Cuộc chuyển mình vĩ đại (P3)-QCN chìa khóa thông hành văn minh nhân loại – Thư 70A

70a-wp-coverTrần nhà văn phòng Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc – Human Right and the Alliance of Civilization Room

Nghệ An, 4/7/2016

Các con, cháu thương!

I/ Lịch sử phát triển của thế giới gắn liền với sự hiểu biết về QCN.

Chúng ta tiếp tục thư 60A, nghiên cứu về các cuộc chuyển mình vĩ đại của các dân tộc trên thế giới nha. Cuối thư đó cậu đã viết rằng: Lịch sử phát triển của thế giới gắn liền với sự hiểu biết về QCN. QCN là quy luật của Tạo hóa mà càng hiểu biết và áp dụng thì nhân loại sẽ càng tạo nên thành tựu phát triển. Cậu sẽ chứng minh khẳng định này xuyên suốt trong đề tài này. Tụi con sẽ thấy các quốc gia phát triển nhanh nhờ mở rộng QCN, ngay cả các nước đã dân chủ thịnh vượng như Nhật. Nước này bị đình trệ lâu nay, muốn thoát ra thì phải tìm cách mở rộng QCN hơn nữa. Khám phá QCN là một hành trình không có điểm dừng, giống như khám phá các quy luật của vũ trụ, tự nhiên vậy. Có những quan điểm cho rằng QCN chỉ là sự sáng tạo tư tưởng của con người để làm giàu cuộc sống của mình, giống như văn học, nghệ thuật. Đây là những quan điểm sai lầm sẽ dẫn đến sự kém phát triển và sự diễn giải tùy tiện QCN. Từ đó sẽ vô tình hoặc cố ý áp đặt, xâm phạm QCN. Đây chính là nguyên nhân quan trọng làm cho một số dân tộc không bao giờ theo kịp Dòng chảy của thời đại.

Tại thư 59G, tụi con đã thấy được rằng Dòng chảy của thời đại chẳng qua là sự vận động của xã hội bởi con người. Muốn có Dòng chảy thì phải có sự vận động. Muốn vận động được thì con người phải có động lực (drive hoặc motive) và sức lực (strength hoặc power). Nói theo ngôn ngữ vật lý: Phải có năng lượng thì mới có dòng chảy. Dòng chảy hiệu quả là nhờ năng lượng được tạo ra và sử dụng đúng một cách khoa học. Nếu không thì sẽ không có dòng chảy êm đẹp mà sẽ là dòng lũ đen (black flood), ao tù xám (grey pool) như cậu đã định nghĩa trong thư 60A. Cũng có khi là tình trạng khô hạn (drought), cạn kiệt mọi năng lượng, chẳng còn gì để tiến triển. Đó là hình ảnh ẩn dụ cho sự diệt vong của rất nhiều các dân tộc trong lịch sử thế giới.

Động lực vận động xã hội liên quan đến Năng lượng xã hội và Trào lưu mềm. Sức lực vận động liên quan đến Năng lượng vật lý và Trào lưu cứng. Chúng ta sẽ tìm hiểu rõ các khái niệm này trong suốt đề tài Cuộc chuyển mình vĩ đại. Chúng là những đặc tính quan trọng của Dòng chảy của thời đại. Tụi con sẽ thấy, chính trình độ của các thể chế nhà nước sẽ quyết định sự hiệu quả của Năng lượng xã hội và Năng lượng vật lý. Sự tranh chấp các nguồn năng lượng này và cách giải quyết tranh chấp cũng là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tiến bộ của nhân loại. Vì vậy mà chúng cũng là những đặc tính cần nghiên cứu của Dòng chảy.

5/7

Dựa theo các phân tích đặc tính trên, những đặc trưng (hallmark) của các Thời đại được tóm tắt như sau:

70a-table

Tụi con suy nghĩ nội dung của 3 dấu hỏi ở hàng thứ 8 bảng trên. Cậu sẽ giải đáp chúng từ từ trong đề tài này. Cũng thử đặt tên 2 dấu hỏi ở hàng thứ 4 cho Thời đại kinh tế nông nghiệp và Thời đại kinh tế công nghiệp theo đặc tính mềm. Hai cái tên theo đặc tính cứng này phổ biến quá, khiến cho người ta hay nhầm tưởng Trào lưu cứng đi trước và mang tính quyết định trong các dòng chảy thời đại. Vì vậy cậu không ngần ngại đặt tên THỜI ĐẠI QUYỀN CON NGƯỜI cho Thời đại hiện nay mà thế giới đang và sẽ bước vào và đang được gọi khá phổ biến là Thời đại kinh tế tri thức.

II/ Nhìn lại bài học từ nền kinh tế nông nghiệp

70a-agricultural-revolution

6/7

Giờ chúng ta làm một cuộc hành trình vào quá khứ của Thời đại kinh tế nông nghiệp và Thời đại kinh tế công nghiệp để tìm hiểu khởi nguồn của các Dòng chảy và những đặc tính của chúng. Trước hết sẽ là Thời đại kinh tế nông nghiệp.

Loài vượn tiến hóa thành loài người 4,5 triệu năm trước. Trong suốt thời gian dài đó con người sinh sống bằng săn bắn và hái lượm, tức là tìm thực phẩm từ những gì sẵn có trong thiên nhiên chứ không biết cách tự sản xuất lương thực cho mình. Sự khác biệt của loài người và loài vật thời kỳ này là con người biết sử dụng lửa để nấu chín thức ăn và sưởi ấm. Nhờ vậy loài người có tốc độ tiến hóa về trí thông minh bỏ xa các loài khác, dẫn đến khả năng phát triển ý thức của loài người mà không có loài nào khác có được. Vì vậy mà loài người biết tự tổ chức sản xuất thực phẩm và tổ chức quản lý xã hội ngày càng tốt hơn để đạt được trình độ như ngày nay. Cách đây 11 ngàn năm con người bắt đầu biết chăn nuôi và trồng trọt. Nền nông nghiệp của nhân loại hình thành từ lúc này tại những nơi ngẫu nhiên có được những giống cây và loại vật dễ thuần hóa (thuộc vùng Trung Đông ngày nay). Nhờ có khả năng chủ động làm ra thực phẩm nên dân số các khu vực có nông nghiệp phát triển nhanh hơn nhiều những nơi vẫn săn bắt hái lượm. Dân số đông dẫn đến nhu cầu cần một cách thức quản lý xã hội tốt hơn. Vì vậy mà cũng chính tại vùng Trung Đông này đã ra đời hình thức nhà nước đầu tiên trên thế giới, có tên là Fertile Crescent (Trăng lưỡi liềm màu mỡ) (Hình dạng vùng này trên bản đồ giống như trăng lưỡi liềm.70a-fertile-cresent
Nó có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nông nghiệp phát triển nên gọi là màu mỡ) vào khoảng năm 3400 TCN (cách đây hơn 5400 năm). Đây có lẽ là cột mốc đầu tiên của Thời đại kinh tế nông nghiệp. Thời đại này đã biến đổi thế giới sâu sắc và làm nó phát triển trong hơn 5000 năm, đạt được những thành tựu giá trị vượt xa mấy triệu năm trước đó. Sau Fertile Crescent, các nhà nước kế tiếp được hình thành ở Trung Quốc, Mexico, Andes, Madagasca, tạo nên các nền văn minh nông nghiệp khá rực rỡ. Trình độ văn minh của các khu vực này gắn liền với trình độ phát triển của các thể chế nhà nước để quản lý và tổ chức xã hội. Chính thể chế nhà nước và trình độ của nó là nguyên nhân của sự khác biệt về mức độ thịnh vượng, văn minh giữa các xã hội có nhà nước và chưa có nhà nước. Trước khi nhà nước đầu tiên hình thành, xã hội loài người đã trải qua 3 trình độ tổ chức như sau (Cậu sử dụng cách phân loại của học giả Elman Rogers Service được trình bày trong quyển: “Thế giới cho tới ngày hôm qua” của tác giả Jared Diamond, bản tiếng Việt của Alphabooks, NXB Thế Giới):

  • Quy mô nhóm (group): chỉ gồm vài chục người trong cùng một dòng họ, sống chỉ bằng săn bắn hái lượm. Nhóm phổ biến hơn 11 ngàn năm trước.
  • Quy mô bộ lạc (tribe): có khoảng vài trăm người bao gồm các thị tộc khác nhau. Người giữa các thị tộc kết hôn với nhau. Dân bộ lạc đã biết chăn nuôi và trồng trọt nhưng quy mô rất nhỏ, tức là họ biết làm nông nghiệp nhưng chưa có nền nông nghiệp. Họ vẫn sinh sống chủ yếu bằng săn bắn hái lượm. Bằng chứng khảo cổ cho thấy bộ lạc đầu tiên của nhân loại đã ra đời cách đây 13 ngàn năm. Tuy nhiên xã hội bộ lạc chỉ phổ biến từ sau năm 9000 TCN, tức khoảng 11 ngàn năm trước. Sự phồ biến của các bộ lạc dần thay thế sự phổ biến của các xã hội nhóm. Những người trong nhóm và bộ lạc đều quen biết nhau.
  • Quy mô tù trưởng quốc (chiefdom): có tới vài ngàn người, nên nhu cầu lương thực rất lớn. Điều này đòi hỏi phải tổ chức sản xuất và phân phối lương thực tốt hơn, đồng thời hạn chế được xung đột do có nhiều người không quen biết nhau. Từ đó xuất hiện những người không trực tiếp làm ra sản phẩm mà chỉ phục vụ thủ lĩnh bộ lạc lớn để duy trì trật tự và thu cống nạp. Đây có thể nói là loại thuế sơ khai nhất của loài người. Tù trưởng quốc cũng là loại thể chế sơ khai đầu tiên. Nó cũng lần đầu tiên thể chế hóa sự bất bình đẳng và chế độ nô lệ trong lịch sử loài người. Ở các nhóm và bộ lạc, mọi người đều phải làm ra thực phẩm bằng săn bắt hái lượm hoặc chăn nuôi trồng trọt để tự nuôi sống chính mình. Không có sự cai trị, các thủ lĩnh không có quyền buộc số đông người phải cống nạp cho mình. Các tù trưởng quốc cũng phát triển các đặc điểm chung bằng những ý thức hệ chính trị, tôn giáo, vừa để mọi người nhận ra nhau trong cùng một xã hội, vừa để tôn vinh vị trí thiêng liêng của thủ lĩnh làm cho mọi người quy phục. Chính từ việc này mà quá trình cố kết các cộng đồng thành các dân tộc bắt đầu xảy ra.

Khi Thời đại kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh, các quy mô nhóm, bộ lạc, tù trưởng quốc bị thay thế hầu hết bằng các nhà nước. Nhưng thật ngạc nhiên là ngay vào lúc này vẫn tồn tại những xã hội đó trên thế giới và duy trì tình trạng lạc hậu gần như nguyên sơ của mấy ngàn năm trước. Họ tự cô lập mình vì tư tưởng bảo thủ, giáo điều, không dám hòa theo các Dòng chảy của thời đại qua hàng ngàn năm. Những bộ lạc người Pygmy Châu Phi không phải là duy nhất còn trong tình trạng đó giữa một thế giới đang bước vào Thời đại kinh tế tri thức ngày nay. Vào thế kỷ 15, khi người Châu Âu bắt đầu di cư đến Châu Úc thì mọi người bản địa ở đó đều vẫn đang sống bằng săn bắt hái lượm, quy mô xã hội chủ yếu là bộ lạc. Nhìn lại những lịch sử đó để thấy bị bỏ lại sau Dòng chảy thời đại thì kinh khủng đến thế nào.

 

7/7

Các nhà nước hình thành từ việc các tù trưởng quốc chinh phục và cưỡng ép các cộng đồng, xã hội yếu hơn để tạo ra các công đồng, xã hội lớn hơn, đa sắc tộc. Từ đó sự chuyên môn hóa phân công xã hội diễn ra mạnh mẽ, tạo thành các quan chức, chiến binh, lực lượng lao động trực tiếp sản xuất… Khái niệm quốc gia cũng hình thành từ đó cùng với các đường biên giới để xác định lãnh địa chung của những người chia sẻ một số đặc tính chung về chủng tộc, ý thức hệ, tôn giáo,… Những người chung nhau như vậy sau này được gọi là dân tộc. Định nghĩa dân tộc ngày nay không còn mang màu sắc về chủng tộc, tôn giáo, ý thức hệ nữa nhưng ngày xưa nó mang đậm những dấu ấn này. Chúng vừa là nguyên nhân vừa là động lực của rất nhiều tranh chấp nhằm khẳng định bản sắc của mình và tiêu diệt bản sắc của dân tộc khác. Đây là động lực chính tạo ra năng lượng xã hội của các xã hội Kinh tế nông nghiệp. Năng lượng xã hội là những xung lực mạnh được tạo ra bởi số đông người trong xã hội để làm cùng một mục tiêu chung nào đó (Lưu ý đây chưa phải là định nghĩa đầy đủ của khái niệm “Năng lượng xã hội”. Dần về cuối, tụi con sẽ nhận ra định nghĩa đầy đủ của nó.). Những cuộc đấu tranh và sự cố kết dân tộc được thúc đẩy bởi động lực và năng lượng xã hội nhằm khẳng định bản sắc. Nhưng thực chất, trong Thời đại Kinh tế nông nghiệp các bản sắc này là những đặc điểm riêng của các dòng tộc nắm đặc quyền cai trị được làm cho trở thành thiêng liêng đối với mọi người, khiến người dân nghĩ rằng đó là những giá trị chung của mình. Nhưng thực tế vai trò của quần chúng trong việc tạo ra động lực như trên là gần như không đáng kể. Động lực đó được quyết định chủ yếu bởi các tập đoàn cai trị chuyên chế, kiểm soát nhà nước lẫn xã hội để bắt buộc người dân làm theo ý muốn riêng của mình. Đây là đặc trưng cơ bản của Thời đại Kinh tế nông nghiệp như cậu mô tả ở hàng thứ 6 của Bảng đặc trưng các thời đại (trang 2

III/ Nguyên nhân một số quốc gia hiện nay vẫn chưa thoát khỏi nền kinh tế nông / công nghiệp lạc hậu

70a-industrialize

1/ Động lực chính của xã hội được tạo bởi các tập đoàn/ cá nhân cai trị chuyên chế

Nhưng nhiều nhà nước hiện tại vẫn còn mang đặc trưng này vì vậy mà xã hội ở đó vẫn chưa thoát khỏi Thời đại Kinh tế nông nghiệp. Ngay cả những nước lắm tiền nhiều của nhờ tài nguyên như Ả Rập Xê – út, thu nhập bình quân đầu người cao gần bằng các nước phát triển nhưng còn lâu mới trở thành quốc gia công nghiệp văn minh. Chính dầu hỏa giúp Hoàng gia nước này duy trì được sự cai trị chuyên chế. Dầu lao dốc 2 năm qua khiến họ thâm hụt ngân sách nghiêm trọng và phải tiến hành cải cách kinh tế với những chương trình phát triển công nghiệp, dịch vụ tham vọng nhằm giảm sự lệ thuộc vào dầu. Nhưng cậu dám nói họ sẽ không thành công nếu không bắt đầu bằng cải cách chính trị loại bỏ sự chuyên chế.

TQ cũng vậy, dù đã công nghiệp hóa đáng kể 40 năm qua. Với bản chất của nhà nước hiện nay, TQ không thể trở thành quốc gia công nghiệp phát triển, khó mà theo kịp Thời đại Kinh tế tri thức. Chủ nghĩa dân tộc đã và đang chi phối mạnh mẽ động lực của xã hội TQ. Động lực này được thúc đẩy bởi giới cầm quyền tới mức cực đoan, hướng năng lượng xã hội vào cuộc cách mạng dân tộc để khẳng định vị thế người Trung Hoa theo “giấc mộng Trung Hoa” do chính quyền vẽ ra. Người dân TQ ít ai dám đi ngược lại trừ khi muốn bị xem là phản động hoặc không yêu nước. Vì thế mà động lực và năng lượng xã hội để cải cách vì sự tiến bộ của xã hội rất yếu ớt do bị triệt tiêu bởi chính quyền và bị chia sẻ cho những khát vọng dân tộc cực đoan. Tình trạng này của TQ đang ngày càng nặng và chưa thấy cơ may nào thoát được. Điều này đồng nghĩa với việc xã hội TQ sẽ còn bị kiềm trong những tính chất phổ biến của Thời đại kinh tế nông nghiệp, còn rất nhiều sự lạc hậu. Trong những phần sau tụi con sẽ thấy khác biệt lớn giữa TQ và VN. Chúng ta đã có được những động lực và năng lượng xã hội lớn hướng theo Dòng chảy của Thời đại mới, hướng tới đổi mới thực chất. Chủ nghĩa dân tộc không còn là động lực chi phối xã hội nữa. Thư 32A cậu đã viết rằng trong thế giới ngày nay, chủ nghĩa dân tộc không giúp khẳng định được vị thế dân tộc mà còn phản tác dụng. Chủ nghĩa cá nhân [được hiểu đúng là tinh thần và sự tôn trọng cá nhân (Thư 57A cậu đã phân tích về tầm quan trọng của chủ nghĩa cá nhân đối với năng lực sáng tạo của một quốc gia và chủ nghĩa cá nhân không đồng nghĩa với sự ích kỷ hẹp hòi)] lại giúp nâng cao vị thế dân tộc và làm cả xã hội phát triển thịnh vượng, văn minh.

2/ Sự sùng bái cá nhân

70a-workship

Trong thời đại Kinh tế nông nghiệp, chủ nghĩa cá nhân khó tồn tại và bị chà đạp. Lý do là không tập đoàn cai trị chuyên chế nào muốn chủ nghĩa cá nhân phát triển vì nó đe dọa vị thế độc tôn cá nhân của người đứng đầu. Giới cai trị chuyên chế ưa thích chủ nghĩa dân tộc vì nó giúp tạo ra lợi ích chung trên danh nghĩa và biến mình thành biểu tượng đại diện cho lợi ích chung đó. Nhưng sự mỉa mai là dù chủ nghĩa cá nhân bị xem thường nhưng hình ảnh của các ông vua, bà hoàng, của những người đứng đầu, sáng lập ra các nhà nước chuyên chế lại được phát triển thành những biểu tượng được sùng bái. Cậu khẳng định rằng nơi nào còn tệ sùng bái nhân vật chính trị dù còn sống hay đã chết, nơi đó còn là những quốc gia chưa thoát khỏi Thời đại Kinh tế nông nghiệp. Ví dụ đáng tiếc là Thái Lan, luật pháp bảo vệ để không ai chỉ trích vua nên nhà vua Thái trở thành hình ảnh tuyệt đối hoàn hảo. Các lực lượng bảo thủ lợi dụng hình ảnh đó như một thứ quyền lực tuyệt đối hoàn hảo. Các lực lượng bảo thủ lợi dụng hình ảnh đó như một thứ quyền lực tuyệt đối để chống lại mọi cải cách vì tiến bộ xã hội như trước đây và hiện nay. Vì vậy đất nước Thái Lan không bao giờ có đủ năng lượng xã hội để trở thành quốc gia công nghiệp phát triển, nên dậm chân rất lâu ở bẫy thu nhập trung bình. Một ví dụ khác là TQ. Mao Trạch Đông dù qua đời 40 năm rồi nhưng vẫn không ngừng được đẩy lên để củng cố cho giới cầm quyền hiện nay của TQ, như một người sáng lập sáng suốt và không thể sai lầm. Người dân sùng bái Mao Trạch Đông thì cũng có thể cho rằng cái nhà nước chuyên chế mà ông ta sáng lập sẽ không bao giờ sai lầm. Điều này lại phục vụ cho việc duy trì thể chế chuyên chế đó, chứ chẳng ích gì cho sự tiến bộ xã hội. Một ví dụ nữa rất cần đề cập là Nhật hoàng. Trước Thế chiến II, luật pháp Nhật bảo vệ hình ảnh tôn nghiêm của Nhật hoàng và đàn áp mạnh tay mọi sự chỉ trích đối với ông ta và Hoàng gia. Điều này bị thế lực quân phiệt hiếu chiến lợi dụng triệt để để tạo nên một biểu tượng sùng bái dân tộc, phục vụ cho việc huy động sức dân và phát động chiến tranh cho giấc mộng bành trướng “Đại Đông Á” bệnh hoạn. Hậu quả là sự thất bại thảm hại và khốn cùng của dân Nhật như cậu đã phân tích trong thư 59C. Sau Thế chiến II, luật pháp Nhật đã thay đổi, không còn bảo vệ cho Nhật hoàng và Hoàng gia tránh được sự chỉ trích của dân chúng nữa. Nạn sùng bái (worship) chấm dứt nhưng hầu  hết dân chúng đều kính trọng (revere) Nhật hoàng cho đến tận bây giờ. 1986, chỉ 23 năm sau thảm bại Thế chiến II, Nhật Bản trở thành nền kinh tế thứ 2 thế giới sau Mỹ, bước vào top đầu của những quốc gia công nghiệp phát triển, thịnh vượng, văn minh cho đến tận bây giờ.

8/7

Tụi con sẽ không thấy quốc gia công nghiệp phát triển nào mà còn nạn sùng bái nhân vật chính trị và nền cai trị chuyên chế. Đây là những đặc trưng mà Dòng chảy của Thời đại Kinh tế công nghiệp không chấp nhận, nên những dân tộc còn như vậy sẽ không bao giờ ráp nối vào được dòng chảy này. Tương tự như vậy đối với những đặc trưng khác. Vì vậy việc xác định và hiểu được các đặc trưng của các Thời đại là rất quan trọng để hội nhập (tức ráp nối) hiệu quả với Dòng chảy của Thời đại. Đây là việc mà cậu sẽ tập trung làm tụi con hiểu.

Chúng ta cần nói thêm về sự sùng bái. Sùng bái hay tôn sùng (worship) thần tượng là tính cách phổ biến của con người, nhưng không phải là bản chất tự nhiên. Tính cách này hình thành từ cả chục năm trước, lúc xã hội tù trưởng quốc ra đời. Mọi người tôn sùng thủ lĩnh để duy trì cái chung và trật tự xã hội. Tính cách đó càng phát triển mạnh mẽ trong các xã hội nhà nước nhân trị, đức trị song hành với các tôn giáo độc thần kéo dài mấy ngàn năm trong Thời đại Kinh tế nông nghiệp. Bước vào Thời đại Kinh tế công nghiệp, khoa học phát triển làm cho sự sùng bái cá nhân giảm xuống nhờ con người hiểu được chân lý, giảm niềm tin vào những điều huyễn hoặc. Phần khác nhờ trong Thời đại này, quyền lực tuyệt đối của các nhà nước chuyên chế bị xóa, giảm đi rất nhiều nên khó thể độc tôn ai. Bất kỳ nhân vật chính trị nào đều có thể bị chỉ trích dù có quyền lực lớn tới đâu. Vì vậy mà họ không thể trở thành những biểu tượng sùng bái. Chẳng hạn như ở Mỹ, George Washington được mệnh danh là người cha dân tộc nhưng đến giờ thỉnh thoảng vẫn có những công trình khảo cứu về những vấn đề của ông dù ông mất hơn 200 năm rồi. Cậu từng đọc một quyển sách lý giải rằng vì không thể có sự sùng bái chính trị ở Mỹ nên dân Mỹ phải hướng sang sùng bái các biểu tượng phi chính trị như trong âm nhạc, phim ảnh, … để đáp ứng nhu cầu từ tính cách sùng bái của mình. Nó cũng giải thích các hiện tượng một số tôn giáo mới ra đời nhưng thu hút được nhiều tín đồ vì các giáo chủ biết cách đáp ứng nhu cầu sùng bái cho họ. Tuy nhiên các tôn giáo này cũng nhanh chóng tan rã vì bị phát hiện lừa đảo và phạm pháp.

Trước đây cậu đã viết cho tụi con rằng yêu thích thần tượng là không có gì xấu. Nhưng cần xác định rõ là ngưỡng mộ (admire hoặc revere) chứ không phải là tôn sùng. Khi ta ngưỡng mộ ai, ta học những cái hay của họ nhưng cũng sẵn sàng phê phán những cái xấu của họ và tránh làm theo. Còn khi tôn sùng thì bất chấp hay, dở, cứ cuồng tín làm theo. Đó là một vấn đề lớn phải không? Ở các xã hội văn minh, tụi con sẽ thấy nhiều tín đồ Ki – tô giáo dù rất kính trọng Đức Chúa Jesus nhưng không phải là đồng ý với mọi tín điều của Ngài. Họ vẫn bất đồng và vặn đi vặn lại nhiều điều để nhìn ra những giá trị mới từ đó, chứ không giáo điều làm theo. Ở các xã hội Hồi giáo cực đoan mà làm như vậy với Tiên tri Mohamed thì tiêu rồi, là phạm trọng tội đại nghịch. Vì vậy mà các xã hội này không thể văn minh được.

Cậu phải viết nhiều về tệ sùng bái vì nó không chỉ là hệ quả của cách cai trị chuyên chế mà còn là phương thức của các tập đoàn cai trị chuyên chế để tạo ra các nhà nước đức trị – một đặc trưng rất quan trọng của Thời đại Kinh tế nông nghiệp. Đức trị (Rule of virtue) là vấn đề mà chúng ta sẽ trao đổi trong thư sau.

Thương tụi con.

This entry was posted in Thư Xuyên Mộc. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s