Sáng tạo và canh tân (P2)- 2 con đường tiếp cận thế giới sáng tạo Toán -Văn(Thư 55A)

55b(a)_beautiful-math

Xuyên Mộc, 19/11/2015

Các con, cháu thương! Chúng ta tiếp tục thư 54B về sáng tạo và canh tân.

Thư trước chúng ta đặt câu hỏi: Làm sao tiếp cận được Thế giới ý tưởng, rồi cậu nói rằng: dùng toán và văn. Chúng ta sẽ tìm hiểu về toán học trước, vì sao mà nó lại giúp ta tiếp cận Thế giới ý tưởng.

1/ Tiếp cận bằng toán học

Learn-Math-T

Toán học – một trong 2 con đường tiếp cận thế giới ý tưởng

Có bao giờ tụi con đặt câu hỏi: tại sao các quy luật tự nhiên của Tạo hóa trong mọi lĩnh vực, từ vật lý; hóa học; sinh học đến kinh tế; xã hội… đều được thể hiện bằng các công thức toán không? Từ những cái rất đơn giản đến những cái rất phức tạp, toán học đều biểu diễn được hết. Đa phần, các nhà khoa học sau khi khám phá được quy luật thì sẽ dùng các mô hình toán học sẵn có để phương trình hóa nó. Nếu các mô hình toán sẵn có không thể biểu diễn được nó thì họ sẽ phát triển mô hình mới phù hợp. Nhưng cũng rất nhiều lần, các nhà toán học luôn đi trước, họ xây nên những mô hình toán mà rất lâu sau các nhà khoa học mới phát hiện ra các quy luật có thể được biểu diễn hoàn hảo bởi các mô hình này. Thư 51A cậu đã ví dụ về Hình học Cong (hay Hình học phi Euclide) do nhà toán học Đức Berhard Riemann xây dựng từ giữa thế kỷ 19. Gần 70 năm sau, nó trở thành mô hình toán học tuyệt vời cho Einstein thể hiện Thuyết tương đối rộng về sự uốn cong không – thời gian. Một ví dụ lý thú khác là số ảo. Đứa nào không học toán cao cấp thì không thể chấp nhận tồn tại một kết quả của việc lấy căn bậc hai của số âm -1. Một số âm nhân một số âm thì kết quả luôn là dương: (-1) x (-1) = 1; (-2) x (-2) = 4. Vì thế nên khi còn học phổ thông, không có chuyện có một con số nào đó được bình phương lên (nhân nó với chính nó) mà ra số âm được. Suy ra:  (căn bậc hai của âm 1) là không thể được, tức là không tồn tại một giá trị bằng số nào như vậy. Tuy nhiên, hai nhà bác học Ý Cardano và Bombelli từ thế kỷ 16 lại không chấp nhận như thế. Họ tin vào sự tồn tại của một con số như thế trong thế giới và gọi nó là i =  . Chữ i là imagine, nghĩa là tưởng tượng. Tiếng Việt được dịch là số ảo. Nhưng thực ra nó chẳng ảo chút nào. Hai nhà bác học này đã phát triển nên mô hình toán học dựa trên số i. Một thời gian dài người ta cứ tưởng đây chỉ là một trò chơi sáng tạo thuần túy của trí não. Nhưng đến năm 1928, thiên tài PaulDirac (1902 – 1984) đã sử dụng số i để lập ra một phương trình để biểu diễn sự kết hợp 2 lý thuyết nền tảng của Vật lý hiện đại là Thuyết tương đối và Thuyết lượng tử. Phương trình này sau đó được đặt tên là Phương trình Dirac và trở thành nền tảng tính toán chính xác để tạo ra hàng loạt các công nghệ hiện đại như bán dẫn, siêu dẫn, nano, vi điện tử, quang điện tử, v.v… không có các công nghệ này thì ngày nay tụi con chẳng có điện thoại thông minh, máy tính bảng, laptop, TV kỹ thuật số,… để mà xài. Nhiều người bệnh sẽ không được trị khỏi vì không có các máy chụp y học hiện đại như PET (Position Emission Tomography, cậu không biết dịch tiếng Việt là gì ^_^). Chẳng thể kể hết các công nghệ giúp ích cho con người được tạo ra từ số i và Phương trình Dirac. Hơn nữa, mô hình toán học số i đang đóng góp một vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu vũ trụ bao la. Những điều này có nghĩa rằng số i là một sự tồn tại thật trong thế giới vật chất của vũ trụ mà ta đang sống. Các vật chất ấy có thể biểu diễn bằng số i. Đứa nào tìm hiểu về Vật lý lượng tử thì sẽ tìm thấy khái niệm “phản vật chất” và cũng sẽ thấy sự liên quan trực tiếp của nó đến số i. Gọi là số ảo nhưng nó tồn tại thật trong mọi cấu tạo vật chất, từ những vật dụng tụi con xài đến chính cơ thể của tụi con, từ những hạt vi mô bé xíu trong nguyên tử đến các thiên thể khổng lồ của vũ trụ, v.v…

Tụi  con có nghĩ rằng Cardano và Bombelli đã tiếp cận được Thế giới ý tưởng rồi “lấy” ra từ đó một mô hình toán học vốn được “sắp đặt” sẵn ở đó, tương ứng với các quy luật của Thuyết tương đối và Thuyết lượng tử – là những quy luật của Tạo hóa đã tồn tại từ lúc vũ trụ mới hình thành (Sau Big Bang)? Nếu chưa nhận thấy như thế thì chúng ta sẽ tiếp tục xem xét thêm ứng dụng khác của toán học.

Ở trên chúng ta đã nói đến công dụng của toán học là để biểu diễn quy luật của Tạo hóa, tức là chân lý. Nhưng toán học còn có một công dụng khác quan trọng hơn nhiều: Toán học là phương tiện để khám phá ra quy luật.

Thư 51A cậu đã ví dụ sử dụng toán cấp hai để lý luận ra Thuyết tương đối hẹp: thời gian là đại lượng phải thay đổi khác nhau với những chuyển động có vận tốc khác nhau để sao cho tốc độ ánh sáng đo được trên các chuyển động này là không thay đổi. Cậu không biết là Einstein có dùng phương pháp luận này để phá bỏ định kiến thời gian tuyệt đối để khám phá ra tính tương đối của thời gian trong Thuyết tương đối của mình không. Nhưng câu chuyện của Max Planck (1858 – 1947) – nhà khoa học lừng lẫy người Đức – dùng toán học để khám phá ra quy luật lượng tử là chắc chắn, đã được ghi lại trong một số tài liệu. Cuối thế kỷ 19, cuộc Cách mạng khoa học kỹ thuật đã bùng nổ khắp Châu Âu từ việc ứng dụng động cơ hơi nước. Từ đó ngành nhiệt động học (Thermal dynamics) phát triển mạnh để tìm cách tối ưu hóa nhiệt lượng. Nghiên cứu bức xạ nhiệt (Thermal radiation) là một chuyên ngành của ngành này. Tới lúc này người ta vẫn nghĩ rằng nhiệt lượng được truyền đi một cách liên tục, không ngắt quãng. Tháng 10 năm 1900 chỉnh sửa công thức của Wien về bức xạ nhiệt để phù hợp với những kết quả đo đạc thực nghiệm vào thời đó, Max Planck đưa ra công thức sau:

55b(a)-congthuc1

Đứa nào không hiểu công thức này thì không sao cả, vì đề tài này không phải để giới thiệu về Thuyết lượng tử. Cậu chỉ dùng công thức đó để diễn giải công dụng suy luận của toán học để khám phá quy luật thôi.

Tuy nhiên, công thức trên lại không phù hợp với một số nghiên cứu liên quan đến các nguyên tử khí được phát hiện trước đó. Dù không tin vào hướng đi của các nghiên cứu này(*) (Được gọi là phương pháp cơ học thống kê Boltzmann (1844 – 1906): thống kê theo vị trí và vận tốc các nguyên tử, chứ không nghiên cứu theo cấu trúc bên trong của nguyên tử.), nhưng Max Planck vẫn thử theo cách tiếp cận của chúng vì chính hướng đi của ông và hầu hết các nhà vật lý thời đó (tin rằng bức xạ nhiệt là liên tục như sóng điện từ vốn đã áp đảo khoa học vật lý thế kỷ 19) cũng đang gặp phải bế tắc. Sử dụng khả năng toán siêu việt của mình, Max Planck đưa ra được công thức phân bổ năng lượng theo cách tiếp cận trên như sau:

55b(a)-congthuc2

Tụi con chú ý lý luận sau đây: Nếu tồn tại một quy luật chung để chi phối việc trao đổi năng lượng như bức xạ nhiệt (công thức 1) và phân bổ năng lượng giữa các nguyên tử (công thức 2) thì 2 vế phải của hai công thức này phải bằng nhau. Từ đó, lập phương trình của 2 vế này và lược bỏ những đại lượng giống nhau ở 2 bên phương trình, ta dễ dàng còn lại phương trình:

55bb(a)-luocbo

Trong đó: h sau này được gọi là hằng số Planck, v là tần số bức xạ.  sau này được gọi là lượng tử, tức là một định lượng rất nhỏ (tử nghĩa là con, là nhỏ). Lượng tử tiếng Anh là quantum, là giá trị của các gói năng lượng được trao đổi giữa các hạt siêu nhỏ trong nguyên tử (ví dụ như hạt electron). Ý nghĩa của phương trình trên thể hiện bản chất của sự bức xạ / trao đổi năng lượng trong thế giới vật chất vi mô là không tiêu cực như cách thức của thế giới vĩ mô như được biết đến trước đó, tức là rời rạc bằng những gói năng lượng nhỏ được gọi là lượng tử. Planck công bố kết quả trên vào ngày 14/12/1900, chính thức khai sinh ra Thuyết lượng tử (Quantum theory) mà ta đã đề cập ở trên. Phương trình đơn giản  lại chính là một quy luật phổ quát (của Tạo hóa) chi phối toàn bộ quá trình trao đổi năng lượng của các hạt bên trong nguyên tử và trở thành nền tảng của ngành Cơ học lượng tử (Quantum mechanics) giải quyết những bế tắc của Cơ học Neutron. Tuy nhiên, chính Max Planck cũng không nhìn thấy được giá trị to lớn của phương trình này khi phát hiện ra nó. Ông chỉ nghĩ đó là một “mẹo” toán học, không thể là sự biểu diễn của một quy luật phổ quát. Nhưng gần 30 năm sau đó nó đã được chứng minh vững chắc bằng thực nghiệm và được các nhà vật lý xuất sắc khác(**) (Bao gồm: Einstein, Niels Bohr, Louis de Broglie, Erwin Schrödinger, Max Born, Werner Heisenberg.) phát triển tiếp thành Thuyết lượng tử hoàn chỉnh như ngày nay, tạo nên một cuộc cách mạng sâu sắc đến tận gốc rễ ngành vật lý. Thuyết lượng tử không chỉ thay đổi cuộc sống vật chất của chúng ta, mà còn thay đổi nhận thức của nhân loại đối với thế giới.

 “Toán học không chỉ biểu diễn mà còn khám phá ra quy luật như vậy đó.”

21/11

55b(a)_WRoger-Penrose5+-

Nhà toán học Anh Roger Peurose

Còn rất nhiều bằng chứng khác cho thấy các công thức toán dường như được chứa sẵn ở một nơi nào đó và chờ có người khám phá. Nhà toán học Anh Roger Peurose nói thế này: “Tôi tưởng tượng rằng khi trí óc thu nhận một ý tưởng toán học, nó bắt đầu tiếp xúc với thế giới Platon của các khái niệm toán học. Sự liên lạc giữa các nhà toán học với nhau sở dĩ có thể xảy ra là bởi vì mỗi người trong số họ đều trực tiếp tiếp cận với chân lý, và đều cùng tiếp xúc với chính thế giới của các Ý niệm vĩnh cửu… Những chân lý vĩnh cửu này dường như đã tồn tại từ trước trong một thế giới thuần khiết, thanh cao.”(***) (Roger Penrose sinh năm 1931, hiện vẫn đang làm việc tại Đại học Cambridge, Anh. Câu nói này của ông cậu trích ở trang 562, sách “Hỗn độn và hài hòa” của Trịnh Xuân Thuận.) Cụm từ “thế giới của Ý niệm vĩnh cửu” ở trên chính là “Thế giới ý tưởng” mà chúng ta đã đề cập từ đầu đề tài này đến giờ. Rất nhiều nhà toán học, vật lý nổi tiếng khác cũng phát biểu tương tự. Chính họ trải qua những sự phát hiện kỳ diệu nên tin rằng quá trình nghiên cứu của mình chính là tìm cách để tiếp cận với Thế giới ý tưởng.

Cũng có nhiều hiện tượng lạ về cách xuất hiện các ý tưởng toán học khiến người ta càng tin rằng chúng xuất phát từ Thế giới ý tưởng. Những ví dụ sau đây cậu cũng lấy từ cuốn “Hỗn độn và hài hòa” của Trịnh Xuân Thuận, Nhà xuất bản Trẻ – 2013. Nhà toán học Pháp Pierre Fermat (1601 – 1665) viết nguệch ngoạc bên lề một trang sách một định lý. Mãi đến năm 1994 định lý này mới được chứng minh đầy đủ trên hàng trăm trang giấy, và được gọi là Định lý cuối cùng của Fermat. Trường hợp có lẽ đặc biệt nhất là nhà toán học Ấn Độ Srinivasa Ramanujan (1887 – 1920). Ông lớn lên ở vùng quê nghèo Ấn Độ, không được học nhiều nhưng lại đưa ra nhiều kết quả nổi tiếng của toán học chủ yếu bằng trực giác mà không có chứng minh chặt chẽ. Điều ngạc nhiên là những khám phá của ông xảy ra lúc còn ở Ấn Độ, biệt lập với giới khoa học, toán học phương Tây thời đó. Các định lý của ông sau đó đã được chứng minh nhưng vẫn còn những cái chưa chứng minh được. Ông không được đào tạo những phương pháp toán học theo kiểu giáo dục ở Châu Âu nhưng vẫn thể hiện kết quả toán học từ trực giác của mình như những phương pháp đó.

Cậu đề cập đến những hiện tượng lạ để tụi con có thể tin vào một Thế giới ý tưởng chứ không phải muốn phổ biến để tụi con trông chờ vào các phép lạ. Đó là những chuyện rất hiếm hoi, không thể là cách thức hiệu quả cho mọi người. Cách thức hiệu quả chỉ có thể là học và rèn luyện mà thôi. Khi tụi con học toán chính là lúc tụi con tiếp cận đến Thế giới ý tưởng. Nhưng lưu ý rằng việc hiểu rõ một định lý toán học quan trọng hơn rất nhiều việc nắm được các công thức để giải các bài toán. Còn việc học thuộc bài giải hay cách giải là một điều chẳng có mấy bổ ích. Nhưng đây vẫn còn là vấn nạn của giáo dục nước mình đi kèm với vấn đề thi cử. Khi ta học mà không hiểu được bản chất của vấn đề thì ta không thể hiểu được chân lý, tức là không tiếp cận được với Thế giới ý tưởng. Học toán mà không nhằm vào để hiểu bản chất thì quả là khô khan, chẳng hứng thú gì và còn có thể nói là vô nghĩa nữa. “Tích phân, đạo hàm,… chẳng thấy bao giờ xuất hiện trong cuộc sống, tự nhiên bắt học làm gì mất thời gian.” Khi còn đi học cậu đã đặt câu hỏi như vậy nhưng chẳng ai nói được lợi ích của chúng. Cách đây 8 – 10 năm, cậu hỏi nhiều học sinh, sinh viên câu hỏi tương tự. Hầu hết không hiểu vì sao mình phải học toán trừ việc phải thi để có điểm. Nhiều người tốt nghiệp phổ thông trung học mới có một năm mà chẳng còn nhớ gì kiến thức toán phổ thông. (Cậu biết nhiều vì nắm bản chất, suy theo chân lý, lấy ra từ Thế giới ý tưởng). Cảm giác của họ như vứt bỏ được một gánh nặng sau khi thi đậu. Học như vậy thì quả là tai hại, phí phạm thời gian và chỉ phục vụ cho mục đích giáo dục nhồi nhét. Nó không giúp ích cho khả năng phát triển tư duy tự do để nắm bắt chân lý, mà chỉ cố làm cho con người đều nhìn về một hướng trong hang tối của Platon nên rất lờ mờ về Thế giới ý tưởng.

51a-world-of-idea

Chiếc hang Platon

Học toán là phải hiểu được bản chất quan hệ của các đối tượng toán học(****) (Cậu đang trao đổi với dượng tư để viết về đề tài làm sao học toán cho hiệu quả. Có gì cần thì tụi con hỏi dượng Tư trước nha.) Mối tương quan giữa chúng có thể thể hiện bản chất tương tác của các đối tượng trong vũ trụ theo những quy luật nào đó. Do đó, khi hiểu được các định lý, các phương trình toán học, ta sẽ có được khả năng suy luận phù hợp với chân lý. Quy luật là chân lý nhưng chân lý không chỉ là các quy luật, mà còn là rất nhiều những giá trị của sự thật trong vũ trụ, trong cuộc sống mà các nhà khoa học không thể khám phá được hết. Mỗi người cần có khả năng suy luận theo bản chất của chân lý để có thể cảm nhận chân lý theo cách riêng của mình bên cạnh những quy luật được khám phá và phổ biến bởi các nhà khoa học. Toán học là phương tiện hiệu quả nhất để rèn luyện khả năng suy luận theo bản chất của chân lý. Phương tiện này không chỉ dành riêng cho các nhà khoa học, mà dành cho tất cả ai làm bất cứ công việc gì trong bất kỳ lĩnh vực nào muốn xây dựng giá trị của mình từ chân lý. Càng có nhiều người như vậy thì xã hội, thế giới càng tốt đẹp vì chân lý là nền tảng của đạo lý và pháp lý như chúng ta đã phân tích trong Cơ chế xã hội khoa học. Những người xây dựng được giá trị từ chân lý, cho dù những việc họ làm để thỏa mãn đam mê và mục đích của họ, chúng vẫn tạo ra được những kết quả cống hiến cho cộng đồng. Lý do là vì những mục đích đó đều dựa trên các giá trị từ chân lý nên luôn tương tác với những mục đích khác của người khác theo những mối quan hệ của chân lý. Chẳng hạn như các ví dụ dưới đây.

22/11

Nhiều nhà toán học sáng tạo ra các phương pháp toán chỉ toàn xuất phát từ sở thích để thỏa mãn trí não. Họ không hề nghĩ đến đối tượng phục vụ khi sáng tạo nhưng kết quả của họ lại dẫn đến những sự cống hiến to lớn. Paul Dirac không thể hình dung được những ứng dụng kinh hoàng của phương trình Dirac để tạo ra những công nghệ ghê gớm như ngày nay. Khi ông sáng tạo phương trình này, các nhà vật lý vẫn còn chưa nhận ra được những lợi ích cụ thể từ việc nghiên cứu thế giới vi mô. Động lực lớn nhất của họ là phải hiểu được thế giới này. Nhưng rồi thì sự hiểu biết về những cái vô cùng nhỏ lại tạo nên những thành tựu vô cùng lớn cho nhân loại. Đến lượt các nhà phát minh sáng chế, có lẽ ai trong số họ cũng đều có mục đích sáng tạo ra những công nghệ và sản phẩm hữu ích cho con người. Nhưng chỉ có những ai biết dựa vào chân lý thì mới thành công. Dựa vào chân lý trong trường hợp này tức là vừa phải áp dụng các quy luật để tạo ra công nghệ sản xuất, vừa phải nắm bắt được các giá trị từ chân lý của con người để thiết kế sự hữu ích của sản phẩm đáp ứng được các giá trị đó. Dù là khoa học cơ bản hay khoa học công nghệ, đều phải tiếp cận đến chân lý thì mới sáng tạo ra được những điều có giá trị.

2/ Tiếp cận bằng văn học

55b(a)-literary

Toán học là phương tiện hiệu quả nhất để tiếp cận Thế giới ý tưởng, giúp ta rèn luyện khả năng suy luận theo bản chất của chân lý. Nhưng đó không phải là phương tiện duy nhất. Phương tiện thứ hai là văn học. Nhà khoa học Trịnh Xuân Thuận viết thế này trong quyển Hỗn độn và hài hòa: “Hứng thú thẩm mỹ mà một nhà toán học cảm nhận được trong khi làm toán giống một cách kỳ lạ với hứng thú mà một nghệ sĩ cảm nhận được trong khi sáng tạo ra một tác phẩm nghệ thuật. Nó phản ánh cùng một tình cảm hưng phấn do đã đến gần được cái thiêng liêng trong một khoảnh khắc ngắn ngủi và đã vén lên được một mảnh khiêm tốn của Chân lý vĩnh hằng.” Cậu đồng thuận với ông ấy vì chính cậu cũng đã trải nghiệm được những khoảnh khắc như vậy. Đã có những lúc cậu cố gắng sáng tác một bài thơ thì cảm xúc làm thơ lại dẫn cậu ngộ ra một tính quy luật nào đó. Ngược lại, khi sáng ngộ một quy luật lại có thể dẫn cậu đến cảm xúc sáng tác văn học dâng trào. Cũng có lúc cậu đọc được một tác phẩm có giá trị, đưa cậu đến một giá trị từ chân lý mà lâu nay cậu vẫn đang băn khoăn tìm kiếm. Những cống hiến nghệ thuật có giá trị, được thừa nhận rộng rãi thì hầu hết đều chứa đựng những giá trị từ chân lý. Những sáng tác và biểu diễn của văn nghệ sĩ chân chính đều xuất phát từ con tim của họ. Có lẽ chẳng có văn nghệ sĩ nào muốn mình không có khán giả. Nhưng những người thành công thường tâm sự rằng họ không thể tập trung vào khán giả, hàng ngàn hàng triệu người khác nhau. Họ chỉ có thể lắng nghe sự thôi thúc từ bên trong nội tâm của họ và thể hiện theo nó. Họ có nhiều khán giả vì những rung động trong con tim họ đồng điệu với khán giả, tức là có sự chia sẻ chung các giá trị. Chúng ta thường dùng trái tim làm biểu tượng của tình yêu vì cho rằng con tim điều khiển cảm tính, còn khối óc điều khiển lý tính. Nhưng thực ra khối óc điều khiển hết. Các nghiên cứu sinh học hiện đại đang dần hé lộ các cơ chế thu nhận và xử lý thông tin cảm tính và lý tính của não. Nhưng chắc vẫn còn rất xa khoa học mới hiểu đầy đủ về các cơ chế này. Tuy nhiên, rất nhiều nhà khoa học hàng đầu đều tin rằng để tiếp cận được chân lý thì không phải chỉ có suy lý (suy luận lý tính) thuần túy mà còn có trực giác. Trực giác là khả năng cảm nhận trực tiếp không thông qua suy luận. Tiếng Anh trực giác là intuition, có gốc từ tuition là sự học hỏi, intuition là không qua học hỏi. Trực giác là cảm tính.

23/11

Một trong những sự phát hiện chân lý vĩ đại bằng cảm tính là câu chuyện của Michael Faraday (1791 – 1867) tìm ra quan hệ giữa từ và điện. Trước ông, các nhà vật lý đã phát hiện ra dòng điện sinh ra từ trường nhưng không chứng minh được sự tồn tại ngược lại: từ trường sinh ra dòng điện. Có rất nhiều giả thuyết sai được lập ra khẳng định từ trường không thể sinh ra dòng điện. Các giả thuyết này lại phổ biến trong giới hàn lâm. May mắn cho Faraday, do nhà nghèo nên không được học tử tế, vì vậy không bị ảnh hưởng gì bởi định kiến của giới hàn lâm. Hoàn toàn bằng trực giác, không thông qua sách vở, ông tin rằng nếu từ sinh ra điện thì cũng phải ngược lại. Trực giác đã dẫn dắt ông đến những thí nghiệm và cuối cùng ông đã tìm ra cách thức tạo nên dòng điện chạy trong một khung dây chuyển động giữa từ trường nam châm. Phát minh của ông đã dẫn đến máy phát điện và động cơ điện rất hữu dụng cho con người. Nhưng nó còn dẫn đến một phát hiện vĩ đại hơn nữa sau đó là Lý thuyết trường điện từ. Faraday là một nhà vật lý thực nghiệm. Vì không được học bài bản nên ông không có đủ kiến thức toán để xây dựng quan hệ điện từ thành một lý thuyết hoàn chỉnh. Ông tin tồn tại một trường lực từ các thí nghiệm của mình nhưng không thể phương trình hóa nó để tính toán. Một con người vĩ đại khác đã giúp ông làm việc đó – James Clerk Maxwell (1831 – 1879). Maxwell tin vào trực giác về trường lực của Faraday và sử dụng tài năng toán học siêu việt của mình phát triển ý tưởng này thành 4 phương trình nền tảng cho Lý thuyết trường điện từ, thể hiện rõ mối quan hệ giữa điện và từ và tính toán được độ lớn của chúng. Đây là một trong những công trình vĩ đại nhất trong vật lý, chỉ bằng giấy viết và suy luận chân lý bằng toán học. Những sự liên lạc không dây như TV, điện thoại đều dựa trên Lý thuyết này.

Còn nhiều minh chứng khác để người ta tin chắc rằng trực giác / cảm tính cũng có thể tiếp cận được chân lý. Nếu toán học là phương tiện lý tính hiệu quả nhất để tiếp cận Thế giới ý tưởng, thì văn học là phương tiện cảm tính hiệu quả để tiếp cận Thế giới này. Vì cảm tính là sự cảm nhận bằng cảm xúc, mà văn học là cách thức nuôi dưỡng và phát triển cảm xúc tốt nhất. Nếu toán học là nền tảng suy luận của các ngành khoa học vật lý, hóa học, sinh học, thiên văn,… thì văn học là nền tảng giá trị của các môn nghệ thuật thơ, văn, hội họa, nhạc, kịch, phim,… Toán học thường giúp ta thể hiện, chứng minh các quy luật. Văn học thường giúp ta phát hiện và khẳng định các giá trị của sự thật trong vũ trụ, trong cuộc sống. Cả hai – các quy luật và giá trị này – đều là chân lý được lưu giữ trong Thế giới ý tưởng. Tiếp cận được Thế giới này ta sẽ có được nhiều ý tưởng để sáng tạo nên những điều có giá trị cho nhân loại. Ý tưởng không chỉ xuất phát từ Thế giới ý tưởng nhưng những ý tưởng từ nó chứa đựng những quan hệ của chân lý nên chúng có khả năng tạo nên những giá trị to lớn cho nhân loại, hơn là những ý tưởng khác, như chúng ta đã phân tích ở trang 8.

Vấn đề đặt ra là: học văn hoặc sử dụng văn học như thế nào thì mới giúp ta có được, xây dựng được các giá trị từ chân lý. Đề tài này quá rộng, nó vượt quá khả năng của cậu và khuôn khổ của các bức thư. Tuy nhiên cậu sẽ cố gắng truyền đạt những kinh nghiệm của cậu để lưu ý những điều cơ bản và để tụi con tránh được những sai lầm tai hại. Điều cơ bản đầu tiên chính là phải giữ được sự cân bằng giữa cảm tính và lý tính như cậu đã đề cập vài lần. Quá lệch về cảm tính hoặc lý tính đều không tốt. Tụi con tìm đọc lại. Thư sau cậu sẽ tiếp tục, chỉ cách để giữ sự cân bằng. Đề tài Sáng tạo và Canh tân còn dài, chúng ta chỉ mới nói đến phần ý tưởng thôi. Từ ý tưởng đến sáng tạo rồi đến canh tân còn nhiều chặng đường vất cả

Thương tụi con.

 

 

This entry was posted in Thư Xuyên Mộc and tagged , , , , , , , , , , , , , , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s