Sáng tạo và canh tân (P3)- Xây dựng quốc gia sáng tạo (Thư 57A)

57A-wpcover

Xuyên Mộc, 8/12/2015

Các con, cháu thương! Chúng ta tiếp thư 55A về Sáng tạo và Canh tân.

I/ LỢI ÍCH QUỐC GIA PHẢI ĐƯỢC ĐẶT LÊN HÀNG ĐẦU

Cuối thư đó ta đã phân tích rằng: “Phải bảo đảm quyền tự do là việc làm trước tiên và trên hết trên con đường xây dựng một quốc gia sáng tạo”. Còn nhiều việc khác phải làm để nuôi dưỡng năng lực sáng tạo của một đất nước, nhưng nếu không bảo đảm quyền tự do thì những việc này luôn thiếu hiệu quả hay thất bại. Hơn nữa, một môi trường tự do sẽ luôn bảo đảm cho sự tìm ra các giải pháp hiệu quả, ít tốn kém không chỉ trong việc nuôi dưỡng sáng tạo mà còn giúp điều chỉnh những sai lầm có thể dẫn đến sụp đổ. Có lẽ ít đứa biết rằng khi lập quốc, Israel đã từng đi theo mô hình Kinh tế xã hội chủ nghĩa gần 20 năm. Đây là điều khá bình thường vào bối cảnh lịch sử thời đó. Sự thành công của Liên Xô không chỉ gây ảnh hưởng chính trị mà còn truyền cảm hứng lớn cho phong trào giành độc lập khắp nơi trên thế giới sau Thế chiến II. Lý lẽ của những người nhìn xa trông rộng nói về sự thiếu bền vững của mô hình phát triển LX không đủ sức gây chú ý, nhất là sau sự kiện năm 1957 LX phóng thành công tàu vũ trụ Spunik 1 lên không gian – lần đầu tiên trên thế giới. Nền kinh tế LX và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu vẫn tăng trưởng nhanh cho đến cuối những năm 1960 thì gặp khủng hoảng. Họ không thể tự điều chỉnh rồi cuối cùng dẫn đến sụp đổ hoàn toàn vào 20 năm sau đó – cuối thập niên 1980 và năm 1991, LX tan rã. Nhưng Israel chỉ giống mô hình Xã hội chủ nghĩa 20 năm đầu sau lập quốc (năm 1948). Thời kỳ này họ tăng trưởng kinh khủng, còn nhanh hơn LX và Đông Âu. Dữ liệu sau đây cậu lấy từ quyển Quốc gia khởi nghiệp: “Từ 1950 – 1955 GDP tăng 13% / năm. Thập niên 1960 tăng 10% / năm. Suốt giai đoạn này thành phần Kinh tế tư nhân không được khuyến khích, mà còn bị xem như thù địch. Kinh tế nhà nước chi phối, chính phủ can thiệp sâu và đầu tư hạ tầng mạnh mẽ. Nhưng cũng vì vậy mà thất thoát, lãng phí, tham nhũng tràn lan, dẫn đến nợ công tăng cao, kinh tế bão hòa. Mô hình phát triển xã hội chủ nghĩa rơi vào bế tắc nghiêm trọng”. Nhưng Israel khác Liên Xô và Đông Âu. Họ nhanh chóng nhận ra sai lầm và điều chỉnh những gì không phù hợp. Ngay từ năm 1966 họ đã nhận ra sự mất động lực cá nhân vì mô hình Kinh tế xã hội chủ nghĩa. Sự hứa hẹn về những điều kiện lý tưởng, vốn đã tạo nên nguồn động lực cá nhân khổng lồ giúp tăng trưởng chóng mặt giai đoạn đầu, đã không thành hiện thực. Điều này bào mòn động lực và niềm tin của người dân còn nhanh hơn sự tăng trưởng chóng mặt trước đó. Trong khi LX và Đông Âu dùng quyền lực và nhà tù để cưỡng ép, hy vọng lấy lại được động lực đã mất thì Israel đã thực sự lấy lại được động lực phát triển nhờ chuyển sang trông cậy nền kinh tế vào tư nhân từ cuối thập niên 1960. Nhờ vậy, dù phải trải qua một “thập kỷ mất mát” do hậu quả của mô hình Xã hội chủ nghĩa và cuộc chiến Yom Kippur (1973) (Yom Kippur là tên một ngày lễ quan trọng của người Do Thái. Đúng vào lễ này năm 1973 (rơi vào 6/10) nhiều nước Ả Rập trong đó có Ai Cập, Syria bất ngờ tấn công Israel) nhưng Israel đã phát triển lành mạnh cả về kinh tế, xã hội, văn hóa… từ đầu những năm 1980 đến tận bây giờ. Có ý kiến cho rằng vì người Do Thái thông minh, họ khôn hơn người LX và Đông Âu nên mới tránh được khủng hoảng và sụp đổ. Nhưng cậu thấy nguyên nhân này không thuyết phục, khoảng một nửa dân số Israel được hình thành từ những người nhập cư vốn là công dân của các nước thuộc LX và Đông Âu. Có một người nhập cư từ LX tên Natan Sharansky trở thành Phó thủ tướng Israel chỉ vài năm sau khi đặt chân đến Israel. Sau khi LX sụp đổ 1991, có hàng trăm ngàn người Nga gốc Do Thái nhập cư vào Israel và đã góp phần quan trọng tạo nên nền kinh tế sáng tạo của nước này.

Chính thể chế chính trị bảo đảm tự do của Israel mới là sự khác biệt cốt lõi với LX, Đông Âu và nhiều thể chế thất bại khác. Nó bảo đảm cho người dân chỉ trích và buộc giới cầm quyền phải theo lẽ phải. Nó tạo nên một nền dân chủ giúp xã hội nhận ra lẽ phải và không trao quyền độc tôn lẽ phải cho bất kỳ cá nhân hay đảng phái nào. ĐCS Liên Xô tiếm quyền của Nhà nước, giành quyền của nhân dân để tự bảo đảm quyền độc tôn lẽ phải cho mình, biến mọi quan điểm của mình thành chân lý tuyệt đối. Nhận ra những vấn đề của mô hình xã hội chủ nghĩa không phải là khó khi khủng hoảng bắt đầu xảy ra. Nhưng nhận thức này không bao giờ được ĐCSLX chấp nhận vì điều đó đồng nghĩa với tự phủ định quan điểm độc tôn của mình. Trong khi đó ở Israel thì khá dễ dàng thừa nhận sai lầm và thay đổi vì lợi ích đất nước, đảng cầm quyền không thay đổi theo lẽ phải của dân thì sẽ bị dân thay thế. Vì vậy họ luôn có khả năng tự điều chỉnh và tiếp tục phát triển. Họ luôn tận dụng được những xu thế mạnh trên thế giới để làm lợi cho quốc gia mình.

הועידה ה- 11 של המפלגה הקומוניסטית הישראלית

Một áp phích cổ động Israel thời cộng sản

II/ NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN CỦA MỘT QUỐC GIA SÁNG TẠO

9/12

1/ Không thể có các tổ chức hay quốc gia sáng tạo nếu không có những cá nhân sáng tạo.

Năng lực tổ chức sáng tạo là quan trọng và quyết định hiệu quả của các chương trình cách tân của các doanh nghiệp. Nhưng các lãnh đạo doanh nghiệp không thể cách tân thành công nếu họ không tuyển dụng được những cá nhân sáng tạo. Trách nhiệm của quốc gia nói chung, mà cụ thể là của các thể chế nhà nước, là tạo điều kiện nuôi dưỡng sự phát triển của các cá nhân sáng tạo. Doanh nghiệp không thể đảm nhận trách nhiệm này, cũng chẳng muốn đảm nhận. Trong thời đại toàn cầu hóa, các doanh nghiệp sẽ lựa chọn quốc gia nào có nguồn nhân lực sáng tạo dồi giàu và sự hỗ trợ sáng tạo để đầu tư kinh doanh sáng tạo. Nhiều chính phủ sai lầm cho rằng chỉ cần tạo điều kiện về thuế, đất, thủ tục… thì sẽ thu hút các doanh nghiệp; rồi các doanh nghiệp sẽ thúc đầy phát triển nguồn nhân lực. Thực tế cho thấy sự thu hút này chỉ tạo nên các ngành công nghiệp giá rẻ, năng suất thấp và không có hàm lượng sáng tạo nên giá trị gia tăng rất thấp. Các nhà đầu tư này chỉ khai thác nguồn nhân lực giá rẻ vì thiếu khả năng sáng tạo trên khắp thế giới. TQ đang phải trả giá đắt cho chính sách thu hút đầu tư kiểu này, không chỉ là thực trạng của một nền kinh tế kém sáng tạo mà còn là sự ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đã tích tụ đủ thời gian để tạo nên những sự phát hủy kinh tế, xã hội, sức khỏe nặng nề. VTV hôm qua đưa tin Bắc Kinh phải báo động đỏ về ô nhiễm không khí, còn các vùng miền Bắc và miền Trung TQ cũng đã ô nhiễm rất nghiêm trọng rồi. Đây là cái giá phải trả do sự vay mượn tương lai để tăng trưởng như cậu đã cảnh báo nhiều lần. TQ không thể vượt qua được vấn đề môi trường lẫn những thách thức cho tăng trưởng bền vững nếu không chuyển đổi nhanh chóng và thành công sang một nền kinh tế dựa trên Sáng tạo. Nhưng điều này không thể xảy ra trước khi người dân TQ có được đầy đủ quyền tự do. Một vài hiện tượng như Alibaba hay các công ty công nghệ được chính quyền TQ hỗ trợ đặc biệt không thể tạo nên một nền kinh tế sáng tạo của 1,4 tỷ dân. Nguy cơ các chuyên gia sáng tạo của các công ty này đi khỏi TQ để đến những quốc gia trong sạch, tự do đang sắp trở thành một làn sóng. Khi họ đã thành công, có điều kiện và được nhiều nước khác ưu đãi thì sẽ không còn nhiều người chấp nhận ở lại để đe dọa đến sức khỏe gia đình mình và tương lai con cái. Con đường đến tự do của TQ đang còn mờ mịt trong khi hậu quả của hủy hoại môi trường thì lại đang “sáng tỏ” và nhanh chóng. Quả là bài toán quá khó.

Sự nuôi dưỡng sáng tạo ở tầm quốc gia quyết định thành công cho sự nuôi dưỡng sáng tạo của cá nhân và của tổ chức. Quốc gia cần ưu tiên và tập trung nuôi dưỡng sáng tạo cho cá nhân. Năng lực sáng tạo của tổ chức, nhất là các doanh nghiệp được hình thành chủ yếu từ quyền tự do của các cá nhân hợp lại. Các quốc gia dẫn đầu về sáng tạo như Mỹ và Israel là những nơi chủ nghĩa cá nhân phát triển mạnh bậc nhất thế giới. Nhưng điều này không đồng nghĩa rằng sự phát triển của họ là nhỏ lẻ hoặc gây thiệt hại cho cộng đồng. Mà ngược lại, họ có những doanh nghiệp khổng lồ dẫn đầu thế giới và tạo ra lợi ích cho con người không chỉ trong nước họ mà trên toàn cầu. Như ta đã phân tích trong đề tài Cơ chế Xã hội khoa học và Nhà nước pháp quyền, khi các cá nhân được vận động tự do thì Quy luật phát triển xã hội sẽ tự động gắn kết họ đáp ứng lợi ích cho nhau. Cậu đọc trong quyển Phương thức Samsung (The Samsung way) (Bản dịch tiếng Việt: “Đế chế công nghệ và phương thức Samsung” – Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân – 2014), tập đoàn này chỉ trở thành doanh nghiệp sáng tạo từ sau năm 1988, thời điểm Lee Kun Hee tiếp quản vị trí Chủ tịch từ cha mình và chuyển từ quan điểm “ưu tiên coi trọng nhân tài” sang “Tôn trọng con người”. Samsung được thành lập từ 1938, đến 1988 đã trở thành một tập đoàn khổng lồ của Hàn Quốc, nhưng chỉ về số lượng chứ không phải chất lượng. Lúc đó với thế giới công nghệ cao, Samsung chỉ là một gã to xác. Suốt 50 năm đầu, người sáng lập – ông Lee Byung Cheol phát triển Samsung bằng tinh thần “kinh doanh làm giàu cho tổ quốc”. Điều này tạo nên được sự ủng hộ của xã hội lẫn của Chính phủ giúp doanh nghiệp phát triển mạnh, nhưng đồng thời cũng tạo ra sự chèn ép tinh thần cá nhân của người lao động, khiến họ có ít sự lựa chọn để tự do sáng tạo. Hình ảnh của Samsung cũng chính là hình ảnh của cả nền chính trị – kinh tế – xã hội Hàn Quốc trong những thập niên từ 1960 đến 1990. Hầu hết nền kinh tế bị chi phối bởi các Cheabol được Chính phủ ủng hộ và tài trợ. Chính phủ HQ thời đó không ưu tiên cho cá nhân mà tập trung cho các Chaebol để họ tạo việc làm và hỗ trợ cho cá nhân. Điều này dường như phù hợp với văn hóa mệnh lệnh từ trên xuống của người Hàn nên đã tạo ra được đồng thuận xã hội để phát triển. Trong môi trường này, người lao động ít có lựa chọn nào tốt hơn ngoài các Chaebol vốn có văn hóa doanh nghiệp và phương thức quản lý na ná nhau. Sự tự do cá nhân vì thế mà cũng tất nhiên bị hạn chế (Điều này đã dẫn đến những cuộc biểu tình đẫm máu của giới trẻ sinh viên kéo dài cả chục năm, chống lại các chính phủ độc tài ở Hàn Quốc vào thập niên 1970 – 1980). Các Chaebol dù rất muốn và cố gắng phát triển sáng tạo nhưng văn hóa mệnh lệnh không thể vượt qua được quy luật. Kết quả cao nhất mà các Chaebol hùng mạnh nhất đạt được cũng chỉ là sự sao chép cao cấp, kể cả trong lĩnh vực sản xuất xe hơi của Hyundai hay điện tử của Samsung. Ngày nay Samsung đã trở thành doanh nghiệp sáng tạo mang tầm toàn cầu là nhờ Lee Kun Hee đã thúc đẩy vai trò cá nhân lên cao hơn trong doanh nghiệp. Giảm bớt chi phối của các Chaebol và tăng cơ hội hơn cho cá nhân là vấn đề lớn hiện nay mà nền kinh tế HQ cần giải quyết tốt để tiếp tục phát triển. Nhưng đã 2 đời tổng thống rồi mà nước này vẫn chưa thực hiện được dù cậu vẫn nghe những cam kết của họ như vậy khi tranh cử. Chủ nghĩa cá nhân trước đây không được đạo lý xã hội HQ ủng hộ ra mặt thì gần đây, khoảng 10 năm trở lại, được ca ngợi rất nhiều. Nhìn HQ như vậy nhưng họ còn rất nhiều việc phải làm để đạt tới trình độ văn minh QCN mà ở đó từng cá nhân phải được tôn trọng và bảo vệ trên và hơn các tổ chức.

10/12

2/Chủ nghĩa cá nhân đối với sự sáng tạo

57A-personalism

Nhu cầu khẳng định cá nhân là động lực xã hội

Chủ nghĩa cá nhân phát triển ở Israel từ ngay ngày đầu lập quốc. Cậu không cho rằng nguyên nhân của nó chính yếu từ văn hóa vì quốc gia này được thành lập từ những người nhập cư đến từ 70 nước với hàng trăm nền văn hóa khác nhau. Dù hầu hết họ theo Đạo Do Thái nhưng Đạo này cũng chẳng khuyến khích chủ nghĩa cá nhân. Hai yếu tố chính giúp hình thành và phát triển nhanh chủ nghĩa cá nhân là thể chế chính trị bảo đảm QCN và tính tôn giáo mở của Đạo Do Thái mà ta đã đề cập thư 55B. Yếu tố thứ hai được hình thành trong thời gian vong quốc, còn yếu tố đầu được thiết lập ngay khi lập quốc. Ngày nay Israel được đánh giá cao về một chủ nghĩa cá nhân phát triển quân bình và mềm mỏng (theo quyển Quốc gia khởi nghiệp), tức là cân bằng và hài hòa được lợi ích cá nhân và cộng đồng. Chính sự tự do khẳng định cá nhân đã tạo nên vô số các doanh nghiệp sáng tạo thành công ở bất kỳ quy mô nào: nhỏ, vừa, lớn ở Israel. Người lao động có rất nhiều và tự do lựa chọn, hoặc là tự mình sáng chế; đăng ký rồi bán bản quyền, hoặc là tự khởi nghiệp để kinh doanh sáng chế của mình, hoặc là tham gia vào các công ty để làm thuê và được trả lương hậu hĩnh nhờ năng lực sáng tạo, … Dù là lựa chọn nào thì họ cũng không khó để tìm được những trợ giúp cần thiết, từ vốn đến tư vấn đến cả kết nối quan hệ. Cuốn Quốc gia khởi nghiệp kể một câu chuyện về Tổng thống Israel Shimon Peres sẵn sàng chấp nhận nguy cơ bị mất danh dự để giới thiệu một doanh nhân trẻ khởi nghiệp của nước mình với các hãng xe hơi hàng đầu thế giới, giúp anh chàng này triển khai ý tưởng xe hơi chạy điện. Có 3 hãng đã từ chối, 1 hãng gặp nhưng chê ý tưởng. Cuối cùng RenauH – Nissan ủng hộ ý tưởng này và Israel có một ngành công nghiệp, dịch vụ mới giảm gây ô nhiễm môi trường, giúp chống biến đổi khí hậu và giảm nguy cơ khủng bố. Agassi – doanh nhân trẻ nói trên vốn xuất thân từ ngành CNTT đã nung nấu ý tưởng xe hơi điện từ một trong những động lực chính là giảm phụ thuộc vào dầu hỏa, tức là giảm đi nguồn cung tiền cho khủng bố. Quan điểm cho rằng cá nhân phát triển lợi ích thì gây tổn hại cho lợi ích cộng đồng là một định kiến giáo điều và sai lầm. Nó thường là luận điểm của những người muốn bảo vệ lợi ích riêng của mình được che giấu dưới danh nghĩa lợi ích cộng đồng. Vì vậy mà nó chỉ đúng cho họ – những người không muốn xã hội vận động tự do để các cá nhân tài giỏi có thể lấn át họ. Câu chuyện mới đây Zukerberg của Facebook theo chân Bill Gates, Waren Buffet hiến 99% tài sản trị giá 45 tỷ USD cho từ thiện là một minh chứng của giá trị lớn cá nhân tạo ra cho cộng đồng trong một xã hội vận động tự do. Không cần đến khoản từ thiện này, chỉ riêng mạng FB cũng đã là một đóng góp quá lớn cho cộng đồng rồi, không chỉ của Mỹ mà cả thế giới. Chủ nghĩa cá nhân hỗ trợ quốc gia sáng tạo(1) (Xem chú thích cuối thư).

3/ Đất lành chim đậu

Bài học của những nước đi sau như Mỹ và Israel khẳng định rằng một chính sách nhập cư tốt là cách nuôi dưỡng sáng tạo cho quốc gia rất hiệu quả. Muốn vậy thì nền chính trị phải bảo đảm tự do, quan điểm xã hội phải cởi mở

 

57A-stevejob-immigrant

Steve Job – người sáng lập hãng Apple sinh trưởng trong một gia đình người nhập cư

Người Israel đi sau nhưng luôn biết học hỏi những cái hay nhất của thế giới, hoặc có lợi nhất vào một thời đoạn nào đó như mô hình xã hội chủ nghĩa, để đưa quốc gia non trẻ vượt lên và vượt qua được những nguy cơ hủy diệt đất nước. Họ đã học và còn làm tốt hơn người Mỹ không chỉ chủ nghĩa cá nhân mà còn về chính sách nhập cư. Người nhập cư cung cấp nguồn nhân lực cho sáng tạo thuộc hàng quan trọng nhất ở Mỹ. Nổi tiếng nhất có lẽ là Albert Einstein. Steve Jobs là con đẻ của người nhập cư từ Syria được một gia đình Mỹ nhận nuôi. Sergey Brin (Google) là người gốc Do Thái, sinh ra lớn lên ở Nga và nhập cư vào Mỹ. Không thể kể hết những trường hợp nhập cư nổi tiếng. Nhưng không chỉ có vậy, người nhập cư còn là một nguồn lao động có tinh thần làm việc và vươn lên rất cao. Chính tinh thần đó thách thức và thay đổi sự ỷ lại của những người định cư lâu đời, làm cho nguồn nhân lực quốc gia tiến bộ. Tạo điều kiện cho người tài năng và nhiệt huyết nhập cư là một trụ cột quan trọng trong công thức thành công của nước Mỹ từ thời lập quốc cho đến tận ngày nay. Nhân tài, thiên tài luôn hiếm, không dễ có dù có đầu tư nhiều tiền. Vai trò tối quan trọng của họ đối với sự phát triển xã hội của các quốc gia nói riêng và của nhân loại nói chung thì không phải bàn. Đóng góp của họ thường là những sáng tạo đột phá trong mọi lĩnh vực: khoa học; nghệ thuật; kinh tế; chính trị; văn hóa; giáo dục …, tạo nên những bước chuyển lịch sử làm cho điều kiện sống của con người tốt hơn. Tạo điều kiện để nhân tài từ khắp nơi trên thế giới đến với mình là một chính sách khôn ngoan bậc nhất của quốc gia. Trong khi các thực dân Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan tập trung tranh chấp thuộc địa và tài nguyên thì nước Mỹ non trẻ tập trung tranh chấp nhân tài với các cường quốc châu Âu này. Chính sách cạnh tranh này làm nước Mỹ cởi mở hơn, ngày càng dung hợp. Nó không chỉ giúp Mỹ thu hút được nhân tài mà còn làm cho quốc gia đa chủng tộc này nhanh chóng hình thành và hoàn thiện các thể chế dung hợp (inclusive institution)(2) (Xem chú thích cuối thư), ngày càng vượt xa Vương quốc Anh – nơi ra đời thể chế dung hợp đầu tiên trên thế giới. Nhờ vậy QCN ở Mỹ ngày càng được bảo đảm, giúp họ vượt lên Anh rồi bỏ xa cả châu Âu. Hiện giờ, chính sách nhập cư ở Mỹ đang bị thách thức bởi đảng Cộng hòa đại diện cho quan điểm bảo thủ của các cử tri không ủng hộ người nhập cư, chủ yếu là vì không muốn họ thách thức sự ỷ lại và sức ỳ của mình.

 

11/12

Theo cuốn Quốc gia khởi nghiệp, ở Israel mà công bố số lượng nhập cư năm nay giảm thì đây sẽ là một tin xấu giống như lượng mưa hàng năm bị ít đi vậy. Chính phủ đương nhiệm sẽ phải đối mặt với những chỉ trích của cử tri và phải đưa ra giải pháp khắc phục nhanh chóng. Bài học của những nước đi sau như Mỹ và Israel khẳng định rằng một chính sách nhập cư tốt là cách nuôi dưỡng sáng tạo cho quốc gia rất hiệu quả. Muốn vậy thì nền chính trị phải bảo đảm tự do, quan điểm xã hội phải cởi mở. Đây chính là những yếu tố tạo nên một thể chế dung hợp. Ta vừa đề cập đến hai yếu tố pháp lý và đạo lý.

  • Đảm bảo pháp lý 

Đạo lý xã hội Anh thế kỷ 15, 16 cởi mở hơn châu Âu vốn bị khống chế nặng nề bởi chủ nghĩa thần quyền. Vì vậy nước Anh đã vượt trước phần còn lại của châu Âu từ thế kỷ 17. Mãi đến thế kỷ 19 Pháp, Phổ (Đức ngày nay), Hà Lan mới đuổi gần kịp Anh lúc đó đã là Siêu cường thế giới. Trong thời gian này thì Mỹ tăng tốc nhờ sự cởi mở của đạo lý lẫn pháp lý. Những người di cư vào Bắc Mỹ bỏ lại châu Âu các định kiến về giai cấp; đẳng cấp, về sự tôn ti trật tự giáo điều hình thành qua cả ngàn năm, về những cấu kết bè phái; ý thức hệ; tôn giáo và những niềm tin phản chân lý, v.v… Nhờ vậy họ mới tránh được cách thức tước đoạt người bản địa của các thể chế chiếm đoạt (exclusive institution) (hoặc extractive institution theo cách gọi của quyển: “Vì sao các quốc gia thất bại” (Why Nations fail) – Nhà xuất bản Trẻ 2013. (Xem thêm chú thích (2) cuối thư) do các thực dân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha thiết lập nên tại các thuộc địa Nam Mỹ từ đầu thế kỷ 16 (sau cuộc thám hiểm nổi tiếng của Columbus năm 1492). Những người Anh đầu tiên đặt chân đến Bắc Mỹ để lập thuộc địa được ghi nhận vào đầu thế kỷ 17 (1670). Sau vài năm thất bại vì học theo cách thức tước đoạt của Tây Ban Nha, họ nhận ra phải thay đổi cách thức sáng tạo động lực. Lực lượng viễn chinh ký hợp đồng giao đất, thỏa thuận ăn chia sản phẩm với không chỉ những người nhập cư mà cả với những người bản địa (Điều này có liên quan đến nhân vật nam chính trong bộ phim hoạt hình đình đám(3) “Pocahontas”, chắc không đứa nào chưa xem. Coi thêm chú thích cuối thư). Mô hình này khuyến khích động lực sản xuất mạnh mẽ, phân chia thành quả hợp lý. Nhờ vậy mà kinh tế vùng thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ phát triển nhanh và bền vững, vượt qua các vùng thuộc địa của Tây Ban Nha ở Mỹ La Tinh dù bắt đầu sau 100 năm. Đến 1619, những người nhập cư Anh đã thành lập cơ quan lập pháp thuộc địa để bảo vệ quyền lợi của mình và người bản xứ trước chính quyền thực dân của vua Anh. Điều này dẫn tới sự hình thành nên các thể chế dung hợp cả về kinh tế lẫn chính trị, bảo đảm những cơ hội và sự phân phối lao động công bằng hơn, tương hỗ hơn cho dân chúng thuộc địa. Đây chính là những mầm mống khởi đầu cho nền độc lập Mỹ được chính thức tuyên bố vào năm 1776, dẫn đến sự ra đời Nhà nước pháp quyền cộng hòa đầu tiên trên thế giới, chính là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ngày nay. Sự cởi mở đạo lý được hỗ trợ sự cởi mở của pháp lý và ngược lại, cứ như vậy tạo nên một hiệu ứng tác động qua lại đẩy xã hội tiến đến công lý. Một xã hội có công lý được bảo vệ thì mới có chân lý để sáng tạo. Chân lý hỗ trợ cho sáng tạo thì chúng ta đã bàn từ đầu đề tài này. Pháp lý hỗ trợ sáng tạo chính là bảo đảm quyền tự do mà ta vừa đề cập. Còn đạo lý thì hỗ trợ cho sáng tạo như thế nào? Ta sẽ xem xét dưới đây.

  • Cởi mở đạo lý 

12/12

Đầu tiên là hỗ trợ gián tiếp: đạo lý cởi mở sẽ thúc đẩy pháp lý cởi mở làm xã hội vận động tự do hơn. Và hỗ trợ trực tiếp: đạo lý cởi mở thì xã hội dễ dàng chấp nhận các ý tưởng mới hơn, sáng tạo mới dễ dàng thành hiện thực. Ý tưởng của John Smith đã không thể phát triển thành một chính sách thuộc địa dung hợp nếu công ty Virginia bám giữ định kiến “thành công” bằng tước đoạt của thực dân Tây Ban Nha và định kiến về sự thượng đẳng của đẳng cấp da trắng có quyền tước đoạt màu da khác. Ở những xã hội định kiến nặng, nhiều ý tưởng sáng tạo giá trị bị ngăn cản không phải bởi chính quyền mà bởi dư luận. Bản tính của đa số con người là đáp ứng chậm với những thay đổi. Hầu hết sẽ nói không với những cái mới vào lúc ban đầu. Các cá nhân dám tiên phong sáng tạo luôn là thiểu số nhỏ trong xã hội nên họ sẽ không bao giờ làm ý tưởng của mình thành công nếu xét về mặt số đông dư luận. Đạo lý một xã hội cởi mở thì dư luận sẽ thận trọng hơn khi phán xét những ý tưởng mới, con người sẽ cố gắng hiểu về nó trước khi nói về nó. Nhưng lưu ý là đòi hỏi này phải là kết quả đạt được bởi sự vận động tự do của xã hội chứ không phải bằng sự chuyên chế độc đoán. Nhiều chính quyền chống lại sự thiếu thận trọng của dư luận bằng cách áp chế, trừng phạt. Các biện pháp này là kẻ thù của sự cởi mở xã hội. John Stuart Mill viết trong Bàn về tự do: “Không phải sự đụng độ, mà chính sự lặng lẽ dập tắt một nửa chân lý mới là điều xấu xa kinh khủng. Khi con người còn buộc phải lắng nghe hai phía thì còn hy vọng”. Mill viết quyển sách này vào năm 1859, giai đoạn mà nước Anh có nguy cơ bị Pháp, Phổ vượt qua vì những sự trì trệ tạo ra do định kiến phát triển trong xã hội. Ông viết: “Do hoàn cảnh lịch sử đặc thù mà ở Anh, ách dư luận nặng nề hơn ách luật pháp”; “Sự chuyên chế của đa số là điều xấu xa xã hội cần chống lại. Nó dựa trên sự sợ hãi, chủ yếu vận hành qua các hành động của công quyền”; và “Bảo hộ chống lại sự chuyên chế của quan cai trị là không đủ mà còn chống lại sự chuyên chế của ý kiến và cảm xúc đang thịnh hành”. Giải pháp Mill đưa ra vẫn là bảo đảm quyền tự do cá nhân. Điều này là thiết yếu như ta đã bàn nhiều, nhưng vẫn chưa đủ để đạo lý xã hội cởi mở dễ chấp nhận cái mới. Cần có những nhân tố để thúc đẩy cái mới đối với dư luận. John Stuart Mill chính là một nhân tố như vậy. Thomas Friedman, tác giả Thế giới phẳng cũng thế, luôn vận động không mệt mỏi cho những ý tưởng sáng tạo; những mô hình phát triển mới…

4/ Vai trò của các “Muckraker” – nhà báo sáng tạo

Hãy trở lại nước Anh vào giữa thế kỷ 19, thời gian Mill xuất bản cuốn Bàn về tự do. Lúc đó Anh đang là siêu cường và dẫn đầu Cuộc Cách mạng công nghiệp. Đó là thành quả nhờ sự vận động của xã hội Anh tự do hơn các xã hội còn lại ở Châu Âu. Nhưng bao giờ cũng vậy, khi người ta đạt được thành công và ở đỉnh cao thì luôn tự mãn, ỷ lại và cả kiêu căng. Những người như vậy đang có sức mạnh và hướng đến bảo thủ để bảo vệ thành công của mình. Họ có thể liên kết lại với nhau hoặc cấu kết với giới nắm quyền lực để chống lại những sự đổi mới đe dọa đến họ cho dù họ từng là những người đổi mới để thành công đi nữa. Đây là tình trạng không thể tránh khỏi trong quá trình phát triển của bất kỳ xã hội nào vì nó là sự thể hiện của loại tính cách phổ biến của đa số con người. Nước Anh vì vậy mà bị rơi vào tình trạng trì trệ như mô tả của Mill ở trên. Nếu không có những người như ông ấy thì những thành công quá khứ đã mau chóng trở thành định kiến hủy hoại sự cởi mở của xã hội Anh, tiếp theo là sự thất bại. Nước Mỹ cũng vậy thôi. Cậu đã nhiều lần phân tích về sự suy thoái của họ từ đỉnh cao của thành công sau Chiến tranh lạnh. Nhưng họ vẫn có nhiều người như Thomas Friedman nên những quan điểm bảo thủ trì trệ đã không đủ sức để nhấn chìm nước Mỹ. Họ là những người không trực tiếp tạo ra các sản phẩm sáng tạo, nhưng tạo nên dư luận tích cực ủng hộ cho sáng tạo, đổi mới, đặc biệt là những cái có tính phá hủy. Trong kinh tế học và chuyên ngành sáng tạo, có một thuật ngữ được gọi là “Cách tân phá hủy” (Disruptive innovation) (Thường được dịch trong một số sách là: “Sự phá hủy sáng tạo”) để chỉ về những sáng tạo dẫn tới sự thay đổi đột phá, làm biến đổi sâu sắc các cấu trúc hoặc hệ thống cũ, thay thế bằng những cái tiên tiến hơn. Lịch sử tiến bộ của thế giới trong mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, kinh doanh, nghệ thuật… luôn gắn liền với những bước ngoặt quan trọng được tạo ra từ các Cách tân phá hủy. Trong kinh doanh, nó thường là sự cách tân mô hình kinh doanh được hỗ trợ bởi công nghệ mới. Trong phát triển quốc gia, nó thường là sự cách tân về mô hình phát triển gắn liền với những quy luật mới về phát triển xã hội. Thỉnh thoảng nó cũng là sự sáng tạo khoa học kỹ thuật dẫn đến các công nghệ hoặc hạ tầng làm thay đổi cả thế giới, mà gần đây nhất chính là Internet. Lý thú là những người phát minh ra các thành tựu vĩ đại này ban đầu thường không có mục đích hoặc không nghĩ đến mức độ phá hủy mà họ tạo ra. Đối với doanh nghiệp, cách tân mô hình kinh doanh (business model) là chiến lược nhất, cách tân sản phẩm / dịch vụ chỉ giữ mức chiến lược cuối cùng, hai mức giữa là cách tân quy trình kinh doanh và cách tân thị trường. Đối với quốc gia, cách tân mô hình phát triển là chiến lược nhất. Nó luôn dẫn đến sự phá hủy có tính sáng tạo đối với tất cả các cấu trúc và hệ thống về kinh tế, chính trị, xã hội cũ. VN chuẩn bị vào giai đoạn Cách tân mô hình phát triển. Tụi con sẽ sớm thấy nó ghê gớm đến chừng nào. Không chỉ là thấy, chính thế hệ tụi con sẽ làm cho nó thành công.

57A-oil-shale

Từ công nghệ dầu đá phiến…

13/12

Cậu gọi những người hỗ trợ dư luận cho sáng tạo như Friedman là các Nhà báo Sáng tạo (Creative Journalist) (hoặc Muckraker, Muckraker là từ thuần Mỹ, ra đời thập niên 1910 – giai đoạn của những phong trào dư luận mạnh mẽ phanh phui các tập đoàn độc quyền bất chính bóp chết cạnh tranh và sáng tạo) dù không nhất thiết nghề nghiệp chính của họ là làm báo. Cậu nhìn thấy vai trò rất quan trọng của họ trong việc nuôi dưỡng sáng tạo cho quốc gia. Trong thời đại thông tin ngày nay, vai trò đó trở nên cấp thiết. Công nghệ truyền thông đang phân tán dần sức ảnh hưởng từ các phương tiện tập trung sang các phương tiện cá nhân. Đây là một xu thế tất yếu mà sẽ không có một sức mạnh từ quyền lực nào đủ sức ngăn chặn. Bên cạnh những tác động tích cực rất lớn, nó cũng tạo ra các tác động tiêu cực không thể xem thường. Trong quyển Từng là bá chủ (Nguyên bản tiếng Anh là “That used to be us” của Thomas Friedman và Michael Mandelbaum – Nhà xuất bản Trẻ – 2013), Friedman kể nhiều câu chuyện về cư dân mạng đọc hời hợt làm méo mó sự thật và thúc đẩy các quan điểm cực đoan. Tình trạng này làm cho nước Mỹ thiếu những sự gắn kết để hỗ trơ cho những chương trình sáng tạo – cách tân đột phá vì sự phát triển cực đoan dẫn tới các chính trị gia thiếu tầm nhìn, chỉ nhằm đáp ứng những nhu cầu vụn vặt, ngắn hạn, nhất thời của cử tri cực đoan. Trong một xã hội vận động tự do như Mỹ, giải pháp duy nhất và hiệu quả cho vấn đề này là cần có rất nhiều các Nhà báo Sáng tạo, không chỉ là những cây bút lớn như Friedman mà cả các công dân đến từ mọi lĩnh vực, sử dụng hiểu biết của mình để thuyết phục dư luận. Gần đây cậu thấy Mỹ đã và đang tiến đến những chương trình cách tân phá hủy khổng lồ, chẳng hạn như công nghệ dầu đá phiến hay kế hoạch năng lượng sạch đầy tham vọng, hoặc chấp nhận hôn nhân đồng giới. Điều này làm cậu tin rằng mấy năm qua quốc gia này đã có được rất nhiều Nhà báo Sáng tạo, nhất là sau những sự “kêu gào” không mệt mỏi của Friedman . Còn những xã hội chưa có vận động tự do thì tiên quyết phải làm cho nó vận động tự do, rồi tiếp theo là thúc đẩy có nhiều Nhà báo Sáng tạo. Bóp nghẹt báo chí hoặc ngăn chặn mạng xã hội thì không những không giải quyết được vấn đề tác động tiêu cực của nó mà càng làm cho vấn đề trầm trọng hơn. Mà trong thời buổi QCN đang lên, công nghệ truyền thông phát triển vũ bão thì cũng chẳng thể nào bóp nghẹt, ngăn chặn nổi. Các thể chế chiếm đoạt không bao giờ ủng hộ các cách tân phá hủy vì sợ chúng đe dọa đến quyền lực độc tôn của mình. Giới quyền lực ở các thể chế này vì vậy không chỉ kiểm soát báo chí mà còn làm cho thiếu vắng các Nhà báo Sáng tạo. Tuy nhiên năng lực này của họ đang bị thách thức và giảm sút nghiêm trọng, không chỉ bởi xu thế tiến bộ tất yếu mà còn do ngày càng xuất hiện nhiều Nhà báo Sáng tạo dũng cảm. Vấn đề là làm sao để chuyển đổi sang thể chế dung hợp. Những dòng cuối cùng của cuốn “Tại sao các quốc gia thất bại” viết: “Tự do báo chí và các công nghệ truyền thông hiện đại chỉ có thể hỗ trợ một mức độ nào đó thông qua việc cung cấp thông tin và phối hợp các nhu cầu và hành động của những người đấu tranh cho thể chế chính trị dung hợp. Vai trò của phương tiện truyền thông chỉ có thể mang lại sự thay đổi có ý nghĩa khi các thành phần xã hội đang được huy động và tổ chức nhằm tạo ra sự thay đổi chính trị; và điều này được thực hiện không phải vì lý do bè phái hay để giành lấy quyền kiểm soát các thể chế chiếm đoạt, mà là để chuyển hóa các thể chế chiếm đoạt trở nên dung hợp hơn” (trang 595). Cậu đồng ý với tác giả và hiểu rằng có rất nhiều việc phải làm cho một sự chuyển đổi như vậy. Trong đó không thể thiếu vai trò của những Nhà báo Sáng tạo. Sự chuyển đổi một thể chế chiếm đoạt sang dung hợp cũng chính là một sự cách tân phá hủy. Chính xác hơn, đó là một cuộc canh tân vĩ đại. Nhưng trước tiên phải vượt qua được nền báo chí chiếm đoạt. Trọng trách này cũng thuộc về các Nhà báo Sáng tạo. Vì vậy, sự phát triển các Nhà báo Sáng tạo sẽ hỗ trợ rất tốt cho sự nuôi dưỡng sáng tạo của quốc gia.

57A-clean-energy

…Đến công nghệ năng lượng sạch

5/ Có thực mới vực được đạo

14/12

Khi các điều kiện về tự do, bảo vệ cá nhân, nhập cư, Nhà báo Sáng tạo đã được bảo đảm rồi thì muốn sáng tạo phải có tiền. Nếu chỉ để những người giàu có có thể sáng tạo thì sớm muộn gì nó cũng đi đến lụi tàn vì hai lý do chính. Thứ nhất là phần đông những người giàu có thường mất động lực sáng tạo mà lại có xu hướng bảo thủ để bảo vệ thành quả của mình. Thứ hai là những người giàu có ở mức độ đủ khả năng đầu tư hiệu quả cho sáng tạo sẽ không bao giờ là số đông ngay cả ở những quốc gia phát triển. Nếu chỉ phụ thuộc vào họ để phát triển sáng tạo thì sẽ chậm. Điều này đã từng xảy ra ở Châu Âu vào thời tiền Cách mạng công nghiệp. Ngay cả khi cuộc Cách mạng này đã nổ ra vào cuối thế kỷ 18 làm chuyển biến mạnh mẽ Lục địa già nhờ những chương trình cách tân mạnh mẽ trong cả kinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật thì sự sáng tạo cũng xuất phát chủ yếu từ những thành phần giàu có trong xã hội. Nó cũng lan dần đến các thành phần trung lưu; nghèo nhưng rất chậm (Nói chậm là so sánh với tốc độ mà sau này Mỹ đạt được, chứ thực ra tốc độ này ở Anh là cực kỳ cao vào thời đó, bỏ xa Châu Âu, Từ đầu thế kỷ 18 thường dân Anh đã có thể vay tiền ngân hàng), một phần bởi định kiến về giai cấp; thành phần xã hội ăn sâu cả ngàn năm. Tuy nhiên khi cuộc Cách mạng công nghiệp lan sang Mỹ – một quốc gia non trẻ mới thành lập thì nó phát triển với tốc độ bỏ xa châu Âu, vượt cả nước Anh là cái nôi của cuộc Cách mạng này và đang dẫn đầu châu Âu thời đó. Nguyên nhân đầu tiên là nhờ Mỹ ít có những định kiến nói trên như châu Âu, làm xã hội Mỹ cởi mở hơn rất nhiều nên dễ dàng chấp nhận sự tham gia của các thành phần xã hội đa dạng vào các hoạt động kinh tế lẫn chính trị. Điều này dẫn đến nguyên nhân thứ hai là sự tự do vận động lợi ích trong một xã hội như vậy nhanh chóng dẫn đến nhiều biện pháp cạnh tranh hiệu quả. Hiệu quả nhất là từ sáng tạo. Từ đó những người có tiền không chỉ tự mình sáng tạo mà còn đầu tư cho những tài năng sáng tạo. Những người có tài năng sáng tạo nếu không muốn làm thuê cho người khác thì có thể giới thiệu ý tưởng của mình để mời gọi đầu tư. Ngành đầu tư mạo hiểm Mỹ ra đời từ đó và cấp vốn cho hàng triệu cá nhân say mê sáng tạo. Nước Mỹ công nghiệp hóa nhanh chóng và hiệu quả nhờ những con người và nguồn vốn mạo hiểm như vậy.
Ngày nay khi nhắc tới thời kỳ này, người ta luôn nhớ tới nhà phát minh vĩ đại Thomas Edison – cha đẻ của bóng đèn điện và của tập đoàn GE (General Electric) lừng danh cho đến tận ngày nay. Ông xuất thân từ gia đình trung lưu chẳng giàu có gì, cũng không được học hành bài bản.57A-thomas-edison Chỉ nhờ khả năng sáng tạo và những đồng vốn đầu tư mạo hiểm mà ông đã thiết lập nên rất nhiều ngành công nghiệp hiện đại cho nước Mỹ và thế giới. Edison đến giờ vẫn là người giữ kỷ lục thế giới chưa thể bị phá: hơn 1500 bằng phát minh sáng chế được đăng ký. Trong một xã hội cởi mở, cạnh tranh nhờ sáng tạo như Mỹ, thời đó Edison cũng dễ dàng bán bằng sáng chế của mình để lấy vốn đầu tư cho những ý tưởng phát minh khác. Ngày nay cũng vậy thôi. Thung lũng Silicon làm nên kỳ tích một phần quan trọng nhờ lượng vốn đầu tư mạo hiểm đổ vào đây rất nhiều. Những người tay trắng bỗng chốc thành triệu phú không phải là cổ tích.

Các nhà đầu tư mạo hiểu (Venture capitalist – VC) không chỉ là những người đầu tư kiếm lời. Họ còn đóng một vai trò rất quan trọng là bảo đảm cho sự hiệu quả của các chương trình sáng tạo và tránh cho nền kinh tế sáng tạo những sự sụp đổ không thể gượng dậy. VC là những người lấy tiền từ các đầu tư thành công để tài trợ cho những đầu tư thất bại. Tính trên số lượng dự án, tỷ lệ thành công so với thất bại là con số rất nhỏ, có thể chỉ 10% hoặc ít hơn. Tuy nhiên các VC sống được và phát triển là nhờ tỷ suất sinh lời của các dự án thành công rất cao, đủ sức bù đắp cho các khoản lỗ của các dự án thất bại. Nếu họ quản lý tốt thì sẽ có lời, ngược lại thì lỗ. Họ được gọi là đầu tư mạo hiểm không chỉ vì tính rủi ro cao của loại hình kinh doanh mà còn vì tính chất phiêu lưu để khám phá ra những cái mới. Nhưng họ là những doanh nhân bài bản, không phải là những kẻ liều lĩnh ăn may. Nhờ họ mà những người khởi nghiệp bằng sáng tạo không bị nản chí, còn có thể tiếp tục sau khi thất bại có thể đến nhiều lần. Số lượng khởi nghiệp (start – up) thành công ngay lần đầu là rất ít. Tỷ lệ các ý tưởng sáng tạo thành công còn ít hơn nữa. Quốc gia cần nuôi dưỡng càng nhiều ý tưởng càng tốt để một tỷ lệ nhỏ của chúng thành công cũng đủ tạo nên những giá trị lớn. Nếu các nhà sáng tạo, khởi nghiệp phải tự chấp nhận rủi ro bằng chính an ninh tài chính của cá nhân hoặc gia đình mình thì chắc chắn sẽ không có nhiều người như vậy. Hơn nữa, những người sáng tạo khởi nghiệp hầu hết không có khả năng quản lý rủi ro nên sự thất bại gần như cầm chắc. Thất bại bằng tiền của mình thì rất ít người đủ sức và dũng cảm để tiếp tục, đa số các trường hợp bị nhấn chìm hơn bởi thất bại đó, không thể gượng dậy được. Người ta có thể ngưỡng mộ những người đủ ý chí vươn lên thành công sau những thất bại như thế, nhưng quốc gia không thể hy vọng vươn lên nhờ có những người như vậy. Họ luôn là những trường hợp hiếm hoi. Phải có rất nhiều người có thể sáng tạo, khởi nghiệp và thành công thì quốc gia mới có thể tạo nên kỳ tích.

57A-venture-capitalist

Quốc gia cần nuôi dưỡng càng nhiều ý tưởng càng tốt để một tỷ lệ nhỏ của chúng thành công cũng đủ tạo nên những giá trị lớn

Các VC không phải là những người cho vay. Họ là nhà đầu tư tiền cho sáng tạo để cùng sở hữu thành quả sáng tạo với người sáng tạo. Nếu thành công thì họ hưởng thành quả (thường là nhỏ hơn người sáng tạo). Nếu thất bại thì họ chấp nhận mất tiền đã đầu tư chứ không phải là đòi lại người sáng tạo. Chỉ cần đừng lừa đảo hoặc chứng tỏ sự kém trách nhiệm và quyết tâm thì người sáng tạo vừa thất bại hoàn toàn có thể nhận tiếp đầu tư để thử nghiệm, phiêu lưu mạo hiểm , cho một ý tưởng mới. Nhiều người thất bại đến năm, ba lần trước khi thành công rực rỡ. Các VC không phải là nhà từ thiện. Họ làm ra lợi nhuận bằng khoa học quản lý giúp giảm thiểu rủi ro cho mình lẫn cho những nhà sáng tạo khởi nghiệp. Nhờ vậy họ giúp giảm nguy cơ cho cả nền kinh tế sáng tạo. Họ hoạt động theo quy luật kinh tế thị trường bởi động cơ lợi nhuận. Bàn tay vô hình sẽ tự động điều tiết sự phân bổ vốn của họ tối ưu. Dù không tránh khỏi những đợt khủng hoảng do sự tập trung quá mức vào một số lĩnh vực mới nào đó, chẳng hạn như vụ bong bóng dotcom ở Mỹ những năm 2000 – 2001, dẫn đến sự sụp đổ nhất thời của các phong trào đầu tư sáng tạo nào đó. Nhưng đó không phải là những sự sụp đổ không thể gượng dậy, mà là những sự điều chỉnh cần thiết của Bàn tay vô hình khi sự mất cân đối xảy ra để làm cân bằng lại cung cầu. Từ đó sẽ phát triển trở lại. Khủng hoảng dotcom là do có quá nhiều vốn mạo hiểm đổ vào ngành IT trong lúc nhu cầu từ các sản phẩm, dịch vụ IT dù tăng rất nhanh nhưng vẫn không “ngốn” nổi lượng cầu tăng nhanh hơn nhiều lần. Nhưng sự khủng hoảng thừa này đã góp phần tạo nên nhiều công nghệ mới và những cơ sở hạ tầng IT khổng lồ, chẳng hạn như sự gia tăng chóng mặt của mạng cáp quang biển. Chính điều này đã thúc đẩy thị trường IT phát triển trở lại nhanh sau đó và đạt được quy mô lớn như bây giờ. Sự điều chỉnh như vậy là bất khả thi ở những thị trường mà bàn tay hữu hình của nhà nước can thiệp vào quá thô bạo. Có những nước như Liên Xô trước đây, giới cầm quyền độc quyền rót vốn đầu tư. Một mặt, họ không bao giờ có được quyền năng của Bàn tay vô hình. Mặt khác, họ cũng không có đủ kiến thức, trình độ và thông tin như các VC để có thể lựa chọn lĩnh vực đầu tư hiệu quả và những con người có khả năng sáng tạo thành công. Lãng phí là đương nhiên. Cùng với thất thoát do tham nhũng không thể tránh khỏi, khi khủng hoảng nổ ra thì sẽ luôn dẫn đến những sự sụp đổ hoàn toàn và không thể gượng dậy. Trong một môi trường như vậy, chẳng ai dại gì chấp nhận rủi ro để mà sáng tạo hay đầu tư sáng tạo.

Giờ đây, kiểu đầu tư cực đoan như Liên Xô gần như không còn. Nhưng tình trạng can thiệp đầu tư thiếu hiệu quả của Nhà nước vẫn còn rất phổ biến trên thế giới. Nó vừa xuất phát từ động cơ muốn thúc đẩy phát triển quốc gia, vừa ẩn chứa động cơ của giới cầm quyền muốn dùng ngân sách của dân để kiểm soát quyền lực kinh tế, từ đó củng cố quyền lực chính trị cho mình. May mắn thì gặp giới cầm quyền hiểu biết được quy luật thị trường, dù kinh tế có phát triển thì cũng tạo ra các vấn đề tương tự như Hàn Quốc ta đã phân tích ở trên. Nhưng hầu hết là các trường hợp không may, giới quyền lực vừa không hiểu biết vừa ngông cuồng cho rằng mình đủ trí tuệ tầm cao để quyết định đúng mọi thứ, giống như TQ lâu nay. Dù tăng trưởng nhanh được vào giai đoạn đầu nhờ biết để cho người dân tự lựa chọn đầu tư kinh doanh, nhưng sau đó ĐCSTQ thâu tóm lại và dùng tiền thuế của dân để chi phối hầu hết và làm méo mó sự đầu tư của quốc gia. TQ hiện đang đối mặt vô số nguy cơ của những cuộc sụp đổ không thể gượng dậy. Tụi con sẽ thấy điều đó.

15/12

Israel đi sau hơn hết thảy nhưng họ đã học được cả những kinh nghiệm thành công lẫn thất bại. Nhờ vậy họ đang dẫn đầu thế giới về tốc độ và hiệu quả về đầu tư cho sáng tạo và khởi nghiệp. Dù biết là người Mỹ đã rất thành công nhờ vốn mạo hiểm và sự không can thiệp của nhà nước vào lĩnh vực này nhưng Israel hiểu là họ cần phải làm nhanh và tốt hơn như thế bởi nhu cầu phát triển của quốc gia quá cấp bách. Đất nước này từ khi được thành lập luôn phải đối phó với sự thù địch và đe dọa không ngừng tăng của thế giới Ả Rập. Vùng đất của họ lọt thõm giữa các nước lớn cả về diện tích lẫn dân số. Không chỉ cần phát triển kinh tế, họ còn cần hơn các công nghệ hiện đại giúp phòng thủ quốc gia. Thời gian phát triển theo mô hình xã hội chủ nghĩa, họ cũng đầu tư ào ạt bởi chính phủ gần giống như Liên Xô. Điều này dẫn đến tăng trưởng nóng và thiếu bền vững như ta đã đề cập. Nhưng nó cũng đã giúp Israel phát triển được nhanh chóng công nghiệp quốc phòng trong thời gian này. Tuy nhiên họ khác LX ở chỗ Chính phủ Israel luôn phải bị chỉ trích và phải chịu trách nhiệm giải trình trước người dân về mọi quyết định của mình. Một khi các chính sách đầu tư không hiệu quả, dù chúng cũng đã tạo ra những đóng góp quan trọng thì cũng phải bị thay đổi. Israel nhận ra sai lầm và học theo cách làm của Mỹ, phát triển nguồn đầu tư mạo hiểm để hỗ trợ cho doanh nghiệp tư nhân khởi nghiệp bằng ý tưởng sáng tạo. Họ muốn dùng sức mạnh của nhà nước để thúc đẩy nguồn vốn này nhưng cần tránh sai lầm cũ hoặc sự can thiệp làm méo mó thị trường. Và họ đã thành công. Quyển Quốc gia khởi nghiệp kể về một sáng kiến của Chính phủ Israel, được gọi là Yozma. Qua đó chính phủ sẽ góp vốn cho các quỹ mạo hiểm (venture fund) đầu tư tại Israel với tư cách là một cổ đông thuần túy với tỷ lệ là 2:1. Ví dụ một quỹ huy động được 16 triệu USD thì ngân sách quốc gia Israel sẽ góp thêm 8 triệu USD. Các venture fund này tự do điều hành hoạt động đầu tư của mình theo thị trường và điều lệ quỹ. Chính phủ Israel chỉ là cổ đông thiểu số, có thể ảnh hưởng đến chiến lược đầu tư chứ không đủ quyền chi phối quyết định. Yozma đã làm cho thị trường vốn mạo hiểm Israel tăng trưởng nhanh nhưng bền vững, không có sự can thiệp thô bạo của bàn tay hữu hình nhà nước. Dữ liệu trong quyển Quốc gia khởi nghiệp cho biết năm 2009 trị giá đầu tư mạo hiểm tính trên đầu người (chia cho toàn bộ dân số) ở Israel là 250 USD, gấp 2,5 lần của Mỹ. Tụi con cần hiểu là con số 100 USD / người vốn mạo hiểm của Mỹ là đã bỏ xa những nước còn lại trên toàn thế giới rồi, kể cả các khu vực phát triển như Châu Âu và Nhật. Con số này của Israel bằng 80 lần của TQ . Vì vậy mà người ta gọi Israel là “quốc gia khởi nghiệp”. Khi cậu còn ở nước ngoài, một người bạn Israel kể rằng, nếu ở Thung lũng Silicon các VC rất quan tâm đến khi nghe ai nói: “Tôi có một ý tưởng” thì ở Israel mà bạn nói câu này, nhiều VC sẽ tìm đến bạn ngay. Nền kinh tế họ không sáng tạo mới là chuyện lạ phải không? Có rất nhiều công nghệ nổi tiếng chúng ta đã và đang xài là được phát triển từ Israel. Ví dụ như chip Centrino dùng trong các laptop, là một thiết kế đột phá của đội ngũ kỹ sư Intel ở Israel. Điều đáng nói là ý tưởng của họ bị tổng hành dinh Intel ở Mỹ bác bỏ ngay từ trong trứng nước. Nhưng họ đã kiên trì tới mức lì lợm bảo vệ sáng kiến của mình. Cuối cùng nó đã trở thành giải pháp cứu Intel vào lúc khủng hoảng. Cậu không tìm thấy số liệu so sánh mức độ vốn đầu tư mạo hiểm ở VN trong quyển sách trên. Nhưng chắc không phải là một con số khiến ta vui mừng.

Phát triển tốt nguồn vốn đầu tư mạo hiểm là cách nuôi dưỡng sáng tạo không thể thiếu của quốc gia hiện đại. Đừng để những người sáng tạo dũng cảm phải khánh gia bại sản hoặc bị rơi vào cảnh khốn cùng vì muốn cách tân cho mình và đất nước. Một quốc gia muốn đột phá sáng tạo bền vững thì phải tổ chức sao cho những sáng tạo – cách tân thành công đủ sức tài trợ cho những cái thất bại. Lúc đó thì thành công hay thất bại gì cũng thúc đẩy sự phát triển tốt của đất nước, cả về GDP và chất lượng tăng trưởng. Mô hình đầu tư mạo hiểm đáp ứng được các yêu cầu này.

Tóm lại, muốn nuôi dưỡng năng lực sáng tạo cho quốc gia thì việc tiên quyết phải làm là bảo đảm cho xã hội vận động tự do, tức là phải xây dựng được các thể chế nhà nước pháp quyền như ta đã bàn nhiều trong đề tài NNPQ. Kế tiếp, phải kiến tạo được 4 vườn ươm (Incubator):

  1. Tinh thần và sự tôn trọng cá nhân (Chủ nghĩa cá nhân)
  2. Người nhập cư
  3. Nhà báo sáng tạo (Creative Journalist hoặc Mucraker: là từ thuần Mỹ, ra đời thập nhiên 1910 – giai đoạn của những phong trào dư luận mạnh mẽ phanh phui các tập đoàn độc quyền bất chính bóp chết cạnh tranh và sáng tạo)
  4. Vốn mạo hiểm

Còn việc đầu tư cho giáo dục, cơ sở hạ tầng. Đây là chuyện đương nhiên rồi. Nó thiết yếu cho sự sống còn của mọi quốc gia, chứ không chỉ dành riêng cho sáng tạo.

Tụi con có nhận thấy rằng 4 vườn ươm sáng tạo không phải là vấn đề tiền không? Nó chủ yếu đòi hỏi tư duy chiến lược để kiến tạo. Tiền chỉ là thứ yếu. Ngay cả cách làm của Israel hỗ trợ cho các quỹ mạo hiểm thì đó cũng chỉ là những khoản đầu tư có thể trực tiếp sinh lời và tái tạo. Đài Loan cũng đã rất thành công nhờ cách đầu tư hỗ trợ này. Nhưng những kiến tạo chiến lược như vậy chỉ có thể có được trong những thể chế dung hợp hoặc đang tiến đến dung hợp. Đó là những thể chế nhà nước được thiết kế theo nhà nước pháp quyền. Mà muốn thiết kế được như vậy thì đòi hỏi chủ yếu cũng là sự hiểu biết. Cứ loay hoay chuyện tiền đây hoặc định hướng gì thì mãi chẳng thoát khỏi cái vòng lẩn quẩn.

16/12

Trong thời đại cạnh tranh toàn cầu và thế giới phẳng, các doanh nghiệp sáng tạo sẽ tự động tìm đến những nơi nào có chính sách quốc gia nuôi dưỡng sáng tạo. Họ là những lực lượng triển khai cách tân (Implementation of innovation) và tạo ra giá trị cho quốc gia mà họ đến. Nước nào làm được điều này thì sẽ nổi lên nhanh chóng, ngược lại sẽ trở thành những vùng trũng chứa, hứng ô nhiễm và lạc hậu. Các doanh nghiệp sáng tạo dù có khổng lồ như thế nào thì việc nuôi dưỡng sáng tạo và triển khai cách tân của nó cũng chỉ ở tầm vi mô, không thể thay thế được tầm vĩ mô của một quốc gia. Hai tầm này khác cả quy mô lẫn tính chất. Có những quan điểm sai lầm cho rằng sáng tạo chỉ là việc của các doanh nghiệp, nhà nước không cần và cũng không nên làm. Trong cuộc chạy đua toàn cầu, các quan điểm ấy trở nên tai hại.

Hiểu được các nguyên lý về nuôi dưỡng sáng tạo và dòng lịch sử, văn hóa của dân tộc để thiết kế nên một Nhà nước pháp quyền với mục tiêu biến đất nước nhanh thành một quốc gia sáng tạo. Đây là chủ đề của đề tài kế tiếp: CUỘC CHUYỂN MÌNH VĨ ĐẠI (The greatest growth), cũng là sự tiếp nối của đề tài Sáng tạo và Canh tân mà ta đang trao đổi. Làm sao cuộc Đổi mới tức Canh tân (Reformation) tới đây sẽ dẫn tới một Cuộc chuyển mình vĩ đại của dân tộc – là điều mà thế hệ tụi con cần hướng tới. Nó phải như cuộc Canh tân Minh Trị 1868 đã biến nước Nhật từ nghèo nàn lạc hậu thành cường quốc chỉ trong 3 thập kỷ. VN còn có thể làm tốt và nhanh hơn thế nếu hiểu biết sâu các nguyên lý và quy luật phát triển và học hỏi những bài học thành công và thất bại của nhân loại nhiều thế kỷ qua. Cậu gọi chung sự hiểu biết này là chân lý phát triển (The truth of development) (hoặc The truth of growth. To grow là trồng cây, là lớn lên. Growth là sự tăng trưởng, là quá trình lớn lên của cái cây, cũng là sự chuyển mình của một dân tộc). Muốn đất nước chuyển mình vĩ đại thì trước tiên con người phải bừng sáng chân lý phát triển. Bừng sáng (Illumination) là kết quả tất yếu của ươm mầm (Incubation). Những hạt giống chân lý được gieo vào đúng môi trường tự nhiên của nó là con người thì sẽ sinh sôi nẩy nở và phát triển thôi. Sự gieo mầm này gặp thời – thời của Internet, mang những hạt giống đi rộng khắp. Đến đúng ngày giờ chúng sẽ nứt mầm, đón lấy ánh sáng chân lý và bừng xanh. Việt Nam sắp đến ngày giờ đó – thời điểm mà đất nước bừng sáng chân lý phát triển. Đó là mục đích của đời cậu và vì nó mà cậu không tiếc sức. Nhưng cậu cần thế hệ của tụi con tiếp sức J. Sẵn sàng chưa? Hạt mầm đã nứt. Hãy thắp sáng!

Cậu đọc được trong một quyền sách: “The greatest growth occurs during the darkest hours” (Sự chuyển mình vĩ đại xảy ra vào những thời khắc đen tối nhất). Tụi con thấy đúng không? Nó thường là vậy đó. Tụi con sẽ thấy nhiều ví dụ trong đề tài Cuộc chuyển mình vĩ đại. Đón xem hồi sau sẽ rõ .

COP21 Paris là một cú hích ghê gớm cho kỷ nguyên năng lượng xanh. Thư 32A cậu đoán rằng 10 năm sau thế giới sẽ lật hẳn sang trang mới của kỷ nguyên này. Tình hình bây giờ có thể còn sớm hơn nữa. Tụi con cũng xem lại thư 32A này đi, cả thư 31C. Các thư này cậu phân tích về Dòng chảy của thời đại, chảy từ Thời đại Kinh tế nông nghiệp sang Thời đại Kinh tế công nghiệp và bây giờ là Thời đại Kinh tế tri thức. Tương ứng với các thời đại này là kỷ nguyên sức người, kỷ nguyên năng lượng hóa thạc và giờ là kỷ nguyên năng lượng xanh. Sự cạnh tranh thế giới đã chuyển từ Tranh chấp đất đai và nô lệ sang Tranh chấp thuộc địa và tài nguyên, và giờ sẽ là Tranh chấp nhân tài. Nhớ rõ điều này: Tụi con phải cạnh tranh tài năng trên quy mô toàn cầu. Đất nước cũng vậy, phải cạnh tranh thu hút nhân tài từ khắp nơi và với khắp nơi trên thế giới. Quốc gia nào thất bại trong việc hỗ trợ nhân tài, dân tộc đó sẽ thảm bại. Điều này sẽ được xoáy sâu trong đề tài Cuộc chuyển mình vĩ đại.

Hẹn thư sau. Thương tụi con.

CHÚ THÍCH:

  • Chủ nghĩa cá nhân (Individualism) thường bị làm cho hiểu sai ở những nơi mà chủ nghĩa dân tộc phát triển thái quá, chẳng hạn như gán ghép cho nó tính ích kỷ; vì lợi quên nghĩa; thiếu đạo đức; gây tổn hại lợi ích dân tộc. Thực ra, những thói xấu và tác động tiêu cực này đều có thể là kết quả của bất kỳ chủ nghĩa nào dựa vào sự cai trị chuyên chế, độc đoán. Chủ nghĩa dân tộc (Nationalism) cũng không thể tránh được những kết quả như vậy, thậm chí còn hậu quả hơn. Các chế độ độc tài, toàn trị luôn lợi dụng chủ nghĩa dân tộc để duy trì sự cai trị và bảo vệ lợi ích của mình được ẩn giấu dưới danh nghĩa lợi ích dân tộc. Khi đó những kẻ cai trị này luôn quy cho những người đấu tranh chống lại sự xấu xa của họ là những người theo chủ nghĩa cá nhân, vì lợi ích của mình mà chống lại lợi ích dân tộc. Cậu đã phân tích và cho nhiều ví dụ về tình trạng này trong nhiều thư trước. Giờ đây chủ nghĩa dân tộc đang còn bị lợi dụng bởi những kẻ khủng bố. Phong trào vũ trang Hamas – một lực lượng chính trị nằm trong chính quyền Palestine ngày nay, hoặc Herbolah tại Lebanon là những ví dụ. Nhìn vào sự phát triển của Palestine và Israel từ sau Thế chiến II đến nay tụi con có thể so sánh được sự thất bại và thành công giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cá nhân. Người Palestine và người Israel chẳng có nhiều khác biệt xét về chủng tộc, địa lý và hoàn cảnh lịch sử. Sau Thế chiến II, Israel tập trung phát triển đất nước và thành công nhờ nâng đỡ chủ nghĩa cá nhân như ta đã phân tích. Trong khi đó Palestine giương cao ngọn cờ dân tộc chủ nghĩa, kéo cả dân tộc vào những cuộc đấu tranh vũ trang đẫm máu bao gồm cả phương thức khủng bố được khơi gợi bằng sự sôi sục hận thù với người Do Thái. Gần 70 năm rồi họ vẫn là một dân tộc lạc hậu, ngày càng kiệt quệ. Giá mà họ tập trung phát triển đất nước, nâng đỡ cá nhân và tranh chấp một cách hòa bình với Israel thì giờ họ chẳng thua kém đối thủ, và đã được cộng đồng quốc tế và Liên Hợp Quốc công nhận độc lập từ lâu rồi. Tương lai họ vẫn thật tối tăm. Còn Israel thì thật tươi sáng. Ai dám nói Israel không có tinh thần dân tộc hoặc giá trị dân tộc của họ bị nhạt nhòa trước tinh thần và sự tôn trọng cá nhân? Muốn nâng cao vị thế dân tộc thì phải đề cao vai trò cá nhân. Chủ nghĩa dân tộc không giúp nâng cao vị thế dân tộc vì nó luôn bị sự cai trị chuyên chế lợi dụng để hạ thấp vai trò cá nhân. Trong thư 34A cậu đã chứng minh rằng đấu tranh dân tộc là một đặc trưng chính của Thời đại Kinh tế nông nghiệp – còn chưa chuyển qua Thời đại Kinh tế công nghiệp thì nói gì theo kịp thời đại Kinh tế tri thức sắp đến. Hãy nghe John Stuart Mill báo động về nguy cơ nước Anh tụt hậu do vị thế của cá nhân bị xem thường trong xã hội. Những đoạn trích sau đây cậu cũng lấy từ quyển Bàn về tự do (Nhà xuất bản Tri Thức – 2005). Mill giới thiệu sách này năm 1859, vào lúc mà Thời đại Kinh tế công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ ở châu Âu và Mỹ. Nên nhớ Anh là cái nôi của Cuộc Cách mạng công nghiệp từ cuối thế kỷ 18. “Ở nước này bây giờ khó mà có được lối mở nào cho năng lượng phát ra ngoại trừ việc làm ăn của doanh nghiệp. Năng lượng dùng cho việc này còn có thể xem là đáng kể. Năng lượng ít ỏi còn lại dùng cho các hoạt động sở thích, nó cũng có thể là hữu ích hay thậm chí mang tính thương người nhưng chỉ luôn là những việc nhỏ nhoi thiếu tầm cỡ. Cái vĩ đại của nước Anh bây giờ chỉ toàn là tập thể. Chúng ta nhỏ bé về phương diện cá nhân nên có vẻ chỉ có khả năng làm việc lớn bởi thói quen phối hợp nhau. Và các hiền nhân quân tử giàu đạo đức của chúng ta hoàn toàn bằng lòng với tình hình này của đạo đức và tôn giáo. Thế nhưng, chính là những người mang dấu ấn khác với dấu ấn này từng làm cho nước Anh được như trước đây, và sẽ còn cần đến những người mang dấu ấn khác biệt để ngăn chặn sự suy thoái của nước Anh” (trang 159 – 160). “Ngọn nguồn thường trực và không bao giờ cạn của sự cái tiến chính là sự tự do” (trang 160). Tụi con nhận xét ra sao? Liệu thế giới và nước Anh có được Thời đại Kinh tế công nghiệp nhờ Cuộc Cách mạng công nghiệp không nếu không có chủ nghĩa cá nhân phát triển? Chúng ta thường bị nhầm lẫn thuật ngữ chủ nghĩa (ism) luôn là các chủ thuyết chính trị, kinh tế, xã hội. Thật ra tiếp vĩ ngữ ism có nghĩa rộng hơn rất nhiều. Individualism không phải là một kiểu chủ thuyết như vậy, mà là một tinh thần và sự tôn trọng cá nhân so với các quan điểm hạ thấp vai trò cá nhân hoặc đề cao vai trò tập thể. Nếu muốn tránh hiểu lầm ta có thể sử dụng cụm từ “Tinh thần và sự tôn trọng cá nhân” thay cho Chủ nghĩa cá nhân. Tuy nhiên cũng cần phải “minh oan” cho chủ nghĩa cá nhân, cho nên từ nay về sau cậu sẽ sử dụng xen kẽ 2 cụm từ này. Giải “oan sai” vất vả vậy đó J.
  • Khái niệm inclusive institution xuất hiện từ cuối thập niên 1990 ở Mỹ. Có nhiều đất nước có những thể chế chính trị được gọi là dân chủ nhưng vẫn thất bại về kinh tế nặng nề, chẳng hạn như Ấn Độ. Rất nhiều nước nghèo đói ở Châu Phi, Châu Mỹ dù đã có chế độ đa đảng hơn nửa thế kỷ. Những người đề xướng inclusive institution giải thích rằng: dù ở các nước này chính phủ được người dân bầu lên nhưng lại thiếu vắng các thể chế để quyền lực chính trị được kiểm soát nhằm phân bổ công bằng cơ hội và nguồn lực kinh tế trong xã hội. Họ gọi các thể chế như vậy là exclusive institution (trong kinh doanh mà tụi con ký một exclusive contract, tức là ký một hợp đồng độc quyền, qua đó một hoặc nhiều bên trong hợp đồng không được có giao dịch tương tự với một bên khác thứ ba). Exclusive institution vì vậy mà không thể có tăng trưởng kinh tế tốt, bền vững dù nó có dân chủ hay không, dù độc đảng hay nhiều đảng thì nó vẫn thâu tóm quyền lực chính trị về một thiểu số nhỏ cai trị để thâu tóm quyền lợi kinh tế về cho mình. Trái ngược với nó, inclusive institution bảo đảm cho quyền lực chính trị được bao hàm cho mọi người, mọi nhóm để bảo vệ cho họ tiếp cận được các cơ hội và nguồn lực kinh tế. Vì vậy mà kinh tế phát triển tốt, bền vững dù có trường hợp chế độ không được dân chủ, chẳng hạn như Hàn Quốc thời kỳ 1970 – 1980. Cách tiếp cận inclusive / exclusive institution giúp chúng ta lưu tâm ngay đến thực chất của các chế độ thông qua kết quả thực tế mà chúng mang lại cho quốc gia, tránh bị đánh lừa bởi những giới cầm quyền lợi dụng danh nghĩa của dân chủ. Tuy nhiên, cách tiếp cận này vẫn chưa “giải oan” cho ý nghĩa đúng đắn của từ dân chủ. Cái oan này xuất phát từ quan niệm đơn giản cho rằng dân chủ được thể hiện thông qua các hình thức đa đảng và người dân có quyền bỏ phiếu lựa chọn các đảng để nắm quyền. Tiếc rằng quan niệm này lại rất phổ biến trên thế giới do thói quen của nhiều người không chịu tìm hiểu bản chất. Giới độc tài luôn lợi dụng hiệu quả thói quen này. Trong thư 29B bắt đầu đề tài Cơ chế xã hội khoa học, cậu đã phân tích về sự ngộ nhận dân chủ hình thức này và về bản chất của dân chủ là người dân làm chủ chính mình và đất nước. Muốn vậy thì QCN phải được bảo vệ trên hết để người dân có đủ quyền làm và quyết định những gì mình muốn – tức là thượng tôn QCN. Hệ quả tất yếu của thượng tôn QCN là Xã hội vận động tự do – tức là mọi người được tự do vận động lợi ích cho mình. Mà muốn được như vậy thì các thể chế nhà nước phải được thiết lập theo Nhà nước pháp quyền. Thiết kế sai thì sẽ lập nên các thể chế không đảm bảo QCN, xã hội sẽ không vận động tự do – tức là không có dân chủ bất chấp các thể chế đó có bao nhiêu đảng đi nữa. Thiết kế đúng thì sẽ lập nên các thể chế thượng tôn QCN, Xã hội sẽ vận động tự do. Hệ quả tất yếu là quyền lực chính trị sẽ được bao hàm cho mọi người, xã hội nhờ vậy mà phát triển toàn diện, không chỉ về kinh tế. Sự phát triển như vậy được gọi là Inclusive development, được dịch là tăng trưởng dung hợp, tăng trưởng bao hàm hoặc tăng trưởng bao trùm (thuật ngữ sau cùng này nghe hổng hay chút nào J). Xu thế này đang được APEC thúc đẩy thông qua các chương trình cải cách thể chế mà VN đã tuyên bố ủng hộ tại APEC13 ở Philippines tháng 11 vừa rồi. Các thể chế giúp ta đạt được tăng trưởng dung hợp / bao hàm chính là inclusive institution, được dịch là thể chế dung hợp hay bao hàm (exclusive institution được dịch là thể chế chiếm đoạt, thể chế loại trừ hoặc thể chế độc quyền). Và như vậy, đó cũng chính là các thể chế nhà nước được thiết lập theo Nhà nước pháp quyền. Đã đến lúc cần một lý thuyết hợp nhất để tránh rắc rối và nhầm lẫn. Đó là mục tiêu của cậu thông qua cuốn sách “Hành trình vào bản chất của dân chủ và thịnh vượng”.
  • Pocahontas là tên của nhân vật nữ chính, là con gái của một ông vua đứng đầu một liên minh của khoảng 30 bộ lạc thuộc vùng đất mà bây giờ là bang Virginia của Mỹ. Liên minh này có tên Powhatan. John Smith, nhân vật nam chính là thủy thủ trên con tàu của công ty Virginia thuộc Anh đi chinh phục vùng đất Bắc Mỹ. Trong phim John Smith bị quân lính Powhatan bắt nhưng lại được Pocahontas đem lòng yêu thương và cứu thoát. Phim được lãng mạn hóa từ câu chuyện có thật. John Smith xuất thân từ thường dân (ở Anh ngày xưa, ai có tên John Smith thì biết ngay người đó là thường dân J. Bản thân John Smith từng đi lính, bị bắt, bị bán làm nô lệ và trốn thoát), không thuộc giới quý tộc quyền thế. Năm 1607 ông tham gia đoàn thuyền chinh phục của công ty Virginia do thuyền trưởng Christopher Newport chỉ huy. Newport thuộc giới quyền thế nhưng công ty Virginia lại ngầm chỉ định trước cho Smith cai quản vùng đất chinh phục mà không cho Newport biết. Sau khi đổ bộ, Newport bắt chước chính sách tước đoạt, cướp bóc của thực dân TBN nhưng thất bại vì sự phản ứng mạnh không chịu khuất phục của Powhatan. Vì vậy đến cuối năm 1607 họ đứng trước nguy cơ bị đói và lạnh. Newport quay thuyền về Anh để lấy thêm tiếp tế đầu năm 1608. Thời gian này Smith đã quyết định không tước đoạt mà thương lượng trao đổi hàng hóa với thổ dân để có lương thực và cứu được quân viễn chinh. Nhưng ông đã bị vua Powhatan bắt trong lúc thực hiện những vụ thương lượng. Chính người đẹp Pocahontas can thiệp với cha nên ông không bị mất mạng và được thả. Trở về, ông thuyết phục công ty Virginia thay đổi chính sách, từ chiếm đoạt sang dung hợp. Sau vài năm chật vật, cuối cùng người Anh đã nhìn ra con đường đúng đắn và thành công. Trong lúc công ty Virginia chưa thay đổi, John Smith dùng quyền hạn để ban hành quy định “ai không làm thì không được ăn” để buộc lực lượng viễn chinh phải lao động thay vì đi cướp lương thực.
This entry was posted in Thư Xuyên Mộc and tagged , , , , , , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s