Cuộc chuyển mình vĩ đại (P4) – Ao tù xám Đức Trị – Thư 73A

73a-wpcover

Nghệ An, 11/8/2016

Các con cháu thương!

I/ Phương thức đức trị trì trệ cuộc chuyển mình vĩ đại như thế nào?

Chúng ta tiếp thư 70A về Lý thuyết chuyển mình vĩ đại. Cuối thư đó cậu đã nói rằng sự sùng bái không chỉ là hệ quả của cách cai trị chuyên chế mà còn là phương thức để tạo ra các nhà nước đức trị. Dù ngày nay, chẳng còn nhà nước hay giới cầm quyền nào tự xưng hoặc dám gọi mình là nhà nước đức trị. Nhưng bản chất đức trị vẫn còn tồn tại rất phổ biến trong cách vận hành nhà nước và xã hội của nhiều quốc gia. Sự tồn tại đó là nguyên nhân của sự chậm phát triển và nhiều vấn nạn đạo đức. Một ví dụ mà tụi con dễ thấy là Cộng hòa Nam Phi hiện giờ. Đảng đang cầm quyền ở nước này là Đại hội dân tộc Phi (ANC – African Nation Congress). Họ đang biến lãnh tụ huyền thoại Nelson Mandela thành biểu tượng đạo đức của cả một dân tộc để nhân dân sùng bái nhằm tạo lợi thế cho họ trong những cuộc đua tranh phiếu cử tri. Người dân vì sự ngưỡng mộ (đã biến thành sùng bái) đối với Mandela nên vẫn cứ bỏ phiếu cho ANC bất chấp thực tế của sự yếu kém trong hệ thống quản trị quốc gia, tham nhũng, cửa quyền của quan chức ANC. Thể chế chính trị của Nam Phi hiện nay xem nặng đảng phái hơn QCN nên không tạo ra được thể chế nhà nước pháp quyền để bảo vệ hiệu quả QCN. Nó chỉ bảo vệ cho quyền lực của các đảng phái chính trị như cậu đã phân tích trong thư 43B (đề tài Nhà nước pháp quyền). Một thể chế như vậy sẽ càng khuếch đại nạn bè phái sắc tộc, tôn giáo, tạo điều kiện cho các quy tắc đạo đức được chính quyền ban hành hoặc ủng hộ. Khi đó, phương thức đức trị càng chi phối nhà nước và xã hội, lực lượng chính trị nào có biểu tượng sùng bái cao thì càng có lợi thế. Họ tranh nhau ca ngợi đạo đức và các biểu tượng của mình để thu hút dân chúng. Chẳng mấy ai quan tâm đến những cải cách vì tiến bộ xã hội nên xã hội không đủ năng lượng cho cải cách. Động lực của hầu hết mọi người bị hướng vào bảo vệ màu sắc chủng tộc, bè phái gần hết.tuong Hiểu như vậy tụi con sẽ không ngạc nhiên khi nghe một số tin tức cho rằng Nam Phi đang bị tái diễn nạn phân biệt chủng tộc. Nhưng lần này không phải bằng pháp lý mà bằng đạo lý: người ta ca ngợi, đề cao các đặc tính đạo đức được cho là gắn liền với màu da của chủng tộc. Các quan điểm như vậy lại rất sinh sôi ở xã hội Nam Phi hiện giờ và được giới cầm quyền ủng hộ để thu hút phiếu của người da màu – chủng tộc chiếm đa số ở quốc gia này. Nếu Nam Phi không có một phong trào khai sáng chân lý phát triển thì họ sẽ không có đủ năng lượng xã hội để cải cách hệ thống chính trị mang bản chất đức trị, còn khuya họ mới phát triển tốt đẹp.

15/8

Một tình trạng đức trị khác là ở Ấn Độ. Nó không chỉ tồn tại mấy ngàn năm trong thời phong kiến, thời thuộc địa ở nước này mà cả sau khi giành được độc lập năm 1947. Hơn 10 năm trước, cậu thấy các cuộc tranh cử của họ toàn bằng những cương lĩnh liên quan đến đạo đức, tôn giáo, sắc tộc; các đảng tranh nhau nói và chỉ trích nhau bằng đạo đức, chẳng có mấy sách lược phát triển thiết thực. Các chính trị gia khơi dậy “lợi ích” trước mắt bằng những quan điểm giữ gìn bản sắc chủng tộc mà rất nhiều trong đó là những thói quen lạc hậu. Người dân cũng muốn thế và không biết gì khác để muốn ngoài nỗi sợ thay đổi lấn át động lực thay đổi. Các chính trị gia khuếch đại nỗi sợ hãi này cùng những lời cam kết bảo vệ cử tri chống lại nỗi sợ đó. Vì vậy mà xã hội Ấn Độ chìm trong nghèo đói lạc hậu hơn 50 năm độc lập, chẳng có năng lượng đủ đột phá để biến cải tập tục, khiến cho xã hội Ấn Độ được vận hành bởi những quy tắc đạo lý lạc hậu cản trở phát triển nhưng lại được ủng hộ bởi những quan điểm pháp lý của nhiều chính trị gia mang chất đức trị vốn chiếm đa số trong chính trường nước này. Từ năm 1992 Chính phủ Ấn Độ thúc đẩy cải cách mạnh mẽ và đã gặt hái được những thành công lớn về kinh tế. Tuy nhiên, đến năm 2009, lúc cậu còn ở ngoài cậu vẫn chưa thấy sự biến chuyển trong tập tục đức trị ở Ấn Độ. Họ vẫn thiếu những phong trào khai sáng chân lý phát triển hướng đến pháp trị, pháp quyền. Gần đây Chính phủ mới của Thủ tướng Modi đang tiến hành canh tân mạnh mẽ. Nhưng cậu không đủ thông tin để biết họ có thực sự xây dựng nền tảng phát triển bền vững bằng pháp quyền – thượng tôn QCN không.

Chất đức trị vẫn tồn tại nhiều nước trên thế giới dưới nhiều hình thức nhà nước khác nhau. Cộng hòa lẫn quân chủ với đủ kiểu ý thức hệ, tôn giáo khác nhau. Đây là điều các quốc gia cần quan tâm nếu muốn hòa nhập vào Dòng chảy của thời đại. Ngày xưa đức trị ra đời và gắn liền với hình thức nhà nước quân chủ (monarchy) nhưng ngày nay bản chất của nó vẫn tồn tại và chi phối rất nhiều các nhà nước cộng hòa (republic), làm vô hiệu hóa mục đích dân chủ của các nhà nước này.

II/ Sự hình thành phương thức đức trị.

Phương thức đức trị (rule of virtue) là sự tiếp nối tiến bộ (xét theo trình độ phát triển của giai đoạn lịch sử đầu kinh tế nông nghiệp) của phương thức nhân trị (rule by man) vốn ra đời vào thời hình thành các xã hội tù trưởng quốc. Trước đó, các xã hội nhóm, bộ lạc có quy mô nhỏ chỉ vài chục đến vài trăm người nên chưa có nhu cầu cai quản. Mọi người trong xã hội đều quen biết nhau nên hầu hết đều tự nguyện duy trì trật tự xã hội. Hơn nữa, nhu cầu năng lượng duy nhất lúc đó là lương thực và sưởi ấm được tạo ra bằng cách tự mỗi người, gia đình săn bắn, hái lượm. Không có sự tranh chấp đáng kể trong xã hội. Nên không có nhu cầu cần tổ chức và phân công xã hội. Nhưng khi quy mô xã hội tăng lên hàng ngàn người thì nhu cầu năng lượng tăng lên, con người phải tìm ra phương thức sản xuất mới là chăn nuôi và trồng trọt. Từ đó đòi hỏi phải tổ chức xã hội tốt hơn để bảo vệ và tranh đoạt phương tiện sản xuất (chủ yếu là đất đai tốt) và sản phẩm (chủ yếu là thực phẩm). Vì vậy các cuộc chiến bộ lạc nổ ra, dẫn tới nhu cầu cần trao độc quyền sử dụng bạo lực cho một người đứng đầu xã hội, chính là thủ lĩnh của tù trưởng quốc. Phương thức nhân trị ra đời từ đây. Có thể nói sức mạnh cơ bắp gắn liền với nhân trị. Thời kỳ đầu của phương thức này con người chưa chú trọng phát triển trí tuệ. Điều này vẫn tiếp diễn khi xã hội tù trưởng quốc phát triển thành các nhà nước. Nhưng khi đó trình độ nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt) của con người cũng tiến bộ dần, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất. Từ đó xã hội bắt đầu phát triển văn minh và phức tạp hơn vì nhu cầu và lợi ích của con người đa dạng hơn, tạo nên nhiều cách sống và quan niệm khác nhau, không còn rập khuôn bầy đàn như thời tiền sử. Ý thức đạo đức cũng xuất hiện từ đó kéo theo các xung đột quan điểm về chuẩn mực đạo đức. Nông nghiệp càng phát triển thì càng xung đột quan điểm vì nhu cầu ăn mặc đã thỏa mãn cơ bản, con người hướng nhiều đến nhu cầu tinh thần. Chính sự thúc đẩy để đáp ứng các nhu cầu tinh thần này đã tạo nên cái nôi của nền văn minh nông nghiệp bằng sự phát triển năng lực nông nghiệp cùng với nhiều quan điểm tư tưởng, ý thức hệ, tôn giáo… đa dạng ở các vùng Trung Đông, Bắc Phi, Ấn Độ, Trung Quốc… trong thời cổ đại. TQ là cái nôi nổi bật nhất trong thời này. Không chỉ phát triển về khoa học kỹ thuật phục vụ nông nghiệp, TQ còn là cái nôi của hàng ngàn tư tưởng ra đời vào thời ấy mà đến nay vẫn còn nhiều tư tưởng còn ảnh hưởng trên thế giới. Phong trào “Trăm nhà đua tiếng” từ năm 400 TCN – 200 TCN là một trào lưu tư tưởng đa nguyên có một không hai trong lịch sử TQ mà cho đến nay, hơn hai ngàn năm sau vẫn chưa có lại được. Các tư tưởng đức trị, pháp trị; pháp quyền, thị trường, tiền tệ… đều đã ra đời trong phong trào này, đóng góp nhiều cho thế giới nhưng lại chẳng ảnh hướng mấy đến TQ, trừ đức trị.

III/ Sự thắng thế của quy tắc đức trị mở ra giai đoạn thăng trầm của nền văn minh Trung Hoa

16/8

Phong trào Trăm nhà đua tiếng ra đời trong giai đoạn lịch sử “Chiến quốc” (trước thời Xuân Thu) dưới triều đại Đông Chu của TQ. Vua nhà Chu được tin là Thiên tử đứng đầu các nước chư hầu (vassal state) nhưng không có quyền lực tuyệt đối, cũng không có độc quyền sử dụng vũ lực nên các chư hầu đánh chiếm nhau triền miên hàng trăm năm. Các nước chư hầu là những xã hội nhà nước được tổ chức tốt theo phương thức nhân trị mà đứng đầu các chúa công (lãnh chúa – feudal lord) có độc quyền sử dụng vũ lực trên lãnh địa mà họ cai trị. Họ liên tục cạnh tranh nhau về đất đai, nhân lực và cả những quan điểm tư tưởng. Chính sự cạnh tranh này đã thúc đẩy sự ra đời của “Trăm nhà đua tiếng”, đưa TQ phát triển bỏ xa các khu vực khác trên thế giới cùng thời kỳ. Hơn 2000 năm sau, khi các dân tộc Châu Âu đã phát triển mạnh mẽ nhờ phát minh các tư tưởng quản lý nhà nước và xã hội tiến bộ và áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật thì họ đã rất kinh ngạc khi phát hiện ra rằng dân tộc Trung Hoa đã biết đến và sử dụng những điều đó từ thời Trăm nhà đua tiếng. Nhưng họ còn ngạc nhiên hơn khi thấy các giá trị đó không những không tiếp tục phát triển mà còn bị tàn lụi dần và thui chột. Chúng lụi tàn sau khi Tần Thủy Hoàng đánh dẹp sáu nước chư hầu và thống nhất TQ thành một nhà nước phong kiến tập quyền rộng lớn, rồi nhà Hán tiếp nối nhà nước tập quyền này thiết lập nên nhà nước đức trị thống trị TQ trong khoảng 2000 năm, tiếp nối qua nhiều triều đại.

Vì trình độ quản lý nhà nước và xã hội thời xưa nên các chúa công của các nước chư hầu thời Đông Chu liệt quốc (một tên gọi khác của thời Chiến quốc) càng muốn độc tôn quan điểm tư tưởng. Nhưng họ không thể làm được vì buộc phải cạnh tranh gay gắt giữa các chư hầu và vì tất cả họ đều thần phục nhà Chu. Họ không dám tuyên bố độc quyền quan điểm vì lúc đó sẽ tạo cớ cho các chư hầu khác đoàn kết lại đánh họ trên danh nghĩa của nhà Chu với lý do là trừng phạt kẻ dám vượt mặt Thiên tử. Bài học này cho thấy tầm quan trọng của yếu tố kiểm soát quyền lực nhằm duy trì được quyền tự do tư tưởng. Thếgiới ngày nay vẫn còn đầy rẫy những người vẫn đam mê sự độc quyền tư tưởng và sẽ còn rất lâu đến lúc mà những người như vậy không còn tồn tại, không thể hy vọng vào sự cải sửa niềm đam mê này mà phải dựa vào một sự thiết kế thể chế nhà nước để những người đam mê độc quyền tư tưởng không thể đạt được mong muốn. Vào thời Đông Chu, sự kiểm soát quyền lực được thực hiện bằng cách tổ chức nhà nước theo mô hình Thiên tử – chư hầu đi kèm với việc sử dụng vũ lực làm yếu tố chính để khẳng định sức mạnh. Bạo lực, chiến tranh tràn lan trong suốt thời kỳ này và những thời kỳ trước khiến lòng dân oán than, nảy sinh ra nhu cầu phải chấm dứt nó. Điều này tạo điều kiện cho Tần Thủy Hoàng thống nhất TQ thành một nhà nước duy nhất, xóa mọi quyền lực nhà nước của chư hầu, tập trung quyền lực hết vào Thiên tử – là hoàng đế, người đứng đầu duy nhất của quyền lực thống nhất của nhà nước mới – nơi độc quyền sử dụng bạo lực và độc quyền tuyên bố quan điểm tư tưởng trên toàn lãnh thổ TQ.

17/8

Việc đầu tiên Tần Thủy Hoàng làm sau khi tập quyền là “Đốt sách, giết học trò” – một hành động nổi tiếng và ô nhục cho đến tận ngày nay. Ông ta không chỉ muốn tận diệt mọi tư tưởng khác mình mà còn muốn bóp nát mọi quyền và ý chí tự do tư tưởng của con người. Có lý lẽ biện minh rằng Tần Thủy Hoàng cần làm vậy để chấm dứt những mầm mống xung đột tư tưởng dẫn đến xung đột bạo lực. Chính quyền TQ hiện nay ủng hộ lý lẽ này để giải thích cho sự toàn trị của họ. Nhưng những nhận định phổ biến hơn thì cho rằng Tần Thủy Hoàng quá đam mê sự độc tôn và quyền lực tuyệt đối, “Đốt sách, giết học trò” để thỏa mãn niềm đam mê là chính. Lý lẽ này thuyết phục hơn. Bằng chứng lịch sử rõ ràng là: Tần Thủy Hoàng độc quyền sử dụng bạo lực không để ổn định xã hội mà còn làm xã hội bất ổn hơn. Bạo lực được sử dụng để đàn áp người bị trị, buộc người dân phải phục dịch rất nhiều sở thích quái gỡ của ông ta. Sự độc tôn quan điểm khiến giới trí thức không thể chỉ trích ông ta nên họ tham gia vào các cuộc khởi nghĩa lật đổ nhà Tần. Điều này làm cho giấc mộng tồn tại mãi mãi ngàn đời cho triều đại Tần nhanh chóng tan vỡ cùng với ảo tưởng trường sinh bất tử của Tần Thủy Hoàng. Nhà nước phong kiến tập quyền của Tần là một trong những triều đại ngắn ngủi nhất trong lịch sử TQ, chưa đến 20 năm và kết thúc luôn một thời kỳ lịch sử vẻ vang của dòng họ Doanh (khác với VN mình, các triều đại phong kiến TQ không đặt tên theo họ của vua, mà thường được đặt tên theo địa danh của nơi phát tích dòng họ, theo đặc tính chủng tộc hoặc tôn giáo) kéo dài mấy trăm năm trong suốt thời Xuân Thu Chiến quốc. Điều cần quan tâm đối với các quốc gia ngày nay là: Một khi tồn tại quyền lực tuyệt đối thì không thể kiểm soát được quyền lực nên sẽ không thể có quyền tự do không chỉ về tư tưởng mà còn trong hầu hết lĩnh vực của cuộc sống con người. Đây là một quy luật nên không thể tránh khỏi bất chấp động lực độc tôn xuất phát từ lợi ích cá nhân hay lợi ích cộng đồng. Bài học Tần Thủy Hoàng cho thấy quyền lực tuyệt đối luôn mau chóng tha hóa quyền lực rồi dẫn đến hàng loạt vấn nạn đạo đức. Nó không thể giúp ông ta ngăn cản được bạo lực mà còn làm cho bạo lực tràn lan từ các cuộc khởi nghĩa vũ trang. Chiến tranh vẫn nở rộ như thời Chiến quốc.

dot-sach-chon-hoc-tro

“Đốt sách chôn học trò” – triệt tiêu tư tưởng khác biệt để “ổn định” xã hội sau chiến tranh. Càng gây bất ổn dẫn đến triều Tần sớm suy tàn

Thời đại kinh tế nông nghiệp của TQ bắt đầu từ thời nhà Hạ (thế kỷ 21 TCN đến thế kỷ 16 TCN), sau vùng Trăng lưỡi liềm màu mỡ đến 1300 năm. Nhưng trình độ kinh tế nông nghiệp TQ phát triển nhanh hơn nhờ xã hội đa nguyên hơn mà đỉnh cao là thời kỳ “Trăm nhà đua tiếng”, hỗ trợ cho những tư tưởng nhà nước tiến bộ hơn, khoa học kỹ thuật hiện đại hơn. Điều này làm cho năng suất lao động cao hơn, dẫn đến dân số đông đúc hơn. Nhờ vậy TQ nhanh chóng vươn lên thành cái nôi của nền văn minh nông nghiệp, rực rỡ trên toàn thếgiới. Sự đa nguyên của xã hội thời đó nhờ thể chế nhà nước đa nguyên của Nhà Chu. Thể chếnày có nhiều điểm giống với thể chế quân chủ lập hiến của người Anh sáng tạo ra sau này: vua là biểu tượng thống nhất của lãnh thổ rộng lớn nhưng không tập quyền mà phân quyền. Vua Chu có quyền lực trên danh nghĩa nhưng quyền lực thực tế nằm ở nhiều chư hầu (chứ không phải một). Nếu người TQ thời đó tiếp tục hoàn thiện thể chế này theo hướng quyền cai quản hành chính được tiếp tục phân quyền thấp hơn nữa đến cấp dưới Chúa công chư hầu, đồng thời quyền sử dụng bạo lực được tập trung lên cao cho một thiết chế trung ương được kiểm soát quyền lực do nhà vua làm đại diện thì TQ đã là cái nôi của Thời đại Kinh tế công nghiệp và Châu Á trở thành trung tâm của nền Văn minh công nghiệp, trước và bỏ xa Châu Âu cả ngàn năm. Nhưng dòng lịch sử TQ đã không chảy theo hướng này đổ ra biển lớn mà rẽ vào một cái ao tù xám vĩ đại của đức trị.

khong-tu

Khổng Tử

Tư tưởng đức trị được khai sinh và gắn liền với Khổng Tử – tên thật là Khổng Khâu, sinh khoảng năm 400 TCN (cuối thời Xuân Thu) và lớn lên trong thời Chiến quốc – lúc chiến tranh triền miên. Ông cho rằng nguyên nhân chiến tranh là từ cái gốc của sự hám lợi của con người dẫn đến tranh giành chiếm đoạt lợi ích. Từ đó tạo nên sự bất nghĩa rồi kéo theo những vấn nạn đạo đức. Vì vậy mà ông chủ trương chống cải cách kinh tế vì cho rằng kinh tếthúc đẩy con người hám lợi, hình thành sự tư lợi. Do đó ông cũng đả kích chính sách sở hữu ruộng đất tư nhân mà ông cho là trái lễ. Đồng thời ông chống lại tư tưởng pháp trị vốn đang thắng thế vào thời đó. Pháp trị sơ khai của phái Pháp Gia chủ trương thượng tôn pháp luật, luật pháp bình đẳng như nhau đối với vua quan và dân thường, và chủ trương làm luật rất hà khắc để trừng phạt các hành vi kém đạo đức. Khổng Tử chủ trương dùng đức để giáo dục, dùng lẽ để ràng buộc con người. Chính vì tư tưởng nhân văn này mà ông được kính trọng trong mấy ngàn năm. Tuy nhiên, có sự mâu thuẫn rất lớn trong đạo lý của ông. Khổng Tử không muốn dùng hình phạt hà khắc nhưng chủ trương con người phải phục dịch cho những kẻ cai trị mình và phải xem đó như cái nghĩa thông thường. Ông nói: “Lao tâm giả trị nhân, lao lực giả trị ư nhân. Trị ư nhân giả thực nhân, trị nhân giả thực ư nhân. Thiên hạ chi thông nghĩa dã” (Kẻ lao tâm cai trị người, người lao lực bị người cai trị. Kẻ bị trị phải nuôi người. Kẻ trị người thì được nuôi. Đó là cái nghĩa thông thường của thiên hạ). Rồi ông cố sửa sự bất công này bằng cách dạy người làm quan: “Nhân dân chi lợi nhi lợi chi” (vì lợi ích của dân mà làm lợi cho dân). Nhưng thực tế là con người càng thiếu thốn thì càng dễ làm điều xấu và không cải cách kinh tế thì càng thiếu thốn. Khổng Tử giải quyết mâu thuẫn này bằng quan điểm: “Xa xỉ là không khiêm tốn. Cần kiệm thì cố lâu. Cố lâu còn hơn là không khiêm tốn.” Quan điểm này sau đó đã trở thành quy tắc đạo lý áp chế con người không hưởng lợi nhằm né tránh trách nhiệm đáp ứng nhu cầu ngày một tốt hơn cho nhân dân. Trong thực tế của mấy ngàn năm đức trị TQ, vua quan luôn vô cùng xa xỉ trong khi người dân hầu hết sống trong khốn khó với điều kiện sống rất tối thiểu. Hy vọng vào sự tự sửa đổi đạo đức của tầng lớp cai trị là một điều ảo tưởng, bất chấp mệnh lệnh của những người đứng đầu quyền lực.

Từ các quan điểm như trên, Khổng Tử xây dựng một bộ quy tắc đạo đức hướng dẫn ứng xử cho mọi người theo từng tầng lớp / vị trí khác nhau trong xã hội, phân biệt rõ giới tính; giai cấp; nghề nghiệp… – là những đặc tính quyết định vị thế của con người trong xã hội. Ông cho rằng con người phải hành xử theo những quy tắc đã định sẵn như thế, làm khác đi là thất lễ; thất nghĩa và phải bị dư luận lên án. Đây chính là phương pháp cốt lõi của tư tưởng Khổng Tử: dùng đạo lý áp đặt để điều chỉnh hành vi, suy nghĩ của con người, cũng chính là phương thức đức trị mà sau này được áp đặt bằng luật pháp từ thời nhà Hán.

images

Nhờ vào phương pháp tiếp cận từ dưới mà Khổng Tử đã thành công đem các quy tắc Đức Trị của mình áp đặt lên nước Trung Hoa

Đầu tiên Khổng Tử thuyết phục Thiên tử – vua nhà Chu áp đặt bộ quy tắc đó nhưng thất bại, vừa vì trạng thái xã hội đa nguyên thời đó vừa vì vua Chu cũng không đủ quyền lực để áp đặt lên tất cả xã hội các chư hầu. Rồi Khổng Tử tiếp tục thuyết phục một số chúa công chư hầu nhưng cũng thất bại. Khổng Tử không bỏ cuộc, ông về quê nhà mở trường dạy học, bền bĩ phát triển tư tưởng của mình. Đây là một hành động rất “sáng suốt” dẫn đến thành công rực rỡ sau này. Thất bại thuyết phục từ trên xuống, ông chọn cách phát triển tư tưởng từ dưới lên. Rất nhiều người đã theo ông làm học trò và truyền bá tư tưởng của ông qua nhiều thế hệ, làm nó ăn sâu vào quần chúng tạo nên một Trào lưu tư tưởng phát triển đến tận VN, Nhật, Triều Tiên… Đến giờ vẫn còn người học. Chính quyền TQ trong 10 năm qua đã xây dựng hàng trăm Viện Khổng Tử khắp TQ và đang cố gắng phát triển các Viện này ra nước khác. Tiếc rằng Trào lưu này không đúng quy luật phát triển nên đã không tạo ra được một Dòng chảy tiến bộ, mà tạo nên một cái ao tù chậm tiến, cầm giữ dân tộc Trung Hoa và các dân tộc bị ảnh hưởng đứng ngoài mọi đợt cuộn trào của Thời đại Kinh tế công nghiệp. Đến ngày nay TQ vẫn chưa thoát được. Có Nhật thoát ra vào cuối cuộc Cách mạng công nghiệp 1.0, đầu Cách mạng công nghiệp 2.0. Hàn Quốc thì thoát được vào cuộc cách mạng công nghiệp 3.0. Sự thành công của phương pháp Khổng Tử cũng cho thấy nguyên nhân thất bại của nhiều nhà tư tưởng cùng và sau thời với ông. Trong thư 35A (đề tài Cách mạng suy tưởng) cậu đã phân tích hai trường hợp là Lý Cấu (thời Tống) và Khang Hữu Vi (thời Thanh). Họ không nhìn được sức mạnh từ sự khai phá tư tưởng cho quần chúng. Họ tập trung vận động từ trên xuống vì nghĩ rằng đó là cách thay đổi nhanh nhất. Dù tư tưởng của họ tiến bộ nhưng đều không thành công vì họ bỏ qua một giai đoạn suy tưởng quan trọng của quần chúng. Rất nhiều nhà cách mạng hoặc tư tưởng khác cũng mắc sai lầm tương tự, “xem nhẹ vai trò quần chúng”. Họ nghĩ quần chúng chỉ là lực lượng bị dẫn dắt trong lịch sử. Nhìn cảnh không lâu trước đây các sĩ tử TQ, VN, Hàn Quốc tầm chương học cú từng lời Khổng – Mạnh rập khuôn như cả ngàn năm trước thì tụi con có thể thấy Trào lưu khai phá tư tưởng bằng dạy học của Khổng Tử ghê gớm đến thế nào.

19/8

mac-tu

Mặc Gia

Tư tưởng Khổng Tử không thành công lúc sinh thời của ông vì nó bị cạnh tranh mạnh mẽ, bị chỉ trích kịch liệt. Phái Pháp gia (chủ trương pháp trị) phê phán bài bản phương thức đức trị của Khổng Tử, cho rằng nó không thực tế; làm cho xã hội chậm tiến vì không đáp ứng được sự phát triển của các nhu cầu vật chất cho con người. Quan điểm chống tư hữu ruộng đất của Khổng Tử bị công kích mạnh mẽ. Lịch sử đã cho thấy là Pháp gia đúng. Quyển “Tại sao các quốc gia thất bại” (Nguyên bản: “Why nations fail”, bản tiếng Việt của Nhà xuất bản trẻ – 2013) đã kết luận: các thể chế chiếm đoạt có đặc trưng là không công nhận sở hữu ruộng đất tư nhân để giới quyền thế có thể dùng danh nghĩa nhà nước để chiếm đoạt đất đai. Chiếm đoạt là một đặc trưng cơ bản của Thời đại Kinh tế nông nghiệp mà chúng ta sẽ nghiên cứu sâu về nó ở những phần sau. Phái Mặc Gia thì phê phán Nho Gia (Tên Nho Gia đã có từ trước thời Khổng Tử, nhưng học phái Nho gia do ông sáng lập đã lấn át và thay thế luôn tên Nho gia cũ. Phái Mặc gia do Mặc Tử sáng lập. Mặc Tử là nhà khoa học nghiên cứu cả toán học, vật lý, y học, logic học…) rẳng đức trị quá tốn kém cho lễ phí khiến cho quốc gia càng nghèo khó hơn, mà lại không khuyến khích phát triển kinh tế. Tư tưởng Mặc gia rất tiến bộ, chủ trương gia tăng sản xuất và năng suất lao động, khuyến khích tiết kiệm nên không cần nhiều đất đai. Nhờ vậy mà không cần bành trướng lãnh thổ nên sẽ giảm trừ được chiến tranh. Nhìn vào sự lãng phí, hủy hoại môi trường và nền kinh tế năng suất thấp của TQ hiện nay và tham vọng xâm chiếm lãnh thổ của họ, ta thấy Mặc gia đã nhìn xa như thế nào. Khi phải cạnh tranh tự do, Nho gia không có cơ hội thành công. Lý do gốc là nó đi ngược lại quy luật, nhất là chống lại bản chất hướng lợi tự nhiên của con người. Nhưng vì chiến tranh loạn lạc và sự suy đồi đạo đức, nó thu hút được không ít người xem đạo lý của nó như một tôn giáo hướng thiện đạo đức cho con người và giúp họ quên đi những bất công và khốn cùng, tăng sức chịu đựng. Đây là động lực chính giúp tư tưởng Khổng Tử tồn tại sau khi ông mất để 200 năm sau bước vào chính trường, trở thành phương tiện của giới quyền thế cai trị và duy trì quyền lợi cho mình.

manh-tu

Mạnh Tử

 Mạnh Tử (390 – 305 TCN) tên thật là Mạnh Kha, là học trò kế tục xuất sắc nhất của Khổng Tử. Mạnh Tử tận dụng động lực của người dân xem tư tưởng Khổng Tử như một tôn giáo để phát triển Nho gia đậm chất tôn giáo, nên sau này nó còn được gọi là Nho giáo mà tín đồ là các Nho sĩ. Mạnh Tử cho rằng số mệnh con người là do Trời quyết định, Vua là Thiên tử (con trời) nên phải do Trời chọn. Mọi vận động của xã hội đều thuận theo số mệnh định sẵn nên con người phải sống theo những đạo lý định sẵn được Khổng Tử đã chỉ ra theo từng vị trí của họ trong xã hội. Những người bất hạnh tìm được chỗ dựa tinh thần từ giáo điều này để trấn an mình, tăng sức chịu đựng bất công mà không phản kháng. Mạnh Tử cũng nỗ lực đưa Nho giáo vào chính trường. Ông đề nghị chính sách “Thượng hiền” tức là trọng người tài đức – một chủ trương được ca ngợi đến tận bây giờ. Ông kêu gọi vua cần sử dụng hiền tài để hoàn thành “Nhân chính” (nghĩa là xem trọng dân). Phát biểu nổi tiếng của Mạnh Tử là: “Dân vì quý. Xã tắc thứ chi. Quân vi khinh” (Dân mới quý. Đất nước là kế tiếp. Vua thì xem nhẹ). Thời đó dân nghe câu này thì quả là mát lòng mát dạ nên tôn sùng Mạnh Tử cũng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên trên thực tế nó chỉ được sử dụng như một chiêu bài mị dân. Khổng – Mạnh muốn vua nâng vai trò và vị thế của dân nhưng lại áp đặt quy tắc: “Phải vâng sợ Trời. Mà vua là đại diện của Trời và quan là đại diện của vua. Do đó dân phải vâng lời vua quan”. Đây là sự mâu thuẫn lý luận ngay từ gốc và hoàn toàn bế tắc. Mâu thuẫn này vẫn còn nguyên trong những lý luận của các chính quyền còn di chứng đức trị ngày nay. Ví dụ như chính quyền TQ hiện nay. Họ lý luận rằng đảng cầm quyền của họ không có lợi ích gì khác ngoài lợi ích của dân. Nên đảng được thượng tôn tức là dân được thượng tôn. Không biết Mạnh Tử có biết sau này phương pháp của ông được áp dụng như thế không. Mong muốn tốt thôi không đủ, cần có giải pháp đúng.

tuan-tu

Tuân Tử

Nhưng Mạnh Tử cũng không thành công trong việc đưa tư tưởng Khổng Tử vào chính trường. Sinh thời của Mạnh Tử vẫn diễn ra sự cạnh tranh gay gắt bởi nhiều tư tưởng tiến bộ của “Trăm nhà đua tiếng”. Người đặt được nền tảng chính trị cho Nho giáo là Tuân Tử – một Nho sĩ tích cực hoạt động học thuật trong những năm 290 TCN đến 230 TCN. Ông ta nhận ra rằng phải tạo được lợi ích cho giai cấp cai trị từ Nho giáo thay vì chỉ nói về lợi ích của người dân bị trị. Tuân Tử cải cách lễ của Nho giáo, biến những quy tắc đạo lý của Khổng Mạnh thành tiêu chuẩn lễ nghĩa của tầng lớp thống trị. Tuân Tử kết hợp giữa quan điểm giáo dục của Nho giáo với quan điểm trừng phạt (Tuân Tử cho rằng bản chất con người vốn ác nên giáo dục thôi không đủ. Trái ngược với Mạnh Tử cho rằng bản chất người vốn thiện nên không cần trừng phạt. Cả 2 quan điểm này đều không thực tế & quy luật) của tư tưởng pháp trị vốn đã giúp cho nước chư hầu Tần rất thành công và trở thành chư hầu hùng mạnh nhất thời đó. Phương thức pháp trị đó rất thành công nhưng lại không được lòng dân vì quá hà khắc. Đây là một chiến lược rất khôn ngoan của Tuân Tử, vừa đáp ứng nhu cầu của giới quyền thế, vừa tạo ra sự hy vọng cho người dân bị thống trị. Lý Tư (mất 208 TCN, không rõ năm sinh) là một học trò của Tuân Tử, đồng thời cũng là người thực thi triệt để phương thức pháp trị của Pháp gia. Chính Lý Tư đã phát triển chiến lược của Tuân Tử thành kế sách giúp cho Doanh Chính đánh dẹp 6 nước chư hầu, thống nhất TQ và trở thành hoàng đế Tần Thủy Hoàng. Lý Tư thu hút lòng dân ở khắp các chư hầu bằng cách tạo ra niềm tin rằng nếu họ ủng hộ nước Tần sử dụng quân sự chinh phục các chư hầu khác thì nhà Tần sẽ khoan dung nhân ai như đạo lý Nho giáo. Không còn chiến tranh bạo lực và những hình phạt hà khắc. Nhưng niềm hy vọng này đã không xảy ra, Tần Thủy Hoàng còn bạo lực và hà khắc hơn trước nhiều. Đạo đức vua quan càng tệ hơn vì núp dựa vào quyền lực tuyệt đối của hoàng đế. Các lễ giáo đạo đức của Khổng – Mạnh được Tuân Tử và Lý Tư khéo léo cài đặt vào các quy tắc hành xử của quan lại đã chẳng để lại dấu ấn gì làm xã hội tốt đẹp hơn. Nhà Tần cũng nhanh chóng bị Hạng Vũ tiêu diệt.

Rồi Lưu Bang đánh bại Hạng Vũ, lập nên nhà Hán. Hán Cao Tổ (tức Lưu Bang) lại tiếp tục những cuộc chiến dẹp loạn và trừ họa công thần, tiếp tục tư tưởng nhà nước tập quyền của Tần Thủy Hoàng và cũng không có được giải pháp gì giải quyết hiệu quả các vấn đề đã tồn tại lâu đời trong xã hội. Vì vậy xã hội TQ đầu thời Tây Hán (khoảng 200 TCN) vẫn loạn lạc và bất ổn. Đến khi Hán Vũ Đế lên ngôi, nhờ nghe theo chủ trương “Thanh tịnh vô vi” của Hoàng Lão nên đã làm cho TQ phát triển sau một thời kỳ dài ì ạch. Hán Vũ Đế nhờ vậy cũng trở thành một hoàng đế lừng lẫy trong lịch sử TQ. “Thanh tịnh vô vi” được phát triển từ tư tưởng “vô vi” của Lão Tử – một tư tưởng pháp quyền sơ khai, chủ trương không cần trị dân mà phải tạo điều kiện để dân tự giàu, tự chất phát và rèn luyện đạo đức theo đạo. Khái niệm “đạo” của Lão Tử chính là quy luật tự nhiên đã được hình thành từ lúc, cùng lúc với sanh ra trời đất, chứ không phải là tôn giáo, cũng không phải là ý trời. Nhưng lịch sử TQ một lần nữa đã đánh mất một cơ may phát triển tốt đẹp theo quy luật. Sau thời Hán Vũ Đế, giới vua quan thấy dân tự giàu, tự tốt được thì mình mất nhiều quá, chẳng có quyền hành nhiều để ràng buộc và cai trị họ. Xu hướng tốt đẹp mới nhen nhóm đã bị đảo ngược.

Đổng Trọng Thư (179 TCN – 104 TCN) có lẽ là người đại diện xuất sắc nhất về tư tưởng cho giai cấp cai trị nhà Hán sau thời Hán Vũ Đế. Thấy được nhu cầu nói trên của giai cấp này và bài học thành công của Lý Tư trước đây, Đổng Trọng Thư cải tiến Nho giáo kết hợp tư tưởng Pháp gia và Âm dương gia. Âm dương gia là một học thuyết mê tín và phản khoa học do Trân Diễn (còn gọi là Diễn nói lông bông) sáng lập, khiến dân tin vào thiên mệnh. Đổng Trọng Thư cho rằng Trời có quyền này sáng tạo và quyết định mọi người, mọi vật. Vì vậy ông ta chủ trương “Trời người hợp nhất”, tất cả đều ứng hết vào Thiên tử / Hoàng đế vừa đại diện cho Trời vừa đại diện cho dân. Ông ta cũng chủ trương thống nhất và áp đặt tư tưởng giống như cách mà Lý Tư đã đưa ra cho Tần Thủy Hoàng. Ông ta áp dụng những quy tắc đạo lý của Khổng – Mạnh để xây dựng nên các bộ “Tam cương lục kỷ”, “Tam cương ngũ thường” (Tam cương là 3 mối quan hệ vua – tôi, cha – con, vợ – chồng, lục kỷ gồm những người ngang hàng với mẹ, thầy, bạn; ngũ thường là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín). Hoàng đế phê chuẩn các bộ quy tắc này biến chúng thành vừa là đạo trời vừa là pháp luật. Phương thức đức trị chính thức lên ngôi ở TQ và tồn tại gần 2000 năm sau đó một cách chính thống, xác lập nên 4 loại quyền lực (thần quyền, chính quyền, độc quyền và phu quyền) kèm cặp, đè nén xã hội và con người TQ trong suốt một giai đoạn lịch sử dài thăm thẳm. Nho giáo trở thành một thứ hiến pháp không thành văn, mọi người ê a mà chẳng hiểu. Đổng Trọng Thư thành công nhờ thủ đoạn thu phục lòng dân bằng cách kết hợp khát khao của con người về một lý tưởng nhân văn với sự mê tín vào thiên mệnh. Sự thành công đó khiến cho người dân không dám đòi hỏi quyền lợi vì sợ bị lên án là bất nghĩa, thất lễ bởi dư luận của đạo lý, thậm chí có thể bị trừng phạt bởi pháp lý. Điều này đáp ứng tốt nhu cầu cho giai cấp thống trị: không biết và cũng không muốn đáp ứng lợi ích ngày càng tăng cho con người và xã hội trừ chính họ. Xã hội đức trị bình ổn trên bề mặt, dân sống ở mức tối thiểu và đầy thiếu thốn nhưng không dám ca thán sự xa xỉ của vua quan vì cho rằng đó là do Trời định. Ca thán Trời còn bị trừng phạt khốn khổ hơn nữa. Các triều đại đức trị TQ tồn tại hàng ngàn năm cùng với sự hủ bại của vua quan. Với cậu và theo những lẽ phải về QCN, không có gì thâm độc và đáng lên án hơn như vậy cả. Khổng – Mạnh được ca ngợi và tôn sùng suốt mấy ngàn năm vì tư tưởng của họ đã phục vụ tốt cho lợi ích của vua quan mặc dù tâm nguyện của họ muốn làm lợi cho dân khi phát triển tư tưởng của mình. Lợi ích của nhân dân luôn chỉ là cái vỏ bọc danh nghĩa cho lợi ích vua quan và giới quyền thế chừng nào mà bản chất đức trị vẫn còn ngự trị nhà nước và xã hội TQ.

IV/ Đức trị tồn tại không chỉ ở Trung Quốc

20/8

Người dân trong các xã hội đức trị không biết và không dám bảo vệ quyền lợi cho chính mình vì việc đó bị xem là hành động xấu xa. Chỉ đến khi nào họ quá thống khổ thì mới cầm vũ khí theo lời kêu gọi của giới quyền thế mới, lật đổ triều đại cũ lập nên triều đại mới. Khoan thư được một thời gian ngắn, các triều đại mới này lại tước đoạt để ăn chơi xa xỉ. Quyền lợi của dân chẳng có gì thay đổi nên của cải trong xã hội không thể gia tăng, mà nhu cầu của giới quyền thế không ngừng tăng. Vì vậy dùng quyền lực để tước đoạt công sức của cải của dân là điều đương nhiên, tất yếu không thể tránh khỏi cái vòng lẩn quẩn.

Không chỉ ở TQ và Đông Á, phương thức đức trị và hệ quả tước đoạt tồn tại khắp nơi trên thế giới trong Thời đại kinh tế nông nghiệp dưới nhiều hình thức và tên gọi khác nhau. Ở Châu Âu, Thời đại kinh tế nông nghiệp đến sau TQ nên phương thức đức trị cũng ra đời muộn hơn. Đỉnh cao của nó là thời phong kiến thần quyền, xác lập nên 4 loại quyền lực là thần quyền, chính quyền, độc quyền và tăng lữ quyền. Giáo sĩ Châu Âu thời đó là một tầng lớp độc quyền chi phối xã hội và chiếm đoạt của cải của xã hội, tương tự như phu quyền ở TQ. Người đàn ông TQ trong thời đức trị Nho giáo ăn trên ngồi trước, xem phụ nữ như những công cụ phục dịch. Lời Khổng – Mạnh có cậu: “huynh đệ như thủ túc, thê tử như y vũ” (anh em như tay chân, vợ như quần áo). Ý nói quần áo rách có thể bỏ nhưng tay chân thì không thể). Những câu như vậy mà bây giờ vẫn còn người sử dụng. Đức trị ở Châu Âu cũng không thiếu những giáo điều bệnh hoạn nhưng đức trị TQ vẫn nổi bật nhất, tồn tại rất dai dẳng cùng với sự lạc hậu cho đến tận ngày nay.

Phải nhìn vào bản chất của cách thức quản lý nhà nước và xã hội để thấy nó còn di chứng đức trị không, chứng không phải vào cái tên gọi hoặc cái khẩu hiệu mục đích tốt đẹp của chính quyền. Bất kỳ cách thức nào mà dùng quyền lực hoặc cưỡng ép bằng bạo lực nhằm áp đặt hoặc gây ảnh hưởng lên đạo lý của xã hội đều là phương thức đức trị. Đây là định nghĩa của cậu về đức trị. Tụi con thấy là nó không gắn với những mục tiêu, lý tưởng cao đẹp để phân biệt sự áp đặt, cưỡng ép nào là đúng đắn. Đức trị là một sai lầm huyền thoại (myth) vĩ đại của lịch sử loài người. Hướng đến đạo đức cao đẹp là khát vọng của con người từ ngàn xưa và mãi mãi. Nhưng đạo đức là một khái niệm không bất biến mà thay đổi và cần thay đổi theo sự vận động của xã hội loài người. Phải có sự vận động thì quan niệm đạo đức mới dần tốt đẹp hơn. Các tiêu chuẩn đạo đức xơ cứng chính là mầm mống của những cái xấu xa lạc hậu nhưng lại được nhân danh điều tốt đẹp. Quyển sách: “Thế giới cho tới ngày hôm qua” (“The world until yesterday” – Bản tiếng Việt của Alphabooks, NXB Thế giới – 2015) chỉ ra rằng vẫn còn không ít nơi trên thế giới mà đạo lý “giết người trả thù” vẫn còn là quan niệm đạo đức cao cả, ai không làm được là thấp hèn. Và đó là những nơi lạc hậu nhất thế giới vì tự cô lập mình với thế giới bên ngoài, xã hội gần như bất động nên giữ nguyên các tập tục thời bộ lạc hoặc tù trưởng quốc. Ngày xưa nhiều cái tưởng là cao đẹp nhưng giờ lại rất man rợ. Có những cái ngày xưa bị xem là tội lỗi, chẳng hạn như chiếc váy ngắn, thì giờ được xem là mỹ thuật. Chỉ khi xã hội vận động tự do thì Quy luật phát triển xã hội mới tự nhiên xác lập các quy tắc đạo trị tự nguyện hướng con người đến sự tiến bộ và đào thải sự lạc hậu (Cậu đã phân tích điều này trong đề tài Cơ chế xã hội khoa học). Người bảo thủ, giáo điều thì ở đâu và đời nào cũng có. Họ thường có khuynh hướng tìm đến quyền lực hoặc sẵn sàng sử dụng bạo lực (nếu thấy không gặp phải rủi ro) để bảo vệ các giá trị mà họ cho là đạo đức. Vì vậy họ cũng là những người nhiệt thành ủng hộ phương thức đức trị. Ngay ở nước Mỹ vào cuối thế kỷ 20, tại một bang, những người bảo thủ giáo điều đã vận động thành công để ban hành luật của bang cấm dạy Thuyết tiến hóa Darwin và Thuyết vũ trụ Big Bang trong trường học. Họ cho rằng làm như vậy để bảo vệ đạo đức trong sáng của Ki – tô giáo. Nhưng nước Mỹ với thể chế nhà nước pháp quyền được thiết kế khoa học. Tòa án Liên bang cuối cùng đã bác bỏ đạo luật trên của bang đó vì nó đi ngược lại với Hiến pháp Liên bang. Giấc mộng đức trị của những người mê muội giáo điều nhanh chóng vỡ mộng.

21/8

Khi phương thức đức trị kết hợp với chủ nghĩa dân tộc, nó tạo ra những nguyên tắc đạo lý rối rắm, mơ hồ, mông lung. Đạo đức “yêu nước thương dân” bị biến thành yêu vua, yêu chế độ” bất chấp sự thối nát. Hẳn là tụi con đã vài lần nghe thấy lời thể hiện lòng trung thành yêu nước và đạo làm quan làm tôi của các Nho sĩ: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Trong lịch sử đã có rất nhiều người sẵn sàng chết oan để giữ được thanh danh là trọng hiếu. Nhưng thực ra họ là những người mắc lỗi lớn với nhân loại vì đã hy sinh chính bản thân mình để công lý bị chôn vùi. Những người biết dùng cái chết để bảo vệ công lý thì thật là hiếm hoi. Nhưng tất cả họ đều không có tội. Cái tội thuộc về những kẻ nắm quyền và sử dụng các phương tiện cai trị chỉ làm lợi cho mình. Phương thức đức trị và chủ nghĩa dân tộc giúp cho những kẻ này che giấu được đặc quyền đặc lợi cho họ trên danh nghĩa lợi ích dân tộc. Điều đáng lo ngại là người dân khi chưa được khai sáng chân lý phát triển sẽ luôn bị che mắt bởi các danh nghĩa này nên nhầm tưởng, dẫn đến ủng hộ những kẻ đó và tạo ra những động lực và năng lượng xã hội mạnh chống sự đổi mới. Đáng chú ý hơn nữa là những người dân như vậy lại chiếm đa số trong các xã hội lạc hậu. Vì vậy vai trò của những phong trào khai sáng vô cùng quan trọng. Không có động lực và năng lượng thay đổi thì không có thay đổi. Thay đổi bằng động lực, năng lượng cũ thì chỉ là bình mới rượu cũ. Đây là tình trạng, còn phổ biến hiện nay tại các quốc gia không còn thể chế nhà nước phong kiến nhưng chất đức trị vẫn còn chi phối nhà nước và xã hội. Họ thay đổi các hình thức cộng hòa với đủ thứ kiểu mô hình và tên gọi khác nhau và cũng đề cao dân chủ nhưng vẫn đặt sệt bản chất đức trị. Lúc Chavez còn làm tổng thống Venezuela, mỗi tuần ông ta xuất hiện trên truyền hình rao giảng đạo đức một lần và còn in ra hàng triệu CD, VCD phát không cho dân chúng. Giờ đây nước này đang rơi vào thiếu thốn, khủng hoảng tồi tệ nhất thế giới thì những lời rao giảng đạo đức cao đẹp này được tổng thống Maduro – người kế nhiệm ông ta dùng để trấn an người dân, không biết còn người nào thấy các đĩa CD ấy có thể thay được cho thực phẩm. Thời sự tuần trước đưa tin nhiều người Venezuela giờ chết không đủ tiền mua hòm, phải dùng thùng carton thay thế.

22/8

Vẫn còn nhiều nước còn mang di chứng đức trị, đã và sẽ lãnh hậu quả. Rõ ràng nhất là họ không thể hòa nhập được vào Dòng chảy của Thời đại, không thể trở thành nước công nghiệp chứ đừng nói là tham gia vào nền kinh tế tri thức. Lý do là khi mà chất đức trị còn chi phối sự vận hành xã hội thì không thể xây dựng được các nhà nước pháp trị, pháp quyền – là những đòi hỏi tiên quyết, là đặc trưng quan trọng của các Thời đại kinh tế công nghiệp, kinh tế tri thức. Vì vậy mà cậu phân tích nhiều về phương thức đức trị, động lực hình thành cùng với bản chất của nó. Xét về mặt tiến triển của lịch sử, đức trị là một sự tiến bộ so với nhân trị vốn phụ thuộc hoàn toàn vào ý muốn chủ quan của kẻ cầm quyền. Đức trị đặt ra những giới hạn nhất định đối với những ý muốn đó bằng các tiêu chuẩn đạo đức. Nhờ vậy nó cũng giảm được phần nào sự tùy tiện của giới quyền thế và sự xung đột xã hội. Tuy nhiên, vì các tiêu chuẩn đó được áp đặt cứng bằng quyền lực và pháp luật nên chúng làm cho đạo lý xã hội bị xơ cứng, đồng nghĩa với nhận thức của con người bị dậm chân tại chỗ. Trong một thế giới mà tất cả nhân loại đều ở trong cùng một trạng thái xã hội như vậy thì có thể mọi người không thấy vấn đề gì lớn. Nhưng khi có một số xã hội nhận ra vấn đề và thay đổi nhận thức phù hợp hơn với Chân lý phát triển đên đã bức phá vượt lên trước, thì những xã hội khác sẽ gặp vấn đề cực lớn, sự xơ xứng đạo lý – vẫn giữ những thói quen, tập tục cũ – lại trở thành nguyên nhân chính của sự lạc hậu mọi mặt, cả về sự thịnh vượng lẫn văn minh. Trình độ quản lý xã hội của nhân loại đã và đang phát triển rất nhanh, nơi nào vẫn còn sử dụng phương thức theo trình độ cũ thì cũng chẳng khác gì việc người ta đã có máy bay mà mình thì vẫn lộc cộc với chiếc xe ngựa. Châu Âu sau thời Trung đại đã nhanh chóng chuyển từ đức trị sang pháp trị nên đã bức phá, trong khi đó TQ vẫn say đắm trong đức trị nên đã bị bỏ lại lạc hậu đến thế nào thì lịch sử đã chứng minh hùng hồn. Giờ đây nhân loại đang chuyển nhanh theo pháp quyền còn TQ thì mang nặng tàn dư của đức trị trong một Nhà nước được tuyên bố là pháp trị. Ông Tập Cận Bình năm ngoái cam kết rằng sẽ trị quốc bằng pháp luật. Điều này chứng tỏ lâu nay đất nước TQ không được quản trị bằng pháp luật. Nhưng dù ông ta có làm được thì TQ vẫn quá chậm so với Dòng chảy của Thời đại kinh tế tri thức – pháp quyền của nhân loại hiện nay. Cậu lại không tin gì vào khả năng thành công của ông ta vì cách thức của ông ta vẫn mang nặng chất đức trị. Người ta nói nhiều về sự trỗi dậy và vị thế thống trị của TQ không xa nữa. Dù cậu tin vào tương lai xán lạn của dân tộc Trung Hoa nhưng cậu khẳng định rằng họ không thể hoàn thành được điều này bằng cách thức như hiện tại. Vì đơn giản, nó đi ngược lại Quy luật phát triển xã hội – Chân lý phát triển.

25/8

Ở những nước Đông Á khác, nơi bị làm thuộc địa của các nước Châu Âu trong thời cận đại, nạn đức trị không chỉ bị ảnh hưởng bởi TQ mà còn tiếp thu nhiều cách thức quý tộc trị từ Châu Âu. Cậu quan sát thấy ở các xã hội thuộc địa, người ta hấp thụ rất nhanh những cái xấu còn lạc hậu của giới quyền thế thực dân, còn những cái tốt văn minh thì giao thoa rất ì ạch. Nguyên nhân của điều này không khó hiểu: Người ta tiếp nhận nhanh những gì theo quán tính của tập quán cũ. Vì vậy mà chất đức trị ở các nước Đông Á từng là thuộc địa có phần còn phức tạp hơn cả ở TQ. Nhà tư tưởng, học giả lớn của Pháp – Alexis De Tocqueville đã viết về chất đức trị ở Châu Âu như sau:

“Khi thế giới này được dẫn dắt bởi một thiểu số người có thế lực và giàu có. Những người này thích tạo ra một tư tưởng cao sang về nghĩa vụ của con người. Họ thích dạy dỗ thiên hạ rằng quên thân mình là vinh quang, và con người cần phải làm những điều tốt đẹp mà không vụ lợi, như Chúa Trời đã làm. Đó là học thuyết chính thống của thời đại ấy” (Trích trang 587 quyển “Nền dân trị Mỹ”, Nhà xuất bản Tri Thức – 2016)

28/8

Vì vậy tụi con cần tỉnh táo. Nhiều thứ nghe rất cao thượng nhưng chẳng thực sự tốt đẹp vì không có lợi ích gì. Ngược lại còn rất tai hại cho cả nhân loại. Chính đức trị kết hợp với chủ nghĩa dân tộc cực đoan đã gây ra thảm họa Đại thế chiến II. Thư tới chúng ta sẽ tìm hiểu sâu về vấn nạn này của đức trị. Đây cũng là dịp để tụi con hiểu hơn về xã hội Nhật trước và sau Cuộc chuyển mình vĩ đại Duy Tân Minh Trị.

Đề tài này còn dài lắm. Hành trình của chúng ta chỉ mới ở quá khứ thôi, chưa đi tới hiện tại. Còn phải du hành đến tương lai nữa . Tụi con chuẩn bị năng lượng để đi cho hết nha, không thì mắc kẹt luôn ở quá khứ đó.

Thương tụi con.

This entry was posted in Thư Trại 6 and tagged , , , , , . Bookmark the permalink.

One Response to Cuộc chuyển mình vĩ đại (P4) – Ao tù xám Đức Trị – Thư 73A

  1. Anonymous says:

    Cám ơn anh THDT đã có những bài viết rất hay và đầy tri thức, mặc dù anh vẫn còn phải chịu cảnh tù đày bất công. Chúc anh luôn khỏe và mau chóng được thả tự do, để có thể cùng sát cánh với người dân Việt Nam đấu tranh chống lại cường quyền.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s