để hỗ trợ cho ý thức phát triển nhằm làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Xuất phát từ tiền đề này và nhìn thấy sự kỳ diệu của các con số và quy luật trong vũ trụ để đảm bảo những SCB kỳ lạ đưa đến sự tồn tại của sự sống và ý thức, cậu có niềm tin mãnh liệt để đi tìm những quy luật tạo ra SCB cho sự vận động của xã hội con người – chính là sự vận động của con người để mưu cầu lợi ích cho mình trong xã hội. Nói cách khác, bản chất của sự vận động xã hội chính là sự mưu cầu lợi ích của con người. Nói một cách cụ thể: Bản chất của con người là hướng lợi. Bản chất này tạo ra động lực thúc đẩy mọi hành động của con người nhằm đạt được lợi ích mình mong muốn. Nhưng phải hiểu lợi ích ở đây là bất kỳ nhu cầu gì mà con người cần và khi đạt được nó họ thấy hạnh phúc, chứ không chỉ là lợi ích kinh tế như tiền bạc, tài sản, … mà nhiều người vẫn lầm tưởng. Mưu cầu hạnh phúc có nghĩa là mưu cầu lợi ích và ngược lại, mưu cầu lợi ích là để đạt được hạnh phúc. Vì vậy mà Tuyên ngôn Độc lập Mỹ có câu: “Thượng đế ban cho con người các quyền bất khả xâm phạm, trong đó có quyền được sống và quyền tự do mưu cầu hạnh phúc”. Câu này cũng được trích lại trong Tuyên ngôn Độc lập của VN. Quan điểm hạnh phúc của con người rất khác nhau và thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh sống nên quan điểm lợi ích mà họ vận động cũng rất khác nhau và thường thay đổi. Không có một quan điểm chung duy nhất nào có thể phù hợp cho tất cả mọi người, tức là có thể làm tất cả họ hạnh phúc. Cùng một người vào lúc này thấy rằng phải kiếm được nhiều tiền mới hạnh phúc nhưng vào lúc khác lại thấy phải làm được điều gì đó có ý nghĩa cho nhiều người thì hạnh phúc mới thực sự. Đó chính là sự thay đổi ý thức của con người. Khi ý thức con người văn minh thì xã hội mới văn minh. Nhưng đây phải là sự thay đổi tự nguyện chứ không phải bằng cưỡng bức. Chỉ có thay đổi tự nguyện thì ý thức con người mới phát triển dần đến văn minh. Sự cưỡng bức chỉ tạo nên kết quả ngược lại là lạc hậu. Cậu đã phân tích và minh chứng cho thực tế này rất kỹ trong đề tài CCXHKH mà ở đó chúng ta đã thấy rằng chỉ có vận động tự do thì xã hội mới tự động đạt được TTCB tự nhiên – cũng là Trục hội tụ gắn kết xã hội. Gọi là cân bằng tự nhiên vì nó đạt được bởi sự điều chỉnh của quy luật tự nhiên của Tạo hóa – tức Bàn tay vô hình hay Quy luật phát triển xã hội theo cách gọi của cậu. Quy luật này làm cho con người tự nguyện thay đổi ý thức của mình để đạt được lợi ích/ hạnh phúc tốt nhất và phù hợp với sự vận động tự do của những người khác để mưu cầu lợi ích/ hạnh phúc cho họ.

people-drive

Bản chất sự vận động xã hội là mưu cầu bản chất của con người

18/9

Trong hành trình đi tìm quy luật điều chỉnh ý thức của con người giúp làm cân bằng sự vận động tự do trong xã hội, cậu thấy rằng nhân loại đã khám phá ra quy luật này từ lâu. Nó chính là Quy luật Bàn tay vô hình mà Adam Smith phát biểu từ cuối thế kỷ 18 cho các lý thuyết phát triển kinh tế. Ngày nay nó được gọi với cái tên chính thức là Quy luật kinh tế thị trường. Đứa nào nghiên cứu về kinh tế vĩ mô thì sẽ thấy: Vận hành một nền kinh tế tốt có nghĩa là biết áp dụng các nguyên lý của Quy luật này để làm cho mọi vận động lợi ích kinh tế khác nhau của con người luôn nhanh chóng đạt được những TTCB. Lịch sử đã chứng minh những mô hình và cách thức quản lý kinh tế không áp dụng Quy luật kinh tế thị trường đều thất bại, nhất là vào thời đại mà nhu cầu kinh tế của con người tăng nhanh, tức là tốc độ của sự vận động kinh tế cao. Ở các tốc độ này, sự điều chỉnh bằng sức người (bằng mệnh lệnh và cưỡng bức) không thể đủ sức làm cân bằng nhu cầu của con người. Một là nó bóp chết sự vận động, hai là nó bị sức vận động phá vỡ sự kiềm kẹp của nó. Một nền kinh tế tốt thì phải tăng trưởng nhanh và ổn định, tức là các TTCB của nền kinh tế phải luôn tăng cao hơn. Nói cách khác là tăng mà không bị mất cân bằng. Số lượng các yếu tố phải được làm cho cân bằng ở trạng thái vận động nhanh của một hệ thống kinh tế nhiều hơn rất nhiều các yếu tố tương tự của một hệ thống tự nhiên, chẳng hạn như nguyên tử hay Hệ mặt trời. Vì vậy mà các nguyên lý làm cân bằng các hoạt động kinh tế của Quy luật kinh tế thị trường cũng phức tạp hơn nhiều các nguyên lý cân bằng của các hệ thống tự nhiên. Các nhà kinh tế học ngày nay vẫn còn miệt mài khám phá các nguyên lý cân bằng kinh tế và mô hình hóa chúng bằng các phương trình toán học. Một hệ thống kinh tế không cân bằng thì sẽ không phát triển ổn định và bền vững.

Kinh tế chỉ là một loại lợi ích trong vô số các loại lợi ích hoặc mục đích hạnh phúc khác nhau của con người. Chỉ cân bằng vận động kinh tế thôi thì vẫn không đủ làm cho cả xã hội cân bằng và phát triển tốt đẹp. Vì vậy cần phải có lý thuyết áp dụng Bàn tay vô hình để giúp cho xã hội đạt được SCB cho tất cả các vận động lợi ích khác nhau của con người. Thời của Adam Smith, có lẽ mối quan tâm bao trùm của xã hội Châu Âu là lợi ích kinh tế nên vì vậy mà họ chỉ quan tâm áp dụng Bàn tay vô hình trong kinh tế. Cậu không thấy được những lý thuyết về phát triển toàn diện xã hội áp dụng quy luật này. Tuy nhiên cậu thấy được bản chất của nó hiện diện trong hầu hết các phương pháp quản lý xã hội của các nước phát triển để tạo nên những xã hội dân chủ, công bằng, thịnh vượng và văn minh. Họ gọi chung các phương pháp này là Nhà nước pháp quyền. Quan sát các xã hội này, SCB tạo nên các thành tựu của xã hội là điều không khó thấy. Không chỉ cân bằng trong từng loại vận động lợi ích kinh tế; chính trị; văn hóa … mà còn cân bằng giữa các loại lợi ích khác nhau, giữa các hệ giá trị; tư tưởng. Mọi thứ cùng tồn tại và phải điều chỉnh mình để có thể tồn tại ở một TTCB cùng với nhiều sự tồn tại khác. Một thứ duy nhất không thể tồn tại trong các xã hội này là sự độc tôn vì nó là kẻ hủy diệt vận động tự do. Nó xem vận động tự do là kẻ thù của nó. Mà vận động tự do là đòi hỏi tiên quyết của Quy luật phát triển xã hội để quy luật này có thể tự động làm cân bằng vô số sự vận động lợi ích/ mưu cầu hạnh phúc khác nhau của con người trong một xã hội. Điều này tương tự như các nguyên lý cân bằng chỉ phát huy tác dụng khi trái đất quay quanh trục của nó, chiếc Vespa Sprint chạy trên đường. Nếu trái đất đứng yên thì nó chẳng khác gì cái bánh xe bị một vật nặng độc tôn duy nhất buộc vào và hút chặt bất động xuống mặt đất. Lúc đó thì chẳng có sự sống nào có thể tồn tại. Nếu chiếc Vespa đứng yên thì nó sẽ ngã đổ ngay lập tức. Đó chính là TTCB tĩnh của nó, chẳng giúp ích được gì cho con người. Một hệ thống chỉ tồn tại và phát triển khi nó được duy trì ở TTCB động. Mà muốn vậy thì tối thiểu nó phải chuyển động nếu nó là một hệ thống cơ học hoặc phải vận động nếu nó là một hệ của cơ thể sống hay của xã hội. Có động thì mới có lực. Có lực thì những nguyên lý cân bằng của các quy luật mới có thể tự động phân bổ các lực ấy làm cho hệ thống chuyển động/ vận động hài hòa – tức là luôn đạt được TTCB động. Không có sức người nào có thể tạo ra được TTCB động. Sự thất bại của các mệnh lệnh quyền lực trong nền kinh tế tập trung bao cấp là một minh chứng lịch sử rõ ràng cho sự bất lực này của sức người. Chỉ có các quy luật của Tạo hóa mới có được nặng lực kỳ diệu để tạo nên các TTCB động cho vạn vật tồn tại và phát triển. Các quy luật này không những có khả năng chi phối phổ quát – tức là luôn đúng và như nhau trong khắp vũ trụ[12] mà còn có khả năng biết mọi thứ trong phạm vi chi phối của mình mà không cần các đối tượng bị chi phối thông báo trạng thái. Quy luật luôn biết trước các trạng thái này cho dù chúng liên tục thay đổi – một sự thông hiểu toàn năng. Đối với con người, các quy luật Tạo hóa là tuyệt đối. Và chỉ có các quy luật này mới tuyệt đối đối với con người. Không có bất cứ quy tắc, nguyên lý, quan điểm, tư tưởng nào của con người tự đặt ra mà có thể tuyệt đối với con người được, cho dù chúng có được tuyệt đại đa số ủng hộ đi nữa. Cố gắng tuyệt đối hóa chúng – tức sự nỗ lực độc tôn những suy nghĩ riêng của mình là một sai lầm tai hại của nhiều người và xã hội, làm cho họ lụi tàn.

20/9

51A-evnMấy hôm nay dư luận ì xèo về các phương án tính giá điện của EVN. Hôm qua đại diện EVN xuất hiện trên thời sự VTV nói rằng đang lắng nghe dư luận để đưa ra phương án cuối cùng sẽ làm cân bằng hài hòa các đối tượng sử dụng điện khác nhau. Cậu khẳng định luôn là: sẽ không bao giờ có được sự cân bằng nào trong bất kỳ phương án nào của EVN đưa ra khi tập đoàn này vẫn còn đang độc tôn duy nhất trong thị trường điện bán lẽ. Sự khẳng định này được bảo đảm bằng Quy luật kinh tế thị trường vì các nguyên lý cân bằng của Quy luật này không thể vận hành trong một thị trường độc quyền, chẳng có sự vận động tự do nào của người mua lẫn người bán. Sức người của EVN sẽ luôn bất lực trước việc làm cân bằng những mong muốn vô cùng đa dạng của hàng chục triệu người dùng. Dù EVN có được hỗ trợ bằng những mệnh lệnh hành chính thì họ vẫn sẽ luôn thất bại. Chắc chắn luôn.

Toán học đã chứng minh được rằng trí tuệ của con người luôn luôn tồn tại những điều không trọn vẹn nên nó không bao giờ trở thành chân lý tuyệt đối được. Đây chính là hệ quả của một định lý toán học nổi tiếng được gọi là Định lý bất toàn hay Định lý về tính không đầy đủ (Theorem of incompleteness). Nó còn được gọi là Định lý Gödel để vinh danh nhà toán học Áo xuất chúng Kurt Gödel – người đã chứng minh được Định lý này vào năm 1931 khi chỉ mới 25 tuổi và làm chấn động cả giới khoa học thế giới thời đó. Gần 100 năm rồi nhưng Định lý này vẫn còn rất nổi tiếng. Vốn là, trước khi Định lý này ra đời, giới khoa học nói chung và các nhà toán học nói riêng mất hàng trăm năm trời để đi tìm một lý thuyết nhất quán bao trùm để có thể giải quyết dễ dàng các vấn đề khoa học bằng một mô hình toán học nhất quán và không mâu thuẫn. Đến cuối thế kỷ 19 họ vẫn không đạt được kết quả gì nhưng vẫn không mất hy vọng và nỗ lực. Vào đầu thế kỷ 20, nhà toán học Đức David Hilbert đưa ra một đề bài thách thức nhằm tìm kiếm lời giải cho mục đích trên. Đề bài là: “Hãy chứng minh sự nhất quán của các tiên đề số học”. Nhưng Kurt Gödel đã lấy đi mọi hy vọng của Hilbert, chấm dứt loại ước mơ độc tôn trong giới khoa học lẫn giới học giả tư tưởng Châu Âu bằng Định lý bất toàn. Gödel đã chứng minh được rằng: nếu một hệ thống số học là nhất quán và không mâu thuẫn thì luôn luôn tồn tại trong nó những mệnh đề bất định (tức không thể khẳng định được là đúng hay sai); và rằng: không thể chứng minh được một hệ thống là nhất quán và không mâu thuẫn nếu chỉ dựa vào những tiên đề thuộc về hệ thống đó, mà phải thoát ra ngoài hệ thống đó để có thể dựa vào một hoặc nhiều tiên đề không thuộc về nó. Điều này thể hiện tính không đầy đủ của nó. Tụi con hãy vận dụng tư duy toán học thời phổ thông nha! Ta có thể thấy tính không đầy đủ ở đây có nghĩa là phải phụ thuộc vào bên ngoài thì mới có thể chứng minh được mình đúng hay sai. Hiểu một cách nôm na là: một mình anh thì anh biết so sánh với ai mà đúng hay sai, mà mâu thuẫn hay không mâu thuẫn và nhất quán được với ai.

Tụi con phải hiểu rằng toán học là nền tảng của các môn khoa học và lý luận. Toán học không phải đơn thuần là trò chơi từ trí tưởng tượng của con người. Các nhà khoa học đã luôn phải kinh ngạc trước sự trùng hợp đến kỳ diệu giữa các công cụ toán học mà con người nghĩ ra với bản chất vận động của các hệ thống vũ trụ. Không chỉ là toán học có thể mô hình hóa cực kỳ chính xác các quy luật tự nhiên sau khi các quy luật này được khám phá, mà còn là có nhiều phương pháp toán học được con người nghĩ ra trước rất lâu, rồi các nhà vật lý mới phát hiện ra các quy luật tự nhiên có thể được mô tả chính xác bằng các phương pháp toán học đó. Ví dụ như nhà toán học Đức Berhard Riemann đã xây dựng môn hình học phi Euclide (hình học Euclide dựa trên không gian phẳng mà tụi con học ở phổ thông) từ giữa thế kỷ 19 dựa trên một khái niệm gọi là không gian cong. Đến năm 1915 nhà bác học Albert Einstein khám phá ra Thuyết tương đối rộng (General relativity) phát biểu về sự uốn cong không gian bởi lực hấp dẫn. Lúc đó người ta mới kinh ngạc về sự trùng hợp giữa toán học “không gian cong” của Riemann với tính chất uốn cong không gian của lực hấp dẫn mà Einstein phát hiện. Tụi con đừng xem thường toán học nhe hôn, đừng nghĩ là học để thi cho xong rồi trả lại cho thầy cô. Cậu đang đọc quyển “Từng là bá chủ” của Michael Mandelbaum và Thomas Friedman. Họ quy cho một trong những nguyên nhân làm nước Mỹ suy yếu từ đầu thế kỷ 21 đến năm 2012 (năm viết cuốn sách) là do khả năng toán học của học sinh và công nhân Mỹ suy giảm. Cậu đồng ý với nguyên nhân này và nó không chỉ đúng cho nước Mỹ. Sự giáo dục ở nhà trường và cả môi trường làm việc sau ra trường ở VN mình không khuyến khích tư duy lý luận như một giá trị quan trọng trong công việc. Đa số làm việc theo tập quán, thói quen và mệnh lệnh nên ra trường vài năm là các kiến thức toán học trở thành những thứ vô bổ dù đã mất từ 12 đến 17 năm để học. Quyển sách trên còn đánh giá rằng những đầu bếp, vận động viên thể thao nào có hiểu biết tốt về toán học thì cơ hội thành công cao hơn những người ít hiểu biết. Đúng vậy đó, tư duy toán học không chỉ giúp ta hiểu và giải quyết tốt các mối quan hệ trong tự nhiên mà cả trong xã hội.

Trở lại với Định lý Gödel. Ý nghĩa của nó vươn đến tận lĩnh vực tư tưởng và quan điểm xã hội. Hệ số học là một hệ chặt chẽ nhất về mặt lý luận nếu ta so sánh nó với bất kỳ hệ thống nào của tự nhiên lẫn xã hội. Các hệ tư tưởng (tức các ý thức hệ, các chủ nghĩa về quan điểm xã hội) là các hệ thống xã hội. Dù chúng có được xây dựng trên những lý luận hoàn hảo đến đâu đi nữa thì chúng cũng không thể tránh được tính bất toàn hoặc không đầy đủ như của một hệ số học. Chúng luôn luôn chứa đựng những quan điểm bất định mà không thể khẳng định đúng/sai. Và bất kỳ lúc nào chúng muốn chứng minh mình là nhất quán và không mâu thuẫn (tức muốn khẳng định mình toàn vẹn, hoàn hảo) thì chúng sẽ phải lệ thuộc vào những quan điểm bên ngoài không thuộc về chúng. Nếu nỗ lực nhất quán các tiên đề của một hệ số học đã thất bại như đề bài của Hilbert và đã được Gödel chứng minh là vô vọng thì bất kỳ cố gắng độc tôn để bao quát toàn bộ xã hội của một hệ tư tưởng nào đó cũng đều thảm bại và tuyệt vọng. Chủ nghĩa duy lý (Rationalism) đã từng có một thời gian dài tin rằng tư duy lý tính của con người có thể tạo ra các chân lý tuyệt đối là những quan điểm luôn mãi đúng cho tất cả mọi người. Nhưng định lý Gödel đã chứng minh vững chắc rằng kiểu niềm tin như thế là phản khoa học. Như cậu đã viết nhiều lần: chân lý hay LẼ PHẢI TUYỆT ĐỐI chỉ có thể là các quy luật của Tạo hóa mà thôi. Điều đáng tiếc là hiện nay vẫn còn nhiều giới cầm quyền trên thế giới vì thiếu hiểu biết khoa học nên cai trị xã hội một cách phản khoa học bằng cách áp đặt quan điểm/ý thức hệ mà mình tin là chân lý tuyệt đối cho toàn xã hội như Liên Xô trước đây và TQ ngày nay. Liên Xô đã sụp đổ, TQ cũng sẽ thảm bại thôi.

Vì những lẽ trên ta có thể nói rằng: về mặt toán học, không một hệ tư tưởng nào có thể tồn tại một mình mà không bị tự mâu thuẫn và kéo theo sự lụi tàn của nó. Điều này có cùng ý nghĩa với việc các hệ vật lý hoặc xã hội cũng không thể tồn tại ở TTCB và phát triển khi tồn tại các sức cưỡng chế độc tôn làm cho chúng không thể chuyển động/vận động tự do. Xã hội con người là một hệ thống phức tạp nhất trong các hệ của vũ trụ. Nỗ lực độc tôn những xã hội này bằng các loại ý thức hệ, chủ nghĩa không chỉ phản khoa học, phi toán học mà còn đi ngược lại với dòng chảy của tiến trình phát triển ý thức của nhân loại. Theo nhà triết học lỗi lạc ngưới Đức – Hegel (1770-1831) thì lịch sử chỉ bắt đầu khi con người có ý thức, nên có thể nói rằng dòng chảy lịch sử của thế giới chính là được thể hiện bởi dòng chảy của tiến trình phát triển ý thức của nhân loại. Tụi con sẽ thấy dưới đây, dòng chảy này đang tiến mạnh mẽ đến sự xóa bỏ độc tôn.

D/ Xu hướng lịch sử loài người là luôn cố gắng xóa bỏ sự độc tôn- kẻ thù của tự do vận động- để đạt được trạng thái cân bằng.

1/ Galileo Galileo cùng kì công xóa bỏ thuyết địa tâm

21/9

Lịch sử được ghi nhận từ thời cổ đại, nổi bật nhất là ở Hy Lạp với những tư tưởng triết học vẫn còn ảnh hưởng đến ngày nay. Thời đó triết học gần như là môn khoa học duy nhất giải thích mọi hiện tượng trong vũ trụ: từ sự chuyển động của các vì sao; hành tinh đến các nguyên nhân và cấu tạo của sự sống và suy nghĩ của con người. Khoa học vật lý (Physics) vào thời của Newton (giữa thế kỷ 17) vẫn còn được gọi là triết học tự nhiên (natural philosophy). Triết gia Hy Lạp cổ đại gây ảnh hưởng lớn nhất đối với lịch sử phát triển ý thức của Châu Âu nói riêng và thế giới nói chung là Aristotle sống vào giữa thế kỷ thứ thư TCN (trước công nguyên). Vào năm 340 TCN, ông công bố trong cuốn sách “Về bầu trời” là trái đất hình cầu và đứng yên. Đây là kết quả của sự quan sát hiện tượng nguyệt thực thấy rằng bóng của trái đất đổ lên mặt trăng là hình tròn và hiện tượng cột buồm tàu khuất dần khi ra xa. Từ đó Aristotle xác định cho trái đất một vị trí trung tâm tuyệt đối và để cho các ngôi sao quay xung quanh cái tâm ấy theo những quỹ đạo hình tròn. Quan điểm này tạo nên một tiêu chuẩn đứng yên tuyệt đối dành cho vị trí độc tôn của trái đất. Khoảng 500 năm sau vào thế kỷ thứ 2, Ptolemy dựa vào quan điểm này và phát triển nên mô hình vũ trụ hoàn chỉnh mà sau này gọi là mô hình địa tâm, tức là trái đất ở trung tâm đứng yên tuyệt đối và mặt trăng, mặt trời cùng với 5 hành tinh quay quanh cái tâm này trên những mặt cầu (chứ không phải đường tròn). Sau khi thành lập vào thế kỷ thứ 4, Giáo hội Thiên chúa giáo La Mã (Roman Catholic Church) chuẩn ý ngay mô hình này vì nó phù hợp với những diễn giải từ kinh thánh và nó dành nhiều không gian bên ngoài của mặt cầu ngoài cùng cho thiên đường và địa ngục. Sự độc tôn của mô hình địa tâm được củng cố bằng pháp lý ngày càng chặt chẽ nhờ sự lớn mạnh của Giáo hội La Mã. Sự lớn mạnh này song hành với sự phát triển chủ nghĩa phong kiến thần quyền nhằm áp đặt để độc tôn toàn bộ các quan điểm tư tưởng của con người từ tôn giáo, chính trị đến văn hóa, xã hội,… và cả khoa học ở Châu Âu thời đó.

40D-Helicentralism

Mô hình Địa Tâm – Được Giáo hội Thiên chúa giáo La Mã chuẩn ý ngay mô hình này vì nó phù hợp với những diễn giải từ kinh thánh và nó dành nhiều không gian bên ngoài của mặt cầu ngoài cùng cho thiên đường và địa ngục.

Tuy nhiên, trí tuệ của con người dù không bao giờ có thể trở thành chân lý tuyệt đối nhưng luôn có một khả năng kỳ diệu là khám phá được chân lý đó của Tạo hóa chỉ bằng sức tưởng tượng phong phú của mình dựa vào sự suy luận từ những quan sát thực tế. Cho dù không được hỗ trợ mà còn phải đối mặt với sự bức hại ghê gớm của pháp lý lẫn đạo lý thì vẫn có những con người chân chính sẵn sàng bảo vệ chân lý cho nhân loại. Năm 1543, một linh mục người Ba Lan là Nicholas Copernics công bố mô hình vũ trụ nhật tâm đầu tiên trên thế giới và gây ra sự phản đối của không chỉ Giáo hội La Mã (pháp lý) mà cả dư luật xã hội (đạo lý) Công giáo thời đó. Copernics đã phải dùng một cái tên khác và viết bằng tiếng Ý thay vì tiếng La Tinh để giảm đi tính hàn lâm nhằm giảm áp lực cho sự công bố của mình. Nhưng điều này không hề giảm đi sức thuyết phục của công trình vĩ đại này nên nó nhận được sự ủng hộ rộng rãi trong các trường đại học Châu Âu lúc đó. Tuy nhiên những người ủng hộ không dám ra mặt chính thực vì sự sự bức hại của các tòa án dị giáo. Nhưng hai nhà khoa học vĩ đại là Johannes Kepler người Đức và Galileo Galilei người Ý đã công khai ủng hộ Thuyết nhật tâm. Kepler dựa trên những ghi chép dữ liệu về vị trí của các hành tinh với độ chính xác đáng kinh ngạc của nhà thiên văn Đan Mạch là Tycho Brabe để tính toán quỹ đạo của hệ mặt trời thành các hình eclip, rất gần với thực tế của các quỹ đạo này. Đó là năm 1609. Cũng vào năm đó Galilei tự chế tạo ra kính thiên văn để quan sát được rõ bầu trời và tìm ra được những bằng chứng thực nghiệm cho Thuyết nhật tâm. Điều này giáng một đòn chí mạng vào thuyết địa tâm và những học thuyết liên quan khác của trường phái Aristotle và làm cho Giáo hội La Mã lúng túng. Tuy nhiên cũng vì vậy mà Giáo hội đã tìm được một chỗ dựa học thuật để chống đỡ cho thuyết địa tâm từ rất đông các giáo sư thuộc trường phái Aristotle. Trường phái này thống trị giới học thuật thời đó và đã kéo dài hàng trăm năm. Họ không chỉ giận dữ vì Thuyết nhật tâm dám thách thức thuyết địa tâm đã tồn tại hơn một ngàn năm mà còn cảm thấy bất an vì vô số các học thuyết của họ bị đe dọa sự độc tôn và có nguy cơ sụp đổ. Lý do là các học thuyết này đều dựa trên ý thức hệ thần quyền (theology) và có cơ sở khoa học là thuyết địa tâm. Vì thế các giáo sự phái Aristotle thuyết phục Giáo hội La Mã dùng quyền lực để triệt bỏ học thuyết của Copernics. Cùng lúc đó, nhà bác học đáng kính Galilei cũng vận động Giáo hội ủng hộ thuyết Nhật tâm nhưng bất thành. Đó là đầu thế kỷ 17, cũng là lúc mà Giáo hội La Mã đang phải đấu tranh gay gắt để bảo vệ sự độc tôn của mình trước sự lớn mạnh của Đạo Tin Lành. Vì vậy năm 1616, Giáo hội ép buộc Galilei không được bảo vệ và ủng hộ Copernics đồng thới tuyên bố thuyết nhật tâm là giả dối và sai lầm. Những chiến dịch đàn áp những người ủng hộ thuyết này được thực hiện. Galilei phải phục tùng nhưng chưa bao giờ thực sự từ bỏ chân lý. Năm 1623, một người bạn thân thiết của ông trở thành Giáo hoàng (Pope). Ông trở lại La Mã và thuyết phục Giáo hội hủy bỏ sắc lệnh 1616 đàn áp Thuyết nhật tâm. Sự vận động lần này vẫn tiếp tục thất bại nhưng ông lại được phép viết một quyển sách bàn về hai thuyết của Aristotle và Copernics với điều kiện là không được đứng về phía nào và phải kết luận rằng con người chẳng bao giờ hiểu biết được vũ trụ hoạt động ra sao vì chỉ có Chúa mới tạo nên được những cách thức đó bằng những phương pháp mà con người không thể hình dung được. Cùng năm đó Galilei cho ra đời quyền “Đối thoại của hai hệ thống chủ yếu của thế giới” dưới sự kiểm duyệt triệt để của Giáo hội. Ngay lập tức nó trở thành kiệt tác được hoan nghênh khắp Châu Âu, cả về mặt văn học lẫn triết học. Giáo hoàng lúc đó đã nhận ra rằng quyển sách này dù đã được Galilei giữ đúng cam kết nhưng lại là một đòn hạ bệ đầy thuyết phục dành cho thuyết địa tâm. Giáo hội vẫn cho rằng Galilei đã vi phạm sắc lệnh 1616 và đưa ông ra tòa án dị giáo. Con người đáng kính bị buộc phải nhận tội và công khai từ bỏ thuyết Copernics để không phải lên giàn hỏa. Nhưng nhà bác học vĩ đại bị quản thúc suốt đời.(c) Wellcome Library; Supplied by The Public Catalogue Foundation Theo cậu, bị quản thúc là khoảng thời gian vĩ đại nhất của ông. Trong 10 năm cuối đời ông bị quản thúc (1634) đến khi mất (1642) ông vẫn dành trọn cho khoa học và chân lý. Thời gian này ông hoàn thành kiệt tác thứ hai là cuốn “Hai khoa học mới” đặt nền tảng cho sự hình thành nên ngành vật lý hiện đại. Ngoài ra, kiệt tác này còn ủng hộ và củng cố cho Thuyết nhật tâm của Copernics. Bất chấp rủi ro, 4 năm trước khi mất và vẫn bị quản thúc gắt gao, Galilei đưa được bản thảo “Hai khoa học mới” ra ngoài. Nó đến được với một nhà xuất bản ở Hà Lan. Thế là những tri thức vô giá của nhân loại được gìn giữ, không bị hủy diệt. Ông là người truyền lửa vĩ đại. Ánh lửa của ông chưa bao giờ tắt cho đến tận ngày nay. Nó đã được Newton bừng lên để kết thúc sự độc tôn địa tâm sai trái.

2/ Newton người duy trì ngọn lửa của Galilei

22/9

Vào năm Galilei mất 1642, một con người vĩ đại khác chào đời – Isaac Newton. Lúc chỉ mới 24 tuổi Newton đã tiếp nối tri thức của Galilei rồi tự mình khám phá ra lực hấp dẫn để chứng minh cho chân lý nhật tâm đã bị quyền lực và sự giáo điều che phủ. 25 tuổi ông công bố quyển sách làm thay đổi thế giới đến tận bây giờ, viết bằng tiếng La Tinh có tựa là: Philosophiae Naturalis Principia Mathematica – Những nguyên lý toán học của triết học tự nhiên (tại vì cậu thích cuốn sách này nên thuộc cái tên La Tinh của nó thôi, chứ cậu chẳng biết gì về ngôn ngữ này hết ). Nó đã chính thức mở đầu cho vật lý học hiện đại đặt trên căn bản của học thuyết cơ học Newton mà tụi con được học từ phổ thông. Ngoài luật vạn vật hấp dẫn nổi tiếng phát hiện ra tính chất hút lẫn nhau của mọi vật có khối lượng, Newton còn phát triển hoàn chỉnh nhận định của Galilei về tính tương đối của sự chuyển động thành một định luật chặt chẽ. Theo quan niệm địa tâm thì trái đất đứng yên tuyệt đối nên mọi sự vận động/chuyển động là so với điểm tuyệt đối này. Nhưng thật ra trong không gian của vũ trụ thì không có một điểm nào là đứng yên tuyệt đối để trở thành trung tâm độc tôn hoặc là hệ quy chiếu duy nhất cho vạn vật trong vũ trụ được. Mặt trời chỉ đứng yên tương đối so với các hành tinh của nó. Chính nó cũng phải quay trong dải Ngân hà. Ngân hà cũng phải chuyển động so với các thiên hà khác, .v.v… Ngay cả trên mặt đất này, tụi con thấy một người đứng trên băng chuyền đang chuyển động nhưng người ấy có quyền nói rằng mình đứng yên và tụi con chuyển động. Trọng tâm của thuyết địa tâm (và mọi học thuyết khác dựa trên nó) chính là trái đất thì giờ đây đã được chứng minh là tự xoay tít quanh trục của mình và đi vòng vòng quanh mặt trời. Không chỉ thuyết địa tâm sụp đổ mà các học thuyết thần học, thần quyền, triết học, chính trị, xã hội, văn hóa, … dựa theo nó đều có cùng số phận vì nền tảng khoa học của chúng đã bị vạch rõ là phản khoa học, giả chân lý.

Thuyết cơ học Newton không chỉ chấm dứt tiêu chuẩn đứng yên tuyệt đối vốn không hề tồn tại trong vũ trụ mà còn dần tới sự tan rã của các loại ý thức độc tôn đã tồn tại phổ biến hàng trăm năm trong xã hội Châu Âu, kéo theo sự kết thúc của các ý thức hệ, chủ nghĩa độc tôn như thần quyền hay kinh viện (scholarism) Đây thực sự là một cuộc cách mạng khoa học vĩ đại làm thay đổi rộng rãi ý thức người dân Châu Âu, dẫn tời những trào lưu dân chủ mạnh mẽ đưa lục địa này nhanh chóng vươn lên đứng đầu thế giới. Nếu không có cuộc cách mạng khoa học này thì đã không thể có cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lừng lẫy. Nguồn gốc của nó chính là sự thay đổi ý thức của con người không còn chấp nhận sự độc tôn vốn trái với quy luật của Tạo hóa. Nó cũng là khởi nguồn của dòng chảy lịch sử xóa bỏ sự độc tôn của thế giới. Dòng chảy này vẫn đang chảy và đang bước vào một giai đoạn cuộn trào mới.

3/Thuyết tương đối của Einstein (Tương đối rộng và tương đối hẹp)

Cơ học Newton đã chấm dứt không gian tuyệt đối nhưng vẫn nghĩ rằng thời gian là tuyệt đối. Thời gian tuyệt đối là một cảm giác mà tất cả chúng ta đều cảm nhận như lâu nay. Với hầu hết mọi người thì không thể hiểu được thời gian mà chậm lại hoặc nhanh hơn thực sự là thế nào. Cùng lắm là người ta cảm nhận được sự khác nhau của tâm lý đối với thời gian. Cùng một khoảng thời gian nhưng người này có thể cảm thấy nó dài hơn người khác tùy vào tâm trạng của họ. Ai cũng thấy rằng thời gian qua đi thì không thể lấy lại, người ta có thể đón chờ tương lai chứ không thể trở lại quá khứ. Nhưng sự thật không phải như vậy, chân lý của Tạo hóa không phải là cảm giác chủ quan của con người. Cho dù là có đến 7 tỷ người hoặc sau này là 10 tỷ người đều cảm nhận như nhau về một điều gì đó thì nó vẫn không chắc là Lẽ phải tuyệt đối của Tạo hóa. Sự thật là: “Mỗi con người trên trái đất này đều có một số đo thời gian riêng của mình mà không ai giống ai cả. Và mỗi người đều bình đẳng trước vũ trụ khi quan sát vũ trụ, nghĩa là ai cũng sẽ nhận được những kết quả như nhau khi tiến hành đo đạt những sự vận động trong vũ trụ bằng những phương pháp giống nhau. Nói rộng hơn thì điều này có nghĩa rằng mọi quy luật của Tạo hóa trong vũ trụ đều bình đẳng với từng người, tác động của những quy luật này lên mỗi người là như nhau mà không phân biệt người ấy màu da nào, nói tiếng gì, theo tôn giáo nào hay sống ở đâu. Dù ở trái đất hay đang bay trên phi thuyền hoặc lên cung trăng và thám hiễm sao Hỏa, họ đều bình đẳng với mọi quy luật của tạo hóa” Phát biểu trong ngoặc kép này là hệ quả và ý nghĩa được rút ra từ thuyết tương đối được khám phá bởi nhà bác học vĩ đại Albert Einstein (1879-1955)

Einstein là một sinh viên bình thường nên khi ra trường không được nhận làm trợ giảng cho giáo sư vốn là cách thăng tiến phổ biến trong giới khoa học thời đó. Khó khăn lắm ông mới xin được một chân nhân viên tại một cơ quan cấp bằng sáng chế ở Thụy Sĩ. Nhưng có lẽ nhờ có nhiều thời gian từ công việc này mà ông mới suy tưởng để giải quyết được một bế tắc của khoa học bấy giờ. Sự bế tắc này lại xuất phát từ chính cái điểm mà Galilei và Newton đã đột phá – chính là tính tương đối của chuyển động mà ta mà ta đã phân tích ở trên. Theo nguyên lý này, nếu một chiếc xe đang chuyển động với vận tốc A thì một người chuyển động với vận tốc B ngược chiều với chiếc xe sẽ đo được vận tốc của xe là A+B, một người khác chuyển động với vận tốc E nhưng cùng chiều chuyển động của xe thì sẽ đo được vận tốc xe là A-E (giả sử vận tốc xe cao hơn vận tốc người thứ hai). Điều này đã luôn luôn đúng trong mọi chuyển động thực tế từ khi cơ học Newton ra đời. Nhưng 220 năm sau sự kiện này hai nhà vật lý Mỹ là Michelson va Morley đã tiến hành một thí nghiệm vào năm 1887 để đo tốc độ ánh sáng theo những chiều chuyển động khác nhau với chiều ánh sáng. Kết quả họ nhận được gây kinh ngạc giới vật lý: tốc độ ánh sáng luôn không thay đổi bất chấp chiều chuyển động của người đó. Hãy thay chiếc xe bằng ánh sáng có tốc độ chuyển động là C. Theo nguyên lý thì người thứ nhất phải đo được vận tốc ánh sáng là C+B, người thứ hai phải đo được là C-E. Nhưng không, kết quả luôn không đổi bất chấp tốc độ và chiều chuyển động của người đo, thậm chí là di chuyển vuông góc hay theo bất kỳ góc nghiêng nào so với chiều ánh sáng. Vận tốc ánh sáng luôn luôn là C, không thay đổi bởi bất kỳ hoàn cảnh nào của người quan sát. Chữ C được ký hiệu cho tốc độ ánh sáng xuất phát từ Constant, nghĩa là không thay đổi.

Thực nghiệm trên đe dọa một trong ba định luật cơ bản của Cơ học Newton. Nguyên lý tương đối của chuyển động không còn đúng với chuyển động của ánh sáng với tốc độ C tuyệt đối. Để giải thích, nhiều nhà khoa học đã đưa ra khái niệm gọi là ether (ê-te), là một loại vật chất phủ kín vũ trụ. Không gian được chứa đầy bởi ether nên ether sẽ làm cho không gian dài ra hoặc ngắn lại tùy theo vận tốc chuyển động theo một tỷ lệ nào đó sao cho người quan sát luôn đo được vận tốc ánh sáng không đổi. Lý thuyết này táo bạo ở chỗ đưa ra nguyên lý không gian co dãn theo tốc độ chuyển động nhưng nó vẫn không thể giải thích được nhiều sự quan sát khác. Đặc biệt là người ta không thể chứng minh được sự tồn tại của ether như thế nào. Vấn đề vẫn bị bế tắc trong nhiều năm, cho đến 1905 – thời điểm ra đời của thuyết tương đối hẹp (special relativity). Vào năm này Einstein cho công bố mấy bài báo, tạo nên sự đột phá vĩ đại cho khoa học và ý thức con người. Hoàn toàn chỉ bằng suy tưởng không dựa vào các công cụ thí nghiệm, Einstein đã chỉ ra một điểm sai nghiêm trọng trong ý thức của con người về thực tế khách quan của vũ trụ. Với sức tưởng tuợng phi thường và táo bạo, Einstein đã dám vượt lên định kiến của tất cả mọi người trên thế giới về tính tuyệt đối của thời gian để chỉ ra cái sai của nó đối với quy luật của Tạo hóa. Copernics, Kepler, Galilei, Newton còn dựa được vào những quan sát thực nghiệm để củng cố niềm tin nhật tâm. Những gì Einstein khám phá lúc đó chưa thể đủ điều kiện để thực nghiệm. Các nhà Vật lý phải mất hàng chục năm để tìm được những bằng chứng thực nghiệm khẳng định cho Thuyết Tương đối. Sẽ không có gì khó hiểu nếu có người bảo Einstein bị điên. Trên thực tế đã có nhiều người, kể cả các nhà khoa học theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan, độc tôn dân tộc mình và bài dân tộc Do Thái đã viện vào việc dám động đến giáo điều của mọi người để đả phá Einstein. Thậm chí còn có nhiều lời kêu gọi giết chết ông.

23/9

Nhưng khi chân lý đã được khai mở thì dòng chảy lịch sử sẽ cuộn trào và lật sang trang mới, không chỉ trong khoa học mà cả trong ý thức của con người để dẫn đến những biến chuyển sâu sắc của xã hội loài người. Thuyết tương đối đã đưa dòng chảy lịch sử của thế giới đến một kỷ nguyên xóa độc tôn mới, trao sự bình đẳng cho từng người trong vũ trụ. Tụi con sẽ thấy điều này dưới đây.

E/Sự đóng góp của thuyết tương đối đối cho khoa học công nghệ

Thuyết tương đối hẹp phát biểu đơn giản thế này: “Tất cả định luật của vũ trụ* là như nhau** đối với mọi người quan sát đang chuyển động tự do*** với bất kỳ vận tốc nào”. Tốc độ ánh sáng là một hằng số vật lý, cũng tức là một định luật cũa vũ trụ nên mọi người quan sát đều đo được tốc độ này như nhau dù họ chuyển động với tốc độ và phương hướng khác nhau. Tụi con thấy kinh hồn không? Một phát biểu đơn giản lại giải quyết được một bế tắc khổng lồ. Nhưng hệ quả của phát biểu này mới là điều thực sự kinh hoàng. Nó kinh hoàng không chỉ vì nó vén mở một màn chắn trí tuệ được làm bằng chính ý thức của con người trong hàng ngàn năm, mà còn vì nó vô cùng đơn giản. Nó thể hiện những mối quan hệ phức tạp nhưng lại bằng cách rất đơn giản mà ai cũng có thể  hiểu và cảm nhận được ngay chân lý với chỉ một điều kiện cho người đó là đừng cố chấp với định kiến của mình. Người ta có nhiều cách làm cho người khác hiểu thuyết tương đối. Cậu đưa ra cách bằng lý luận toán học đơn giản và tin chắc là tụi con sẽ hiểu.

Hãy tiếp tục ví dụ về hai người đo vận tốc ánh sáng. Mô hình như sau:

51A-cong-thuc

Theo nguyên lý tương đối của chuyển động trong cơ học Newton thì người E sẽ đo được vận tốc ánh sáng bằng (C-E), còn người B sẽ đo được vận tốc ánh sáng bằng (C+B). Nhưng thực nghiệm của Michelson và Morley đã chứng minh rằng hai kết quả trên là luôn bằng nhau, nên ta có phương trình (C-E) = (C+B) bỏ đại lượng C ta được      -E = B . Dấu trừ ở đây chỉ nói lên là B di chuyển ngược chiều với E mà thôi, nên ta có thể bỏ nó đi cho đơn giản. Không cần quan tâm đến chiều chuyển động, ta có phương trình E = B[13]. Nhưng rõ ràng là tốc độ của người E lớn hơn tốc độ của người B, không thể bằng nhau. Vì vậy mà phải có một đại lượng nào đó được điều chỉnh để giữ cho phương trình này vẫn đúng. Tụi con đều biết công thức cơ bản: Khoảng cách = vận tốc  x thời gian.

Theo công thức này ta có:

E = (khoảng cách E/thời gian E)

B = (khoảng cách B/thời gian B)

Thay hai vế của chúng vào phương trình E = B ta được:

khoảng cách E/thời gian E = khoảng cách B/thời gian B         (Phương trình I)

Nếu, thời gian là tuyệt đối thì cả ánh sáng, người B và người E đều đo được cùng một khoảng thời gian như nhau để di chuyển được trên khoảng cách tương ứng như hình vẽ là khoảng cách C, khoảng cách B và khoảng cách E.

Tức là thời gian C = thời gian B =  thời gian E

Nhưng nếu Thời gian E = Thời gian B thì theo Phương trình I ở trên thì Khoảng cách E phải bằng khoảng cách B. Như vậy để cho phương trình I đúng thì đại lượng thời gian phải thay đổi, cụ thể là thời gian E phải lớn hơn thời gian B. Để dễ hiểu ta cho khoảng cách E = 2 lần khoảng cách B thay vào phương trình I

(2/thời gian E) = (1/thời gian B) hoặc Thời gian E = 2 Thời gian B.

Điều này có nghĩa rằng khi người B đo được 2 đơn vị thời gian thì người E chỉ đo được 1 đơn vị thời gian. Nói cách khác, người E được lợi thời gian hơn người B vì người E có tốc độ di chuyển lơn hơn người B. Ta cũng có thể  nói thời gian của người E chậm lại so với thời gian của người B. Như vậy đại lượng phải điều chỉnh là thời gian để cho mọi người quan sát đều nhận được những tác động như nhau của các quy luật của Tạo hóa mà cụ thể trong trường hợp này là để đo được tốc độ ánh sánh như nhau bất chấp tốc độ và hướng chuyển động.

Tụi con có nhận ra dáng dấp cùa một nguyên lý cân bằng của Tạo hóa xuất hiện trong trường hợp này để làm cân bằng cho một sự tồn tại trong vũ trụ không? Sự tồn tại ở đây chính là tính bất biến của tốc độ ánh sáng C – một hằng số vật lý vô cùng quan trọng để đảm bảo cho sự xuất hiện sự sống và ý thức con người (cùng với 14 hằng số vật lý khác mà chúng ta đã đề cập ở trang 14 và 15). Thời gian phải bị thay đổi để bảo đảm cho sự tồn tại thiết yếu này. Thời gian không phải là tuyệt đối như nhau và có một số đo duy nhất, độc tôn cho tất cả mọi người hoặc mọi sự kiện trong vũ trụ. Cảm nhận về sự tuyệt đối độc tôn của thời gian chỉ là định kiến vì chưa hiểu biết đủ của con người về quy luật của Tạo hóa. Einstein bằng sự xuất chúng của mình đã vén bức màn định kiến đó bằng một phát biểu thật đơn giản, và hoàn toàn chỉ bằng suy tưởng. Chính nhờ sự đơn giản mà thuyết tương đối đã được chấp nhận rộng rãi trước khi nó được kiểm chứng bằng thực nghiệm. Nhiều nhà khoa học ủng hộ nó đã tập trung tạo ra những phương pháp kỹ thuật để làm thí nghiệm, đo đạt thực tế, kết quả nhận được làm mọi người kinh ngạc về sức tưởng tượng và khả năng tính toán bằng các mô hình toán học của Einstein. Tụi con lưu ý rằng tỷ lệ 1:2 của thời gian E và thời gian B cậu ví dụ ở trang 41 chỉ làm đơn giản cho tụi con dễ hiểu vì sao thời gian phải thay đổi ở những vận tốc khác nhau. Tỷ lệ này rất phức tạp và không tuyến tính vì nó còn liên quan đến sự co dãn của không gian. Sau đây là một vài số liệu được tính toán từ công thức tính tỷ lệ này của Einstein. Với tốc độ bằng 87% C thì thời gian sẽ chậm lại 50%[14] (đồng hồ sẽ chạy chậm hơn một nửa nên được lợi gấp đôi thời gian). Ở tốc độ 99% C thì thời gian chậm lại 700% (lợi 7 lần). Ở tốc độ 99.9% C thì thời gian chậm lại 22,4 lần. Nếu có một con tàu vũ trụ đạt được tốc độ bằng 80% C (khả năng này còn rất xa với thực tế) và một nhà du hành vũ trụ trên con tàu này đến thăm một hành tinh cách xa trái đất 8 năm ánh sáng thì người chờ trên trái đất sẽ thấy đồng hồ của mình đã đếm được khoảng thời gian 20 năm để gặp lại nhà du hành. Nhưng cùng một loại đồng hồ đó được đặt trong tàu vũ trụ thì mới đếm được có 12 năm là thời gian cả đi và về. Nếu hai người này là anh em sinh đôi thì cơ thể người trên tàu sẽ ít lão hóa hơn người dưới đất 8 năm. Người ta gọi cái này là nghịch lý anh em sinh đôi. Nhưng đối với quy luật của Tạo hóa thì bình đẳng, chẳng có nghịch lý gì cả. Người có chuyển động nhanh thì được lợi về thời gian. Số liệu sau đây sẽ làm tụi con choáng. Nếu con tàu đạt được tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng 99.99997% C[15] thì người em trên tàu có thể đến thăm chòm sao Cung cách trái đất 30 ngàn năm ánh sáng cả đi và về thì người em mới già thêm 20 tuổi.[16] Nhưng khi trở về trái đất thì người anh đã trở thành người thiên cổ “siêu tiền sử” từ 60 ngàn năm trước . Đến đây tụi con có nhận ra được rằng người Việt mình đã có ý niệm rất lý thú về thuyết tương đối không? Đó là chuyện Từ Thức gặp tiên hồi xa xưa. Từ Thức theo tiên lên tiên giới được 3 năm thì nhớ nhà đòi về. Trở lại quê nhà thì chẳng thấy người thân và nhà cửa đâu. Hỏi thăm thì mới biết Từ Thức bị mất tích từ 300 năm trước. Biết đâu nhiều kiếp trước cậu là ông ấy.

51A-chudongtu

Chữ Đồng Tử gặp tiên là một ví dụ cho sự không tuyệt đối về thời gian

Thuyết tương đối lừng lẫy thật ra đơn giản vậy thôi, không có gì khó hiểu cả. Chỉ cần ta bỏ đi định kiến thời gian là tuyệt đối, độc tôn như nhau cho tất cả mọi người. Rồi dùng một phương pháp luận toán học và vật lý của cấp 2 như cậu hướng dẫn ở trang 40-41 thì sẽ hiểu được rằng mỗi người đều có một số đo thời gian riêng của mình, không ai giống ai. Lý do là không ai có sự di chuyển hoàn toàn giống người khác được. Ví dụ như 6 năm nay tốc độ di chuyển của cậu là thua xa tụi con. Mấy đứa thì thường xuyên lái xe ào ào, có lúc còn đi máy bay. Ngoại trưởng John Kerry hẳn là người được lợi nhất về thời gian vì cậu đọc báo nói rằng ông ấy lập kỷ lục về số giờ bay, hơn cả phi công. Nhưng đứa nào chưa đi máy bay bao giờ thì đừng lo lắng là mình mau già hơn ông ấy vì sự chênh lệch này là vô cùng nhỏ ở tốc độ thấp, kể cả vận tốc của máy bay (cỡ 1000km/h). Các nhà khoa học đã làm một thí nghiệm bằng cách đặt hai chiếc đồng hồ được sản xuất giống hệt nhau với độ chính xác cực kỳ cao, một chiếc trên máy bay và một chiếc dưới mặt đất. Kết quả là đồng hồ trên mày bay chạy chậm hơn cái dưới mặt đất một chút. Cậu không nhớ số liệu chính xác, hình như là người ăn suốt đồ ăn máy bay trong 1 năm ròng thì chỉ già chậm hơn người dưới mặt đất có 1 phần triệu giây. Sự khác nhau về số đo thời gian là quá nhỏ đối với những tốc độ di chuyển phổ biến ở trái đất theo cơ học Newton cũng không gặp trục trặc gì. Nhưng như thế thì khoa học công nghệ đâu thể tiến xa như bây giờ, khoa học xã hội cũng không đủ trình độ làm cho nhiều quốc gia văn minh như hiện nay.

24/9

Năm 1915 Einstein tiếp tục công bố Thuyết tương đối rộng, là sự mở rộng Thuyết tương đối hẹp để phù hợp với Lực vạn vật hấp dẫn. Một lần nữa ông làm cho thế giới ngỡ ngàng bởi suy nghĩ rất sâu vào bản chất của các quy luật Tạo hóa và đưa ra cách giải quyết vấn đề rất đơn giản.

Thuyết cơ học Newton xóa bỏ không gian tuyệt đối nhưng thời gian vẫn là tuyệt đối. Đây là hình ảnh quen thuộc của không gian 3 chiều mà tụi con được học từ nhỏ. Chỉ có 3 chiều vì chiều thời gian là tuyệt đối, chỉ có một số đo duy nhất nên không cần phải biểu diễn trên tọa độ. Điều này phù hợp với cảm nhận và cũng là định kiến của chúng ta trong cuộc sống hàng ngày vì chúng ta không cảm nhận được sự khác nhau về thời gian của mỗi người. Theo sự cảm nhận này nên chúng ta thấy rằng trái đất và các hành tinh quay quanh mặt trời trên không gian 3 chiều theo những quỹ đạo (orbit) hình êlip. Còn thời gian cứ tuần tự tiến dần. Các nhà thiên văn có thể ghi chép theo kiểu vào thời điểm này trái đất ở vào tọa độ/vị trí nào so với mặt trời, thời điểm kia sẽ di chuyển đến đâu, v.v… Nhưng khi Thuyết tương đối hẹp đã được chứng minh thì không còn cái biểu thời gian tuyệt đối này nữa. Trái đất có thời gian riêng của mình so với các hành tinh khác, mặt trời cũng có thời gian riêng so với các ngôi sao khác. Vì vậy mà không gian 3 chiều không thể biểu diễn được trạng thái chuyển động (còn gọi là hành trạng) một cách chính xác được nữa. Vì vậy phải thêm một chiều thời gian vào 3 chiều không gian trước. Từ đây, một hành trạng sẽ được biểu diễn bằng 4 tọa độ. Người ta gọi hệ tọa độ này là không gian – thời gian, được gọi tắt là không-thời gian (space-time). Tụi con lưu ý rằng, từ nguyên lý căn bản của thuyết tương đối hẹp nên các tọa độ không-thời gian này là bình đẳng như nhau, không có sự phân biệt hay ưu tiên nào đối với bất cứ hệ tọa độ nào. Vấn đề được đặt ra khi này là các phương trình Newton không còn thể hiện đúng hành trạng của vũ trụ nữa, đặc biệt là với những chuyển động ở tốc độ cực kỳ lớn trong vũ trụ bao la hoặc trong các nguyên tử siêu nhỏ, làm co lại thời gian và không gian rất đáng kể. Sở dĩ môn cơ học thiên thể (celestial machanics) không gặp vấn đề gì trong mấy trăm năm sử dụng các phương trình Newton vì tốc độ chuyển động của các hành tinh cũng chỉ vài chục đến trăm km/giây (tương đương 0.01-0.03% tốc độ ánh sáng), không đủ tạo nên sự khác biệt lớn về thời gian riêng. Khi muốn giải quyết vấn đề phương trình Newton nói trên. Thuyết tương đối hẹp gặp phải một thách thức: các chuyển động được bảo vệ trong thuyết này chỉ là những chuyển động thẳng tự do (tự do tức là theo bất kỳ hướng nào, không bị bắt buộc phải theo một hướng cụ thể). Nhưng thực tế nhìn thấy là lực hấp dẫn đã làm các hành tinh quay quanh ngôi sao của mình theo những đường có hình êlip. Các chuyển động này rõ ràng là không phải chuyển động thẳng, cả về quan sát trực tiếp lẫn tính toán theo phương trình Newton đều cho thấy những quỹ đạo êlip.

Einstein giải quyết vấn đề trên bằng thuyết tương đối rộng. Nguyên lý căn bản của nó chỉ đơn giản như sau: “Không-thời gian bị uốn cong theo sự phân bố năng lượng hoặc khối lượng” (khối lượng tạo ra lực hấp dẫn-cũng chính là năng lượng). Theo cơ học Newton thì lực hấp dẫn của mặt trời lên trái đất làm trái đất quay trên không gian 3 chiều. Nhưng theo thuyết tương đối rộng thì lực hấp dẫn của mặt trời uốn cong không-thời gian của trái đất thành hình êlip nên trái đất mới chuyển động quanh mặt trời theo hình này. Bản chất là trái đất chuyển động trên không-thời gian 4 chiều (tức 4 tọa độ) của nó theo những đường thẳng như thuyết tương đối hẹp quy định. Nhưng vì năng lượng từ lực hấp dẫn của mặt trời lên trái đất làm cho không-thời gian của trái đất uốn cong nên ta mới nhìn thấy nó chuyển động quanh mặt trời theo hình êlip như cảm nhận quen thuộc của con người trong không gian 3 chiều. Các phương trình của Einstein đã tính toán chính xác hình dáng bị uốn cong của các không-thời gian của các hành tinh, phù hợp với quỹ đạo theo phương trình Newton. Nhưng để kiểm chứng cho các không-thời gian có tốc độ cực cao, chẳng hạn như sự chuyển động của một tia sáng thì phải chờ có điều kiện. Năm 1919 nhờ vào một sự kiện nhật thực toàn phần (mặt trời – mặt trăng – trái đất thẳng hàng nhau) nên các nhà vật lý đã đo được đường đi của một tia sáng đến từ một ngôi sao xa xôi theo một đường thẳng. Trước khi đến được trái đất nó phải vượt qua mặt trời. Họ đã kinh ngạc khi phát hiện nó bị uốn cong và đổi hướng khi đi ngang mặt trời. Thuyết tương đối rộng đã được chứng minh: Lực hấp dẫn của mặt trời làm uốn cong không-thời gian của tia sáng vốn luôn chuyển động thẳng. Năm 1936, dựa vào tính chất uốn cong này, Einstein dự báo sẽ có các hiệu ứng gọi là thấu kính hấp dẫn (gravitational lens). Đến năm 1979, hiện tượng thấu kính hấp dẫn đầu tiên được quan sát thực tế và được đặt tên là Chữ thập Einstein (Einstein Cross). Tụi con tự tìm hiểu nha. Cậu mỏi tay rồi

Vì không-thời gian bị uốn cong nên về lý thuyết, thời gian có thể bị uốn cong tới mức mà ta có thể du hành theo thời gian để trở về quá khứ thông qua những cái cổng được gọi là lỗ giun đào hoặc lỗ sâu đục (worm hole). Điều này truyền cảm hứng cho các nhà làm phim tạo ra các bộ phim viễn tưởng làm ngất ngây chúng ta. Nhưng trên thực tế là khả năng này vô cùng thấp. Xác suất làm được về lý thuyết là cực kỳ vô cùng nhỏ, nhỏ hơn nhiều khả năng bắn trúng đích một cái bia 1cm2 ở cách xa 15 tỷ năm ánh sáng. Còn về mặt công nghệ thì con người vẫn chưa biết cách làm sao để chế tạo được một tàu vũ trụ có thể vượt qua được lỗ giun đào vì nó chỉ có thể mở ra trong khoảng thời gian bằng 1 phần tỷ tỷ tỷ tỷ … giây. Vả lại người ta cũng chưa biết được rằng nếu một người du hành được về quá khứ rồi phá cuộc hôn nhân của ông nội và bà nội của mình thì chuyện gì sẽ xảy ra với người đó. Nên nếu có ai dụ mua vé du hành quá khứ thì đừng có mua nha!

Một hệ quả khác của thuyết tương đối rộng là: Nơi nào có lực hấp dẫn lớn hơn thì thời gian ở đó chậm hơn thời gian của nơi có lực hấp dẫn nhỏ hơn. Điều này dẫn đến “hậu quả” là đứa nào sống trên tòa nhà cao tầng sẽ mau già hơn mấy đứa ở tầng dưới. Lý do là càng lên cao, bán kính đến tâm trái đất càng dài ra nên lực hấp dẫn trái đất sẽ yếu đi. Nhưng đứa đó đừng quá lo! Nếu con ở căn hộ cao 25m so với mặt đất và có thể sống đến … 100 triệu tuổi thì cũng chỉ già nhanh hơn mấy đứa kia có 1 giây thôi . Hiệu ứng này lại rất “nghiêm trọng” ở những nơi có lực hấp dẫn vô cùng lớn như là các lỗ đen, lớn đến mức mà thời gian chậm tới mức không còn trôi nữa, dừng hẳn[17]. Nên không tồn tại thời gian trong các lỗ đen.

Sẽ có người nói rằng Thuyết tương đối xa xôi quá, có ích gì cho con người; Thuyết cơ học Newton đã đủ chế tạo máy bay rồi. Thực ra, thành tựu từ thuyết tương đối vô cùng vĩ đại và vẫn chưa ngừng lại. Về mặt khoa học, nó đã giúp con người khám phá được những bí ẩn kỳ diệu của vũ trụ. Trong quá trình khám phá này, rất nhiều các công nghệ đã được phát minh mang đến những lợi ích to lớn cho nhân loại. Tụi con hãy tìm hiểu về những thành tựu cụ thể về khoa học công nghệ từ Thuyết tương đối. Đã có sẵn các loại tài liệu này, tìm kiếm khá dễ dàng. Cậu dành thời gian để viết về những thành tựu khoa học xã hội và những lợi ích của nó đối với từng cá nhân – những điều tụi con khó tìm thấy tài liệu.

F/Sự đóng góp của thuyết tương đối  cho khoa học xã hội

Trước hết ta bàn về mặt cá nhân. Cậu muốn tụi con lưu tâm trải nghiệm những điều cậu viết sau đây rồi quan sát giá trị to lớn mình nhận được. Hãy nhớ lại nguyên lý vị nhân ở trang 11 và 14. Nếu vũ trụ  tồn tại sự sống và ý thức vì mục đích có được người để quan sát nó thì ta hoàn toàn có thể tin rằng những người hiều biết về vũ trụ sẽ nhận được những hỗ trợ đặc biệt từ vũ trụ. Sự hỗ trợ này đến từ những cách thức vẫn còn huyền bí với khoa học. Tương tự như mặt phẳng dao động của những con lắc tự do (không bị cưỡng ép phương dao động) luôn luôn hướng về các thiên hà (galaxy) cách trái đất hàng tỷ năm ánh sáng bất chấp nó ở trên trái đất và trái đất luôn xoay quanh trục và quanh mặt trời. Theo cơ học Newton thì mặt phẳng dao động phải xoay theo chiều xoay của trái đất. Nhưng năm 1851 nhà khoa học Pháo Leon Foucault làm thí nghiệm con lắc[18] trong một nhà thờ và phát hiện hiện tượng kỳ lạ nói trên. Đến giờ khoa học vẫn chưa giải thích được sự kỳ lạ này. Các nhà khoa học chỉ có thể tin mà không chứng minh được là: có sự gắn kết trong vũ trụ bằng những cách tương tác huyền bí mà không cần đến sự trao đổi năng lượng và dùng đến 4 loại lực mà khoa học đã biết[19] Trong thế giới vi mô của nguyên tử cũng có hiện tượng tương tự: hai hạt photon luôn luôn biết chính xác ý muốn của nhau mà không cần có sự trao đổi thông tin với nhau. Hạt này không cần gửi thông báo cho hạt kia nhưng chúng luôn biết hành trạng của nhau để thực hiện những hành động tương ứng nhau. Cách tương tác của chúng vẫn là điều huyền bí đối với các nhà vật lý lượng tử. Ngay cả Einstein cũng không tin vào điều này và đưa ra nghịch lý EPR[20] để bác bỏ. Nhưng rất nhiều thực nghiệm luôn cho thấy là Einstein sai. Khả năng tương tác huyền bí có mặt khắp nơi trong vũ trụ. Khoa học chưa hiểu được nó nhưng nó không phải là điều phản khoa học. Muốn trải nghiệm điều này thì tụi con hãy dành một chút thời gian trong thời khóa biểu của mình để tìm hiểu về vũ trụ, đồng thời hướng mục đích sống của mình để cống hiến cho cuộc sống, cho những sự tồn tại của vũ trụ. Tự khắc những tương tác huyền bí sẽ đến với tụi con để hỗ trợ.

Đi học lúc nhỏ, tụi con được dạy để hiểu trái đất tròn và quay quanh mặt trời. Đó là sự khai mở để giúp con người vượt qua định kiến địa tâm mà ai cũng vướng phải do kích thước của con người quá nhỏ bé so với trái đất và hệ mặt trời. Định kiến ấy được phá bỏ nên chúng ta có được tầm nhìn đúng và rộng về vũ trụ chúng ta đang sống, từ đó tạo nên những ý thức của chúng ta phù hợp với thế giới chung. Nhờ ý thức này mà không ai có thể độc tôn không gian địa lý của mình vài bản chất của vũ trụ không có không gian tuyệt đối. Rất nhiều sự bất bình đẳng đã bị phá bỏ sau khi định kiến trên bị xóa bỏ. Rõ ràng là đối với cá nhân, tụi con dư sức thấy được giá trị to lớn mình nhận được khi bức màn định kiến này được vén lên. Thử nghĩ xem một người mà lúc này còn nghĩ là trái đất chúng ta phẳng và ngày đêm là việc của ông trời thì người ta thiệt thòi đến thế nào trong cuộc sống này? Nhưng tụi con cũng sẽ thấy rằng chính mình đã từng thiệt thòi như vậy sau khi hiểu được những nguyên lý căn bản của Thuyết tương đối, nhất là sau khi xóa bỏ được định kiến thời gian tuyệt đối. Khi cái màn chắn này bị kéo đi thì tụi con sẽ thấy mình sáng lạ lùng lắm. Rất nhiều sự hiểu biết sẽ đến với mình dễ dàng. Mình sẽ có ý tưởng sáng tạo hơn. Mình sẽ thấy gần với thiên nhiên và vũ trụ hơn .v.v…Cậu tin rằng chúng ta nhận được những giá trị đó từ những tương tác huyền bí của vũ trụ vì không còn cái màn chắn định kiến để ngăn cản những tương tác đó nữa. Khi cậu tự vén được cái màn này thì cảm giác có lẽ không khác người mù được sáng mắt. Sau này cậu sẽ vận động đưa thuyết tương đồi được dạy căn bản ở phổ thông. Không biết có đứa nào nhận ra con đường VN cậu đi có dáng dấp của Thuyết tương đối không?

Giờ chúng ta bàn tới thành tựu về khoa học xã hội từ thuyết tương đối. Tụi con vẫn nhớ cậu gọi cách mạng khoa học xã hội là trào lưu mềm (soft current) và cách mạng khoa học công nghệ là trào lưu cứng (hard current) chứ? Hai trào lưu này kết hợp với nhau tạo nên dòng chảy của thời đại (the flow of time). Như vậy nên các tính chất chính của hai trào lưu sẽ quyết định đặc trưng của thời đại. Thời đại mà chúng ta bàn mang tầm vóc của thế giới, không phải quốc gia.

25/9

Thời đại Galilei sống, như tụi con đã thấy, sự độc tôn ý thức hệ bao trùm thế giới. Ông và bao nhiêu người khác đã không tiếc sức để thay đổi nó bằng ánh sáng của khoa học và đã tạo nên những sự biến chuyển mạnh mẽ trên khắp các xã hội Châu Âu. Đến Newton, ông đã đặt dấu chấm hết cho mọi căn cứ trái khoa học của các chủ nghĩa độc tôn và chính thức mở ra một Thời đại của khai sáng và dân chủ hóa trên toàn Châu Âu, dẫn đến cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vĩ đại làm biến đổi thế giới. Tuy nhiên trào lưu mềm dân chủ hóa này bị một hạn chế là nó chỉ dành cho những dân tộc ở Châu Âu. Những dân tộc này xem mình là văn minh hơn nên có quyền mở rộng thuộc địa để khai hóa cho các dân tộc lạc hậu. Nói cách khác, sự xóa bỏ độc tôn chỉ dành cho họ và họ quan niệm rằng những dân tộc lạc hậu thì chưa thể đủ dân trí để có dân chủ. Ngay cả một nhà tư tưởng rất tiến bộ và nổi tiếng đấu tranh cho tự do là John Stuart Mill, trong quyển sách “Bàn về tự do” xuất bản năm 1859 vẫn cho rằng: tự do chỉ có thể áp dụng cho những xã hội nào mà con người có khả năng hoàn thiện thông qua thảo luận tự do và bình đẳng. Quan điểm này không chỉ ở Anh mà cả Châu Âu thời đó nên mới dẫn tời tình trạng đầy mâu thuẫn và xung đột: một mặt các dân tộc Châu Âu đấu tranh mạnh mẽ cho tự do và dân chủ của mình, mặt khác thì lại tước đoạt các quyền tự do và dân chủ đó của các dân tộc thuộc địa. Nước Mỹ ra đời năm 1776 từ quan điểm chống lại sự bất bình đẳng này mà Châu Âu nói chung và nước Anh nói riêng áp đặt lên dân tộc Mỹ. Họ giành được độc lập, rồi rất tôn trọng các quyền ấy cho mình cũng như cho các dân tộc, quốc gia khác. Nhưng chính bản thân họ cũng không vượt qua được sự bất bình đẳng về chủng tộc đối với những người bị định kiến sai trái của lịch sử hàng ngàn năm của thế giới cho là có thân phân nô lệ. Hoặc người Nhật, sau khi vươn lên thần kỳ nhờ tự do, dân chủ trong cuộc Duy Tân Minh trị thì lại xâm lấn, chà đạp chủ quyền, tự do và dân chủ của bao dân tộc khác. Người Do Thái giỏi giang là vậy mà vẫn bị tư tưởng độc tôn dân tộc của Hitler xem thường, dẫn tời cuộc tàn sát dã man nhằm diệt chủng người Do Thái của hắn trong thế chiến II. Từ lúc khởi đầu cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vào giữa thế kỷ 19 đến Thế chiến II (1939-1945) là thời đại kinh tế công nghiệp giai đoạn đầu. Trào lưu cứng của nó đưa công nghiệp phát triển ồ ạt, còn trào lưu mềm thì vừa thúc đẩy mạnh mẽ dân chủ hóa vừa mở rộng thực dân hóa. Nguyên nhân của vấn đề là do vẫn tồn tại những định kiến sai trái nhưng phổ biến cho rằng sự bình đẳng chỉ dành cho một số dân tộc và có sự phân biệt đối với một số dân tộc khác. Thậm chí có những quan niệm cực đoan cho rằng đó là sự độc tôn được Chúa lựa chọn.

Năm 1905 Thuyết tương đối hẹp ra đời đã chứng minh cho chân lý này: Mọi người từng người một và không có sự phân biệt đối xử nào, đều bình đẳng trước mọi quy luật của Tạo hóa và có quyền vận động/chuyển động theo bất kỳ chiều hướng nào mình muốn mà không bị mất sự bình đẳng đó. Cậu gọi đây là Chân lý bình đẳng và tự do. Thuyết tương đối không chỉ làm cho khoa học công nghệ có sự đột phá mới mà còn thay đổi sâu sắc ý thức của con người về khoa học xã hội, giúp nhân loại đi vào giai đoạn phát triển mới dân chủ hơn, công bằng hơn, thịnh vượng hơn và văn minh hơn. Chân lý trên đã kết thúc cơ sở những định kiến và niềm tin độc tôn dân tộc và trao cơ sở khoa học vững chắc cho sự bình đẳng và quyền tự do cho từng cá nhân. Trào lưu mềm từ đây bước vào giai đoạn xóa bỏ sự độc tôn dân tộc và hướng tới trao quyền tự do và bình đẳng cho từng cá nhân. Nước Mỹ là nơi thúc đẩy trào lưu này mạnh mẽ nhất. Những người bị chủ nghĩa độc tôn dân tộc đe dọa như Einstein đã tìm thấy nước Mỹ là nơi an toàn nhất. Những người muốn tìm kiếm nơi có thể đảm bảo cho mình mọi sự tự do để có thể sáng tạo như Kurt Gödel (Cha đẻ cũa Định lý bất toàn) cũng đã chọn nước Mỹ là nơi định cư cuối cùng của mình. Nước Mỹ là nơi che chở cho rất nhiều người bị bức hại hoặc có thể bị bức hại trên khắp thế giới, nhất là vào Thế chiến I và Thế chiến II, bởi sự phân biệt và độc tôn dân tộc. Trong số đó có vô số những người xuất sắc không kém gì Einstein, Gödel đã góp phần quan trọng đưa nước Mỹ thành siêu cường. Trong khi đó, Đức và Nhật – hai quốc gia điển hình của chủ nghĩa độc tôn dân tộc vào thời kỳ này đã gây ra cuộc đại thế chiến II và nhận lấy sự thất bại nhục nhã. Họ đã nhận ra dc nguyên nhân thảm bại từ định kiến độc tôn dân tộc, tự xóa bỏ nó và tuôn theo dòng chảy của trào lưu mềm tự do và bình đẳng cho từng cá nhân. Nhờ vậy họ trở nên thịnh vượng và văn minh bậc nhất.

Thế chiên II đã kết thúc 70 năm rồi, cũng từng ấy năm chủ nghĩa độc tôn dân tộc đại bại. Nhưng nó vẫn còn chưa kết thúc hẳn. Giờ nó đang biến tướng thành những thứ chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi kiểu như ở Nga và TQ, đi kèm với sự độc tôn cầm quyền, lãnh đạo ngay cả với dân tộc của mình. Nó còn tệ hơn xưa. Chủ nghĩa độc tôn dân tộc thì dân chủ hóa chính mình nhưng không chấp nhận dân chủ cho dân tộc thuộc địa. Ngày nay chủ nghĩa dân tộc cực đoan như Nga và TQ thì đàn áp dân chủ trong nước nhưng lại tỏ ra giả hiệu dân chủ với bên ngoài. Những vấn đề nó gây ra cho thế giới trong đó có VN mình thì tụi con thấy rõ rồi nên cậu không kể ra. Điều cậu muốn nhấn mạnh là nếu nhân loại không thấy trước được nguy cơ hiểm họa của nó mà có cách ngăn ngừa hữu hiệu thì nó sẽ lại dẫn đến một cuộc đại chiến nữa.

Làm sao để trào lưu mềm của bình đẳng và tự do cho từng cá nhân cuộn trào mạnh mẽ thì mới biến chuyển được ý thức con người ở những nơi chủ nghĩa dân tộc cực đoan đang thống trị thì mới hóa giải được nguy cơ này. Các loại chủ nghĩa đó tồn tại được vì chúng nuôi dưỡng những định kiến sai rái trong đầu người dân. Một lý thuyết khoa học để con người có thể tự xóa bỏ những định kiến đó và hướng đến tự do và bình đẳng cho mình là con đường của cậu, tham vọng cũa cậu. Làm sao để trào lưu mềm “Thượng tôn QCN” cuộn trào mạnh mẽ là điều mà cậu sẽ dành cả đời mình để thúc đẩy. Tụi con đã nhận  ra Lý thuyết CCXHKH và NNPQ của cậu được đặt trên cơ sở khoa học là CHÂN LÝ BÌNH ĐẲNG VÀ TỰ DO được rút ra từ thuyết tương đối chưa? Nền tảng của CCXHKH là sự vận động tự do cho từng người. Và muốn có sự vận động tự do như thế thì Nhà nước phải thượng tôn QCN – Chính là NNPQ. Đơn giản vậy thôi. Vận động tự do nghĩa là con người có quyền mưu cầu hạnh phúc/lợi ích theo bất kỳ xu hướng chính trị, kinh tế, văn hóa, tôn giáo,… nào và không có bất cứ xu hướng nào được độc tôn. Mọi người, từng người đều bình đẳng trước quy luật phát triển xã hội của Tạo Hóa. Chỉ có nỗ lực vận động của họ dưới sự vận hành của quy luật này mới xác lập những xu hướng phổ biến – chính là các trạng thái cân bằng (TTCB) tự nhiên của tất cả các xu hướng vận động trong xã hội. Chỉ có những TTCB động này mới làm cho xã hội ổn định và phát triển bền vững. Độc tôn thì rõ ràng là cản trở sự vận động tự do. Hơn nữa, định lý bất toàn của Gödel đã chứng minh rằng không thể có sự tốt đẹp từ độc tôn vì bản thân nó luôn tồn tại những mâu thuẫn không thể tự giải quyết được. Lịch sử cũng đã chứng minh hùng hồn cho điều này. Dòng chảy của lịch sử thế giới – tức tiến trình phát triển ý thức của nhân loại – cũng rõ ràng là đang trên hành trình xóa bỏ độc tôn và hướng đến sự bình đẳng và tự do từng cá nhân.

Còn độc tôn thì thế giới không thể cân bằng. Toàn cầu hóa làm cho vấn đề của một quốc gia cũng trở thành vấn đề toàn cầu. Nhu cầu cân bằng xã hội giờ không chỉ cần thiết trong phạm vi quốc gia. Sự cân bằng toàn cầu sẽ quyết định ổn định, hòa bình, thịnh vượng của thế giới. Giờ thì chắc tụi con hiểu hơn vì sao cậu “say mê” chiến lược ĐIỂM CÂN BẰNG đi song hành với hai trào lưu của Dòng chảy thời đại kinh tế tri thức đang bắt đầu cuộn trào : Trào lưu mềm Thượng tôn QCN và trào lưu cứng Xanh hóa công nghệ năng lượng. Tất cả đều được đặt trên một nền tảng khoa học chung. Vì vậy cậu luôn nói rằng Dòng chảy của Thời đại này không thể đảo ngược.

Cậu hy vọng thư này có thể làm tụi con hiểu và thích thú nghiên cứu về vũ trụ để nhận được những điều kỳ diệu. Thương tụi con

[1] Riêng quỹ đạo của diêm vương tinh hơi lệch một chút khỏi mặt phẳng hoàng đạo.

[2] Vận tốc này có được khi các vật thể bị bắn ra từ các vụ nổ siêu sao mới (Supernova)

[3] Mỗi electron có nhiều quỹ đạo được phép chứ không phải chỉ một quỹ đạo duy nhất. Điều này tạo ra tính bất định (uncertainty) của cơ học lượng tử.

[4] Đây là phát biểu phiên bản yếu của Nguyên lý vị nhân. Phiên bản mạnh được đề cập ở trang 14.

[5] Vì vậy mà thủy triều lên xuống mỗi ngày 2 lần.

[6] Ông là nhà khoa học đáng tự hào của Việt Nam, tác giả của nhiều quyển sách hay, trong đó có quyển Hỗn độn và hài hòa mà cậu sử dụng số liệu trong thư này.

[7] E = energy – năng lượng, m = mass – khối lượng, c = tốc độ ánh sáng.

[8] Được gây ra bởi lực hạt nhân yếu (weak nucleus force).

[9] Cơ học lượng tử tiếng Anh là Quantum mechanics.

[10] Cách đây 3.5 tỷ năm, từ các chất hữu cơ.

[11] Xuất hiện cách đây 4 triệu năm.

[12] Tiếng Anh universal là phổ quát, có gốc từ universe là vũ trụ.

* tức là quy luật của Tạo hóa

** tức là bình đẳng

*** tức là chuyển động theo bất kỳ chiều nào

[13] Nếu cậu vẽ người B di chuyển cùng chiều thì cũng sẽ ra phương trình E = B Vẽ ngược chiều để ta hiểu rằng không cần phân biệt chiều chuyển động

[14] kích thước của vật chuyển động cũng bị co lại theo tỷ lệ này

[15] Theo thuyết tương đối thì không có thể gia tốc vật chuyển động để vượt qua bức tường tốc độ ánh sáng

[16] nếu cơ thể anh ta chịu nổi bị nén lại và dãn ra theo tỷ lệ tương ứng J

[17]Theo đúng ý thuyết không-thời gian của lỗ đen bị uốn cong tới mức nó chỉ cọn lại một điểm có kích thước gần bằng 0 nhưng có khối lượng cự kỳ lớn – gọi là điểm kỳ dị (singularity)

[18] Thí nghiệm này rất nổi tiếng và được đặt tên là “con lắc Foucault” Tụi con nên tìm hiểu chi tiết rất lý thú.

[19] Gồm các lực: lực hấp dẫn – điện từ – hạt nhân mạnh  và hạt nhân yếu

[20] bằng một thí nghiệm tưởng tượng cũng có tên là EPR, tụi con tự tìm hiểu nha

This entry was posted in Thư Xuyên Mộc and tagged , , , , , , , , , , , , , , , , . Bookmark the permalink.

One Response to Trạng thái cân bằng (Thư 51A)

  1. July22 says:

    Vũ trụ và sự sống thật quá sức kì diệu, trí óc như muốn thổi bay với những tưởng tượng xuyên suốt bài viết. Cảm ơn chú, mong chú giữ sức khỏe

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s